Đọc và diễn giải Kinh Thánh

 ĐỌC VÀ DIỄN GIẢI KINH THÁNH

Lm. Phaolô Ngô Đình sĩ

DẪN NHẬP TỔNG QUÁT


Một giáo sư Kinh thánh ở Việt Nam, tình cờ gặp tôi một ngày nọ ở Paris, khi biết tôi giảng dạy về Kinh thánh, nên hỏi rằng: "này người anh em, cậu có biết có một cuốn sách giáo khoa nào đó căn bản, viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, tóm gọn và chỉ dẫn cho biết tất cả các phương pháp đọc và chú giải Kinh thánh không?" Một câu hỏi đơn giản, thành thực, nhưng khó trả lời.


- Trên thực tế, không có tác giả nào đã soạn thảo ra một cuốn sách giáo khoa tổng hợp như thế, vì ở Âu châu, ít thấy xuất bản các sách giáo khoa Thần học, nhất là về các phương pháp chú giải Kinh thánh. Chúng ta cũng có thể tìm thấy một vài cuốn sách cơ bản đề cập các phương pháp chủ yếu như, phê phán sử quan[1], hay phân tích theo lối  thuật chuyện[2], hoặc một vài sách tổng hợp các bài viết theo một chủ đề nói về chú giải Cựu ước[3] hay Tân ước[4]. Năm 1993, Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, đã phát hành tài liệu chính thức  Việc giải thích Kinh thánh trong Hội thánh (L’Interprétation de la Bible dans l’Église), trong đó đề cập đến các phương pháp diễn giải Kinh thánh và xác định đường hướng tốt nhất cho việc chú giải, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Tông thư Providentissimus và 50 năm Tông thư Divino afflante Spiritu[5].


- Từ thời Đức Kitô đến nay, nhiều thế kỷ đã trôi qua, Giáo hội đã không ngừng diễn giải Lời Chúa, như lương thực hằng ngày nuôi duỡng cuộc sống kitô hữu, như lời thánh Phaolô đã viết cho Timôthê: "Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Ðức Kitô Giêsu. Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính." (2Tm 3,15-16)[6]. Chính thánh Phaolô cũng thường trích dẫn Cựu ước trong các thư của Ngài, để minh chứng cho sự thật về Tin mừng của Đức Kitô. Những người Kitô hữu, Tin lành, cũng như Công giáo, đã biết sử dụng nhiều phương pháp để tìm hiểu sâu xa ý nghĩa lời Thiên Chúa.


- Nhà thần học Henri de Lubac, trong sách của ông[7],  đã xác định truyền thống của chú giải Lời Chúa, khi nhắc lại bốn nghĩa Kinh thánh của giáo phụ Origène (185-254)[8]: "Người ta đã biết từ lâu, vào khoảng đầu thế kỷ 12, đã có những quy tắc truyền thống, áp dụng cho tất cả những ai muốn diễn giải Kinh thánh. Người ta đã biết bảy nguyên tắc huyền nhiệm của Tyconius, thánh Augustinô đã chấp nhận, và thánh Isidore   đã truyền bá. Người ta cũng không quên rằng chính thánh Tông Đồ (Phaolô) cũng đã từng áp dụng, bằng ví dụ,  một regulam intellegendi allegoricas actiones. Dầu sao, quy tắc phúng dụ này không như historia hay ordo, cách này hay cách kia đều khác. Vậy người ta nhận biết những leges historiae, một allegoriae consequentia, những rationes anagogicae: tất cả các cách diễn đạt này có từ thời các giáo phụ. Có lẽ, ngoài lịch sử, những nghĩa khác có vẻ có tự do hơn trong trong áp dụng. Thánh Jérôme đã phê bình về phép phúng dụ, và hơn phép ẩn dụ, khi ngài phản đối những tự Do thái quá của Eusèbe de Césarée, đi theo phương pháp Origène, và nhiều người khác, theo ngài, và cũng nhắc lại như ngài: phép ẩn dụ có trước mặt nó một khoảng không gian tự do,...quy tắc sử quan thì chặt chẽ, ẩn dụ quá tự do."[9]


- Giáo hội Công giáo, từ Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum, 1965), văn kiện quan trọng của Công đồng Vaticano II, đến văn kiện Việc giải thích Kinh thánh trong Hội thánh, mở ra những chân trời mới cho công việc chú giải. Người ta được tự do nghiên cứu để khai thác các văn loại và các khám phá mà lịch sử và khoa học đem lại, mà không sợ những cấm đoán đè nặng từ trong Giáo hội.


