Ngày tháng: 25/06/2024
Đang truy cập: 16

Hành Trình Tâm Linh Như Đi Tìm Trâu - Phần 1/2 - Phan Tấn Thành

Hành Trình Tâm Linh Như Đi Tìm Trâu - Phần 1/2

Phan Tấn Thành

› ® ¬ ® š

     Có lẽ khi bàn về đời sống tâm linh, không ai nghĩ đến con trâu. Con trâu là con vật dùng để đi cày ruộng, chứ không phải để “thăng thiên”. Tuy vậy, truyền thống của Thiền tông đã mô tả hành trình tâm linh như là cuộc “tìm trâu” qua những bức tranh nổi tiếng được thiền sư Suzuki phổ biến sang Tây phương. Những bức tranh này có thể được giải thích theo chiều hướng tâm-không hoặc theo chiều hướng Kitô-giáo [1]. Đây là điều mà chúng tôi muốn trình bày khi so sánh những chặng đường của thiền đạo với hành trình huyền bí Kitô giáo.

     I. Truyền thống thiền đạo

     Có ba lưu truyền về các bức tranh tìm trâu được đặt tên là: 1/ “trâu tiệm hóa” của Fumyo (Phổ Minh, thế kỷ XI). 2/ “Mười hình con trâu” của Kakuan (Hán: Quách Am, thế kỷ XII). 3/ “Con trâu trắng” gán cho Kyotetsu, người đã đề bài thơ bên cạnh bức tranh (thế kỷ XVII). Chúng ta hãy tìm hiểu nội dung của các bức tranh, rồi sau đó so sánh với Kitô giáo. Mỗi tác giả trình bày một quan điểm khác nhau về tiến trình.

     A.Trâu tiệm hóa” của Fumyo (Phổ Minh)

     Ông muốn trình bày sự tiến triển của linh hồn trải qua 10 chặng. Lúc đầu con trâu màu đen, dần dần biến thành trắng, và sau cùng biến mất. Khi mới bắt đầu, thì cái tâm còn vương mắc nhiều tính xấu, dơ nhớp bẩn thỉu như con trâu đen, nhưng từ chặng thứ 8 thì trở nên trắng, để đạt đến sự hoàn hảo khi hoà đồng với cái Ngã tuyệt đối.

1) Con trâu sổng, thoát chạy vào rừng. Một đám mây đen phủ trên rặng núi, và có nguy cơ hủy hoại cả cánh đồng.

2) Mục đồng đi bắt trâu về, cột dây vào mũi, dùng roi quất mỗi khi nó cưỡng lại không chịu về nhà. Mục đồng phải dùng sức lực để trị con trâu cứng đầu.

3) Dần dần con trâu trở nên thuần thục (đầu nó đổi thành trắng), không chạy lăng xăng nữa. Nó để cho mục đồng dắt đi qua suối qua đồi. Tuy vậy, mục đồng không thả dây trói con trâu.

 4) Sau nhiều cuộc huấn luyện, con trâu bắt đầu quay đầu hướng về mục đồng. Tính hung hăng của nó đã giảm bớt. Nhưng mục đồng vẫn chưa tin tưởng nó. Anh ta buộc dây vào một thân cây.

 5) Dưới bóng cây liễu bên cạnh dòng nước, con trâu thong dong đi đi lại lại. Đến khi ngả bóng chiều, mục đồng về nhà, con trâu cũng đi theo anh ta, không còn bị cưỡng bách nữa.

 6) Từ đây, con trâu hoàn toàn biến đổi màu (từ đen sang trắng). Con trâu nằm nghỉ trên bãi cỏ, không còn bị trói buộc nữa. Mục đồng ngồi dưới cây thông, sung sướng đem cây sáo ra thổi.

 7) Mặt trời xuống thấp gần mặt nước. Mục đồng đánh một giấc trên bãi cỏ. Con trâu được ăn cỏ và uống nước thoả thuê.