Câu hỏi vô tình của vị giáo sư thần học làm cho tôi nghĩ đến việc đọc và giảng dạy Kinh thánh ở Việt Nam. Các tín hữu và các sinh viên thần học thực sự gặp nhiều khó khăn để tiếp cận được các tài liệu cơ bản về chú giải viết trong ngôn ngữ ngoại quốc, và họ cũng không có được các sách nói về vấn đề này trong tiếng Việt. Nếu không có được sự trợ giúp của các phương pháp, chúng ta sẽ có thể mất cơ hội đào sâu ý nghĩa lời Thiên Chúa và học hỏi từ chính Ngài, để được thánh hóa trong đời sống[10]. Làm sao biết được thánh ý Thiên Chúa muốn dạy tôi qua Lời Ngài?


Để đáp nhu cầu nêu trên, thiết nghĩ Giáo hội Viêt Nam cần có một tài liệu cơ bản, không chỉ là một cẩm nang kỹ thuật trình bày và giải thích các công cụ và  phương pháp dùng cho việc đọc và học hỏi  các bản văn Kinh thánh, nhưng phải là một cuốn sách cho chúng ta biết một chút về lịch sử, ý nghĩa và các nơi chốn thể hiện lời Thiên Chúa trong Giáo hội.


Trong sách này, chương đầu tiên sẽ lược qua lịch sử việc diễn giải Kinh thánh ngay từ thời trước Đức Kitô. Người Do thái đã đọc Kinh thánh như thế nào. Kinh thánh của họ trở nên sách Cựu ước của chúng ta. Tiếp đến là thời sau Đức Kitô, thời đại các thánh giáo phụ, thời Trung cổ, và đến chúng ta ngày hôm nay, với các phương pháp mới mẻ.


Chương thứ hai sẽ tìm hiểu vấn đề liên quan đến ý nghĩa của Kinh thánh: từ nghĩa một từ ngữ đến ý nghĩa của bản văn, và từ ý nghĩa bản văn đến Thánh ý Thiên Chúa. Ý nghĩa được định nghĩa bởi các tài liệu chính thức của Giáo hội cũng như ý nghĩa được làm sáng tỏ và phong phú hóa nhờ Thông diễn học hiện đại.


Một phần lớn các phương pháp, phân tích và tiếp cận sẽ được xem xét trong chương thứ ba. Chúng ta sẽ bỏ qua các phương pháp phức tạp và đòi hỏi nhiều kiến thức văn hóa Tây phương. Ngay cả ở Âu châu, chúng ta có thể đọc được các tác phẩm diễn giải một bản văn Kinh thánh nào đó theo một phương pháp đến từ các môn khoa học nhân văn và xã hội, nhưng sẽ không có một sách nào đề cập trực tiếp đến các phương pháp này áp dụng trong Kinh thánh.


Một cách cụ thể, đứng trước một sách hay một bản văn Kinh thánh, chúng ta phải làm gì để đọc và diễn giải? Chương thứ tư muốn đề nghị một hành trình tiệm tiến, bắt đầu từ lúc giở sách Kinh thánh, cầu nguyện đến các giai đoạn cụ thể đi vào việc tìm hiểu ý nghĩa, và giảng dạy cho những người khác.


Với chương thứ năm, chúng ta sẽ kết thúc cuốn sách, thăm viếng lại các nơi chốn lời Thiên Chúa đã và đang thể hiện: phụng vụ và bí tích, cầu nguyện và chia sẻ, linh thao, linh hướng và giáo lý.


Hãy cùng nhau lên đường khám phá các chủ đề vừa nói trên, một hành trình có lẽ sẽ có đôi chút phức tạp, nhưng là một du hành thích thú.


1. Lịch sử quá trình diễn giải Kinh thánh

Lịch sử đọc và diễn giải Kinh thánh trong Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng và những khó khăn trong việc giải thích Kinh thánh.Đối với Giáo hội Công giáo, "việc nghiên cứu Kinh thánh là linh hồn của thần học."[11]  Do đó, khác với truyền thống Do thái giáo và những người Tin lành, các thẩm quyền luôn cẩn trọng và để mắt đến việc chú giải Kinh thánh. Giáo hội đã không dể dàng chấp nhận những phương pháp hoặc công cụ mới đến dùng cho việc chú giải. Văn kiện Việc giải thích Kinh thánh trong Hội thánh, chỉ mới xuất bản năm 1993[12], gần 2000 năm sau Thiên Chúa giáng sinh.


Truyền thống Do Thái, Hy Lạp và Ki-tô giáo nguyên thủy[13]

Trước tiên, chúng ta nên biết rằng, Kinh thánh là bộ sách lịch sử của dân tộc Do thái. Dù họ có đức tin hay vô thần, không một ai trong dân tộc này có thể chối bỏ lịch sử đó. Kinh thánh của dân tộc Thiên Chúa chọn, được thu thập và công nhận  và sắp đặt trong những "thư quy» (canon)[14] nhiều thế kỷ trước Đức Kitô. Hiện nay, Kinh thánh của người Do thái có hai bộ chính sau đây[15]:


- Bản văn Hy lạp, dịch từ tiếng Do thái, còn gọi là bản 70, ra đời vào thế kỷ thứ 3 trước Đức Kitô, gồm có 47 cuốn sách[16], được xếp theo trình tự sau đây: Sách Ngũ kinh, sách lịch sử, sách  văn thơ, và sách ngôn sứ.


- Bản văn tiếng Do thái, gồm 39 cuốn, nhờ chứng tá của sử  gia Do thái Josephe Flavius[17]. Hội đường Do thái ở Giêrusalem thời đó không muốn công nhận 6 cuốn sách sau đây: Sách Khôn Ngoan, Huấn Ca, Tôbia, Giuđitha, 1 và 2 Macabê.


- Ngoài ra, trong thế kỷ thứ nhất trước Đức Kitô, trong các hội đường Do thái giáo nói tiếng Hy lạp, họ sử dụng một bản Kinh thánh bằng tiếng Hy lạp, gồm có những cuốn sách  giống như bản 70.


Các linh mục Do thái, từ nguyên thủy và nhờ ơn huệ Thiên Chúa, họ có quyền giảng giải các lề luật (Kinh thánh) và nếu ai gặp khó khăn trong việc đọc Kinh thánh, họ tìm đến các linh mục để được trả lời các vấn nạn[18]. Ngoài các linh mục, các ngôn sứ cũng có thể nhắc cho dân chúa lắng nghe và thi hành các lề luật. Ở nước Ítraen hiện nay, vẫn còn có các trường học các ngôn sứ, cũng gọi là "trường thông giải" (maison d’interprétation).


Người Do thái đã dùng từ lâu những phương pháp giải thích Kinh thánh. Phương pháp péchât giải thích thật sát nghĩa hoặc theo nghĩa đen của từ ngữ; phương pháp derâsch bình giải bản văn, để làm cho bản văn được ăn khớp với các lề luật truyền khẩu hay được viết thành văn bản. Phương pháp đầu thường dùng để giải thích Tôra (Lề Luật nghĩa rộng), và phương pháp thứ hai được dùng diễn giải các sách Ngôn Sứ trong hội đường Do thái. Với phương pháp thứ hai, người thông giải có tự do hơn để tìm kiếm và đào sâu ý nghĩa của bản văn và từ đó phát sinh ra những midraschim bao gồm hai loại: halakha hay còn gọi là midrasch halakhique, giải thích các vấn đề pháp lý, tôn giáo, và đưa ra các quy định trong nghi lễ và hành xử ở ngoài tôn giáo;  và haggada hay là midrasch haggadique, chuyên về luân lý.


Người Do thái giáo nói tiếng Hy lạp có một phương pháp chú giải khác gọi là "phúng dụ" (allégorie). Họ giải thích bản văn Kinh thánh với nghĩa bóng, hoặc nghĩa ẩn dụ, biểu tượng. Những người đầu tiên dùng phương pháp này sống ở Alexandrie (bút hiệu là Aristée và Aristobule de Panéas)[19], vào thế kỷ thứ 2 trước Đức Kitô.  Sau đó, Philon[20], một văn sĩ nổi tiếng, đã quy định các quy tắc phương pháp chú giải phúng dụ này và chính ông cũng đã diễn giải nhiều bản văn Kinh thánh. Hình như những người Do thái giáo thuộc phái Essénien cũng sử dụng phương pháp này.