 8) Con trâu trắng đứng trước đám mây trắng. Mục đồng cảm thấy an tĩnh thoải mái. Mặt trăng đã nhô lên sau đám mây trắng, toả bóng trắng lên đám mây. Thế rồi trăng lìa đám mây, đi về hướng tây, mây bay về hướng đông, mỗi bên đi về hướng của mình.

 9) Con trâu biến mất. Mục đồng thấy thong dong. Dưới ánh trăng, anh ta vỗ tay ca hát.

10) Cả con trâu lẫn mục đồng đều biến mất, không để lại dấu vết tích gì nữa. Ánh trăng chiếu toả trên không trung.

B. Mười bức tranh của Kakuan (Quách Am)

     Khác với Fumyo chú trọng đến tình trạng nhơ nhớp của tâm hồn và cần được thanh luyện (từ đen sang trắng), ông Kakuan (Quách Am) không quan tâm đến màu sắc của con trâu (luôn luôn trắng) cho bằng việc đi tìm con trâu. Con trâu tượng trưng cho Phật tính mà ta phải đi tìm. Nhưng đồng thời, không dễ gì mà bắt được trâu bởi vì nó ương ngạnh lắm.

     Mười bức tranh mang tựa đề như sau: tìm trâu - thấy dấu - thấy trâu - được trâu - chăn trâu - cỡi trâu về nhà - quên trâu còn người - người trâu đều quên - trở về nguồn cội - thõng tay vào chợ. Sau khi mô tả bức tranh, tác giả thêm lời chú dẫn.

1) Tìm trâu

- Chú mục đồng lạc lõng chốn rừng sâu, đi tìm trâu lạc nhưng không biết quay sang hướng nào. Trước mặt thì thấy sông sâu, không thể lội qua. Hắn nghe tiếng ve sầu, báo hiệu chiều tà.

- Thực ra, con trâu đâu có mất, chỉ có ta không biết nó ở đâu mà thôi: ta đi tìm nó không đúng chỗ. Chính ta mới thực là kẻ lạc lối, bởi vì bị dục vọng lôi cuốn. Ta càng đi thì càng cách xa nhà, và càng đi lạc.

2) Vết chân trâu

- Dọc theo bờ sông, mục đồng thấy vết chân trâu. Cánh rừng trở thành rậm rạp hơn. Liệu có tìm thấy lối ra không?

- Nhờ kinh điển, con người tìm thấy dấu vết con trâu. Hắn nghiệm thấy rằng tất cả các bình vàng trên mặt đất này chỉ khác nhau về hình mà thôi; tất cả mọi sinh linh đều tận cùng nơi một hữu thể là Ngã. Tuy nhiên hắn chưa biết phân biệt đâu là thực đâu là giả. Hắn mới nhận ra các dấu vết mà thôi.

3) Tìm thấy trâu

- Một con chim đang hát trên cành cây. Một làn gió thổi, mang lại mát mẻ dưới ánh nắng mặt trời. Kìa, con trâu, một thân một mình, không ẩn núp.

- Từ dấu hiệu ta phải đi sâu vào thực tại, cũng tựa như nhờ tiếng trâu rống mà ta tìm thấy con trâu. Tất cả các giác quan đều hoà hợp với nhau. Sự hoà hợp này toả lan ra qua hành động và mọi người đều nhận thấy.

4) Bắt trâu

- Mục đồng gắng hết sức mình để bắt con trâu. Nhưng nó vừa bướng bỉnh lại vừa khỏe mạnh. Đôi khi nó chạy lên núi cao hơn, vượt quá khỏi đám mây, hoặc khuất dạng sau đám sương mù che phủ hố thẳm.

- Sau một thời gian xa cách, mục đồng gặp lại con trâu của mình, nhưng khó bắt nó lại được bởi vì trâu thích sống ngoài đồng cỏ xanh, và bản tính của nó còn ương ngạnh. Muốn trị được trâu thì phải dùng roi.

5) Dẫn trâu

- Với sợi dây và cây roi, mục đồng dắt con trâu về nhà, không để cho nó đi lang thang và bị nhơ nhớp. Nếu biết dạy nó, nó sẽ trở nên thuần thục.

- Khi một tư tưởng đã nổi lên thì tư tưởng khác liên tiếp nổi lên. Nếu được soi sáng, thì tất cả những tư tưởng đó bộc lộ một chân lý duy nhất. Nhưng khi các tư tưởng còn trong tình trạng hỗn độn thì nó đưa ta đến lầm lẫn. Các sự vật chèn ép ta không do thế giới khách thể nhưng tại vì tinh thần của ta còn u mê. Muốn giữ con trâu lại, ta không nào rời bỏ sợi dây và cây roi, nghĩa là không thể nào dung dưỡng chiều chuộng các sở thích.

6) Cưỡi trâu

- Mục đồng cưỡi lên lưng trâu để về nhà, rút cây sáo ra thổi, lòng thì vui thoả, và miệng hát ca.

- Cuộc chiến đấu đã chấm dứt. Mục đồng không còn nhớ tới những thành công hay thất bại. Anh ta sung sướng nhìn lên bầu trời. Nếu ai gọi thì anh cũng chẳng ngoái cổ lại. Không gì thu hút được anh nữa.

7) Thả trâu

- Về tới nhà, mục đồng thả trâu ra. Không còn thấy con trâu trong bức tranh nữa, mà chỉ còn mục đồng ngủ say dưới mái tranh. Sợi dây và cây roi được để bên cạnh.

- Muôn vật chỉ là một, và con trâu chỉ là biểu tượng. Pháp chỉ một chứ không có nhiều. Con trâu chỉ là một phương tiện để giải thích Pháp. Một khi đã nắm bắt được Pháp rồi, thì phương tiện không cần thiết nữa và vì thế biến mất. Lưới và bẫy không cần nữa khi đã bắt được cá hay thú. Như trăng đã nhô lên khỏi đám mây và chiếu toả ánh sáng cho nhân gian, thì ánh quang-minh hỉ-lạc cũng lan ra khắp chốn.

8) Quên hết

- Bức tranh số tám chỉ có một vòng tròn trống trơn: không còn thấy mục đồng, con trâu, dây, roi, cây cối. Xem ra tất cả đều tan biến vào khoảng trời bao la. Một thiền sư đã nói: trên một bếp lửa, tìm đâu ra được một hạt tuyết?

- Tất cả mọi vật trên đời này đều hão huyền. Kể cả thánh nhân, phật tính cũng vậy. Vì thế đừng đi tìm Đức Phật nơi mà không có Phật. Đức Phật không có hình tượng gì hết. Các tượng Phật với hương đèn ở trước mặt chỉ là hình tượng giả dối.

9) Về nguồn

- Cần phải lên đường, quay về với nguồn mạch của mình: làm thế là sai rồi! Chẳng cần phải đi đâu hết. Hãy ngồi ở nhà, yên tĩnh, tâm bất động, không nghe không nhìn gì hết. Có thấy dòng nước chảy không? Chảy về đâu, ta không biết. Có thấy các bông hoa tươi thắm không? Đẹp cho ai, ta không biết.

- Trong cãnh thanh tịnh tuyệt đối, mục đồng nhìn ngắm vạn vật biến thiên, sinh tử. Người mục đồng đạt tới an tĩnh tuyệt đối, nên có thể nhìn thấy bản tính đích thực của muôn vật.

10) Ra chợ

- Mục đồng, mình cởi trần và đi chân không, đi ra chợ, tươi vui. Anh chẳng cần quyền lực thần thánh gì hết.