Vào thời Đức Kitô, người Do thái đã trở về sau lưu đày, dưới sự dẫn dắt và giảng dạy lề luật của Étra (Er 7,10) - khuôn thước của các luật sĩ sau này - đã ý thức tầm quan trọng của việc vâng theo lề luật để tiếp tục trung thành với giao ước và sự sống còn của dân tộc Ítraen (Nkm 8,3. 18; 10,29). Từ đó, các luật sĩ cho mình trách nhiệm chú giải Kinh thánh, và nhất là lề luật. Họ lo lắng việc tuân thủ một cách nghiêm túc các giới răn của lề luật, điều này bắt họ phải định rõ ý nghĩa và giới hạn những yêu cầu của Thiên Chúa (Nkm 13). Vì thế chúng ta thấy, trong các Tin Mừng, những người luật sĩ, ủng hộ bởi các người Biệt phái (pharisieu), đã nhiều lần tố cáo chống lại Đức Kitô, vì theo họ, Ngài đã không tuân giữ các giới răn của lề luật, nhất là những việc tuân thủ nghiêm túc ngày sabát (ngày thứ bảy) (Lc 6,7). Lúc đó, xuất hiện nhiều trường phái chú giải lề luật giữa lòng Do thái giáo: Shammaï rất nghiêm nhặc, khắc khe và tuân thủ sát nghĩa các giới răn của Lề Luật; trong khi đó, trường phái Hillel, thì tự do và mềm dẻo hơn. Gamaliel[21], thầy cũ của Phaolô, là cháu nội của Hillel (Cv 5,34-39).


Đương nhiên, người Do thái vẫn tiếp tục đọc và phát triển việc chú giải Kinh thánh của họ cho đến hôm nay, với nhiều phương pháp khác nữa[22], nhưng chúng ta không đề cập ở nơi đây, để thời gian xem lại cách thức Đức Kitô và thánh Phaolô chú giải Kinh thánh.


Như các ngôn sứ, Đức Giêsu Kitô trích dẫn Kinh thánh, để giảng dạy và để giúp những người nghe hiểu rõ hơn về Mặc khải Thiên Chúa (Mt 4,4; Mc 10,7; 11,17; 12,36). Nhưng rất khác với các luật sĩ, cũng như những người Biệt phái, Ngài không bị gò bó một cách hạn hẹp trong các chi tiết của lề luật, nhất là việc tuân giữ tuyệt đối ngày sabát, Ngài mời gọi tất cả mọi người, nhất là những kẻ tự giam mình trong hạn hẹp của từ ngữ và tính chất trần thế của lề luật,  xem xét và suy nghĩ đến mục đích thiêng liêng và tối cao của lề luật: "Ngày sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát." (Mc 2,27)(Mc 2,23-27, 3,1-6; Ga 5,1-18, 9,1-41). Những người Do thái người có học và am hiểu Kinh thánh thời chúa Giêsu, thường đi vào những cuộc tranh cãi về lề luật, và tự giam hãm lấy chính họ trong ngục tù của thông minh và trí óc hẹp hòi của mình. Trong khi đó, Đức Kitô luôn mời gọi họ hướng tới thánh ý Thiên Chúa, ý nghĩa đích thực của lề luật (Mt 22,23-33 hoặc Mt 15, 3-9, 23,16-24).


Trong những đoạn văn khác, chúng ta thấy Đức Kitô trích dẫn Kinh thánh để giải thích mầu nhiệm nhập thể và sứ mạng của Ngài. Lời Kinh thánh sẽ soi sáng và làm cho những người theo và nghe Đức Kitô hiểu hành động yêu thương và nhận biết Ngài là đấng cứu độ được Chúa Cha sai đến (Lc 4,16-20; 20,9-18. 41-44; 22,37; 24,25-27; Mt 12,38-42; 21,12-17; 26,31).


Chúng ta đã thấy được tầm quan trọng diễn giải Kinh thánh trong lịch sử cứu độ. Những môn đệ của Đức Kitô cũng tiếp tục tìm hiểu mầu nhiệm mặc khải qua chính ánh sáng của lời Thiên Chúa. Đặc biệt là Thánh Phaolô, xuất thân từ Biệt phái, được giáo dục trong môi trường đào tạo các giáo sĩ Do thái giáo (Plm 3,5), và như đã nói, là học trò của Gamaliel, nên ngài đã nắm vững các lối chú giải Do thái. Ngài thường dùng phương pháp mà những nhà chú giải Kinh thánh ngày nay gọi là "typologie", tạm dịch là phương pháp "so sánh dạng thức". Ngài dùng những gương mẫu, mô hình, tương ứng, trong các biến cố hoặc nhân vật trong Cựu ước để diễn đạt, so sánh và mô phỏng giao ước mới, các biến cố, con người và sứ mạng của Đức Kitô: chẳng hạn, Ađam đối lập với Đức Kitô trong Rm 5,12-21; Abraham, cha của những kẻ tin (Rm 4, Gl 3 và 4), hoặc Rm 3,9-18.