- Mục đồng đi vào thị thành, hoà lẫn với nhân thế, làm bạn với hết mọi người. Anh ta sống tự do cách lạ thường, với nếp sống bình dị. Anh gặp gỡ thiên hạ, kể cả hàng cá hàng rượu, để nhờ sự tiếp xúc với anh mà họ được cảm hoá.

     C. Những bức tranh của ông Kyotetsu

     Ông có một quan điểm khác với hai tác giả trên:

- Trái với Phổ Minh cho con trâu đổi màu từ đen đến trắng, ông Kyotetsu luôn vẽ con trâu trắng: con trâu không cần phải thanh luyện, nhưng cần phải đi tìm.

- Khác với Quách Am, con trâu đã xuất hiện ngay từ bức tranh thứ nhất: con trâu tượng trưng cho Phật tính, hiện diện khắp nơi. Ta cứ ngỡ rằng mất trâu; nhưng thực ra trâu chẳng có mất đâu, mà chỉ tại vì ta không thấy nó thôi. Ông Kyotetsu muốn cho thấy rằng trong bất cứ con người nào cũng có khuynh hướng muốn đi tìm chân lý; nhưng chân lý không ở chỗ nào xa xôi cả, chỉ cần biết tìm đúng chỗ thì sẽ gặp.

     Sau đây là diễn tiến của mười bức tranh

1) Lạc trâu

- Con trâu trắng đứng đàng đông và trông về hướng đông. Mục đồng đứng đàng tây và trông về hướng tây.

- Trâu là trâu, mục đồng là mục đồng, hai bên cách xa nhau và quay lưng với nhau. Xem ra một khoảng cách vô tận đã tách lìa hai bên. Kỳ thực, cả hai gần nhau; chỉ vì mê muội mà ta không hiểu nổi.

2) Tìm trâu

- Ông chủ hỏi mục đồng: “con trâu đâu rồi?”. Mục đồng không biết trả lời ra sao. Có một người đến từ hướng đông và trỏ cho mục đồng.

- Người ta hỏi mục đồng: “con trâu đâu rồi?”. Mục đồng không biết. Một người khác biết dấu vết con trâu, và khi ông chỉ cho mục đồng, hắn liền chuyển hướng.

3) Dấu của trâu

- Mục đồng chạy về hướng đông và nhận thấy nhiều dấu vết trên đồng.

- Băng qua núi đồi và lần theo nhiều ngỏ khúc khuỷu, cậu bé tiến về hướng đông và thấy nhiều dấu vết. Bây giờ cậu ta biết mình đang tìm cái gì rồi: mình đi tìm cái mình đã biết và không còn do dự nữa.

4) Gặp trâu

- Con trâu trắng đang gặm cỏ trên cánh đồng, và mục đồng hớn hở vì thấy nó.

- Sau một chặng đường dài, mục đồng tìm thấy con trâu của mình đang gặm cỏ. Cậu thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ tiến lại gần trâu.

5) Bắt trâu

- Con trâu từ từ chỗi dậy, và mục đồng vuốt ve nó.

- Cậu ta không còn những lo âu vất vả khi đi tìm bò. Cậu ta quá sướng khi gặp nó, và vồn vã vuốt ve nó.

6) Trông trâu

- Mục đồng ngồi nghỉ bên tảng đá, và con trâu đi uống nước.

- Con trâu thấy thoải mái; mục đồng cũng an tâm. Gió mát trăng thanh. Mục đồng quên cả đói. Hương hoa toả lan khắp đồi khiến cậu quên hết cả thời gian.

7) Dẫn trâu về

- Bóng chiều đã ngả trên núi. Con trâu trở về chuồng, cậu bé cưỡi trên lưng trâu và thổi sáo.

- Gió đưa cành liễu khiến cho bóng nó lung lay. Mục đồng thổi những bài ca trường cửu làm rung động tấm lòng. Thử hỏi: mấy khi gặp được cảnh thư thái như vậy?

8) Quên trâu

- Trăng chiếu xuống dương gian, và cậu bé vỗ tay ca hát.

- Con trâu trắng biến mất. Cậu bé sung sướng vì cảnh cô tịch trên núi. Những rặng núi in hình trên mặt nước, trăng lên cao dần và toả thêm ánh sáng.

9) Biến tan

- Cả con trâu lẫn chú mục đồng đều biến đi. Chỉ còn lại vòng tròn trống rỗng.

- Vũ trụ bao la hiện ra trong chớp mắt. Cõi Không tỏ lộ cảnh vô biên. Các thứ đạo lý thánh hiền đều biến tan hết. Ta cảm thấy tỉnh lên sau một giấc mơ triền miên.

10) Ra làng

- Cậu bé đi về hướng đông, và con trâu đi theo. Con trâu trắng đi theo cậu bé ra chốn đô hội. Cậu bé hớn hở chào thăm hết mọi người. Cậu thấy không có chi khác biệt giữa đi tìm Phật và đi tìm chúng sinh.

     D. Nhận xét

Tuy cả ba loạt bức tranh đều xoay quanh hình ảnh con trâu, nhưng đàng sau biểu tượng này, mỗi tác giả muốn gửi một sứ điệp khác nhau.

1) Loạt bức tranh thứ nhất (Tiệm hoá của Phổ Minh) mô tả tiến trình biến đổi tương tự như các bậc thầy thuộc các tôn giáo lớn: hành trình huyền bí gồm chặng tu đức, nghĩa là thanh luyện linh hồn (bằng gậy và roi) trước khi tiến đến sự hoàn thiện.

2) Hai loạt bức tranh của Quách Am và Kyoetsu muốn giải thích tiến trình theo chiều hướng khác: sự bất toàn không hệ tại nết xấu làm cho ta đen đuổi, nhưng ở chỗ lạc đường (mất trâu), hoặc đi tìm chân lý không đúng chỗ. “Đường” hay “chân lý” là chính Phật tính.

3) Từ đó ta thấy có hai quan niệm về hành trình huyền bí, dựa trên hai biểu tượng của con trâu:

- Một đàng, con trâu tượng trưng cho con người cần được biến đổi (từ đen đến trắng). Kết quả của hành trình huyền bí được nhận thấy ở nơi con trâu.

- Đàng khác, con trâu tượng trưng cho “chân lý” hay “Phật tính” mà ta phải đi tìm. Chủ thể của hành trình huyền bí là ta (mục đồng) chứ không phải là con trâu.

4) Xét về tận điểm của hành trình huyền bí, chúng ta nhận thấy có sự trùng hợp và khác biệt.

- Cả ba tác giả đều gặp nhau ở một bức tranh vẽ một vòng tròn, trong đó không thấy con trâu hoặc mục đồng. Phải chăng cả ba đều quan niệm tận điểm của hành trình huyền bí là “Vô”, theo quan điểm của thiền tông?

- Sự khác biệt của tác giả thứ nhất (Phổ Minh) với hai tác giả kia (Quách Am và Kyotetsu) ở chỗ vị trí của bức tranh đó. Fumyo xếp nó ở hàng thứ 10, nghĩa là bức tranh chót. Hai tác giả kia đặt nó ở số 8 (Quách Am) hoặc số 9 (Kyotetsu). Dù sao, đối với hai tác giả này, bức tranh cuối cùng diễn tả anh mục đồng trở về với xóm làng, nghĩa là sau khi anh đã giác ngộ, thì anh đã trở lại giáo hoá chúng sinh, chứ không hưởng riêng một mình.

 

› ® ¬ ® š

 

End Footnote

[1] Ichiro Okumura, Bouddhisme-Zen et mystique chrétienne, in : Teresianum 42 (1991) 475-510.

https://catechesis.net/hanh-trinh-tam-linh-nhu-di-tim-trau/ (cập nhật ngày 11.5.2023)

---Còn tiếp---

zalo
zalo