Nhưng đôi khi, Ngài cũng làm chúng ta ngạc nhiên khi ngài dùng một cách rất tự do phương pháp chú giải truyền thống midrash, rất kỹ thuật theo những quy ước định sẵn để đọc các bản văn Kinh thánh. Hai trong những công cụ thông dụng của midrashgezerah shawahqal wahomer. Công cụ thứ hai, có nghĩa là nhẹ và bền vững, là phương pháp lý luận chắc chắn để xác định một vấn đề. Trong khi đó, gezerah shawah (cùng một chữ, cùng một câu), dựa trên sự giống nhau của những từ ngữ trong hai bản văn khác nhau, được sắp lại gần nhau, và sự kết hợp này, cho phép một diễn giải, làm sáng tỏ, mở rộng. Bắt đầu từ những chữ giống nhau của các bản văn không liên quan gì đến nhau, người chú giải, biến chúng thành một bản văn hiệp ý (Rm 4,1-12; Gl 3,10-14)[23].


Những người Kitô hữu nguyên thủy có lẽ nghe nhiều lời Kinh thánh và hiểu hơn chúng ta bây giờ, về các mặc khải Thiên Chúa. Phần lớn các trích dẫn Kinh thánh trong sách Công vụ Tông đồ có mục đích chỉ dạy cho chúng ta đấng cứu độ đã được loan báo từ lâu bởi các ngôn sứ: ví dụ như, trong Cv 17,2-3 và 5. Thánh Luca đã ghi lại rất nhiều trích dẫn Kinh thánh trong các bài rao giảng các Tông đồ (Cv 2,14-36; 3,11-26; 4,9-11; 8,26-35; 13,16-41); có lẽ, những người Kitô hữu nguyên thủy, đã sưu tập những trích dẫn Kinh thánh có liên quan đến lời hứa của Thiên Chúa về đấng cứu tinh. Nhiều trích dẫn trong Tân ước đến từ Tv 118, 22; 110,1; 16,8-11; Is 28,6;  59,20-21; Gr 31,31-34.


Chú thích:

[1] Odette MAINVILLE, La Bible au creuse de l’histoire, Coll. Sciences bibliques, Montréal, Médiaspaul, Canada, 1995.

[2]Daniel MARGUERAT et Yvan BOURQUIN, Pour lire les récits bibliques. Initiation à l’analyse narrative, Paris, Cerf, 2009.

[3] Michaela BAUKS, Christophe NIHAN (éd), Manuel d’exégèse de l’Ancien Testament, Genève, Labors et Fides (Le Monde de la Bible 61), 2008.

[4]Philippe ABADIE (éd), Aujourd’hui, lire la Bible. Exégèses contemporaines et recherches universitaires, Lyon, Profac, 2008.

[5]COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise, Paris, Cerf, 1994.

[6]Trích từ Bản dịch Việt Ngữ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnbible/vn2timo.htm, tham khảo ngày 19/03/2015.

[7]Henri De LUBAC, Exégèse médiévale. Les quatre sens de l’Écriture, Aubier-Montaigne, 1959, 1961, 1964, Cerf, 1993, tr. 23.

[8]ORIGÈNE, http://fr.wikipedia.org/wiki/Orig%C3%A8ne, tham khảo ngày 25/03/2015.

[9]Henri De LUBAC, Exégèse médiévale. Les quatre sens de l’Écriture, Aubier-Montaigne, 1959, tr. 23.

[10] Jean Louis CHRETIEN, "Se laisser lire avec autorité par les Saintes Ecritures", RSR (Recherches de Science Religieuse), số 1, Tome 92, Paris, 2004, tr. 119-137.

[11] Dei Verbum, số 24.

[12] L'Interprétation de la Bible dans l'Eglise, Commission Biblique Pontificale, Allocution de Jean Paul II, Préface du Cardinal Ratzinger, Introduction du Père Jean Luc Vesco, o. p., Paris, Cerf, deuxième édition, 1994.

[13] Pierre GIBERT, Petite histoire de l’exégèse biblique, Paris, Cerf (Lire la Bible 94), 1992.

[14] Từ ngữ "canon",  đến từ gốc Hy lạp κανών, và tiếng Do thái qaneh, có nghĩa đen là cây sậy. Vì có lẽ, người ta đã chặt một nhánh cây sậy để làm thước đo, nên từ canon có nghĩa mới là thước đo của những người thợ mộc. Trong lãnh vực triết học, từ canon đã trở thành quy luật, giới hạn, tiêu chuẩn, mô hình. Vào thế kỷ thứ 2, giới Kitô hữu dùng chữ canon, trong thành ngữ "canon de la vérité", thước đo sự thật, và "règle de l’assemblé", có nghĩa là "règle de la conduite", quy luật cộng đoàn. Thánh Phaolô dùng chữ này để chỉ ranh giới vùng đất ngài rao giảng Tin mừng (2Cr 10,13-16). Đến thế kỷ thứ 4, Giáo hội dùng từ này để chỉ các thư quy Kinh thánh (năm 363 ở Công đồng Laodicée và năm 392, trong thư Festale của Athanase d’Alexandrie).

[15] Constantin CHAUVIN, La Bible depuis ses origines jusqu'à nos jours. La Bible chez les Juifs, Hachette, Éd.1900, Paris. Hoặc La Bible chez les Juifs, http://www.mediterranee-antique.fr/Auteurs/Fichiers/ABC/Chauvin_Constantin/Bible/Bible_1.htm, tham khảo ngày 09/12/2014.

[16] Kinh thánh Cựu ước của chúng ta theo trình tự gần giống bản này gồm có 45 cuốn vì 4 sách Các Vua, được gộp lại thành hai cuốn Các Vua 1 và 2.

[17] FLAVIUS Josèphe, http://fr.wikipedia.org/wiki/Flavius_Jos%C3%A8phe, tham khảo ngày 25/03/2015.

[18] Đệ Nhị Luật 21,5 "Bấy giờ các tư tế, con cái Lê-vi, sẽ tiến lại, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn họ để họ phụng sự Người và chúc phúc nhân danh Ðức Chúa, và căn cứ vào lời họ mà mọi vụ tranh tụng và đả thương được giải quyết".

[19] Aristobule de Panéas, http://fr.wikipedia.org/wiki/Aristobule_de_Pan%C3%A9as, tham khảo ngày 25/03/2015.

[20] Philon d’Alexandrie, http://fr.wikipedia.org/wiki/Philon_d'Alexandrie, tham khảo ngày 25/03/2015.

[21] Gamaliel, http://fr.wikipedia.org/wiki/Gamaliel_l'Ancien, tham khảo ngày 25/03/2015.

[22] Constantin CHAUVIN, La Bible chez les Juifs, Hachette, Éd. 1900, Paris. hoặc là La Bible chez les Juifs, phần II, "Kinh thánh nơi người Do thái kể từ Đức Giêsu Kitô" (La Bible chez les Juifs depuis Jésus Christ) - http://www.mediterranee-antique.fr/Auteurs/Fichiers/ABC/Chauvin_Constantin/Bible/Bible_1.htm, tham khảo ngày 09/12/2014.

[23] Jean-Bosco Matand Bulembat, Noyau et enjeux de l'eschatologie paulinienne : de l'apocalyptique juive et de l'eschatologie hellénistique dans quelques argumentations de l'apôtre Paul, Walter de Gruyter, 1997, tr.  59.


Từ thời các giáo phụ[24] đến thời Trung cổ


Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu và những người Kitô hữu đầu tiên đọc Kinh thánh Do thái. Thánh Phaolô đã viết các thư để dạy dỗ, khuyên bảo và nâng đỡ các cộng đoàn ngài đã thành lập. Khi các tông đồ đã dần dần ra đi, các sách Tin Mừng bắt đầu xuất hiện. Và mãi đến đầu thế kỷ thứ hai sau Đức Kitô, ở La mã, thánh Justin[25] (sau này tử đạo), đã có nói đến việc đọc những "Hồi ký của các Tông đồ" (Mémoriaux des Apôtres) và "Những bài viết của các ngôn sứ" (Ecrits des Prophètes). Và sau các bài đọc này, luôn có những bài giảng huấn dụ, vì các bài đọc dùng để hỗ trợ cho việc giảng dạy. Để người nghe có thể hiểu, bài đọc và các bài giảng phải được soạn thảo trong ngôn ngữ của những người nghe. Người ở thành phố La mã có thể nghe và nói hai thứ tiếng: La tinh và Hy lạp. Như thế, bộ "Hồi ký của các Tông đồ", sau này trở thành Tân ước, được viết bằng tiếng Hy lạp. Nhưng Cựu ước thì sao? Những người Kitô hữu nguyên thủy đọc Kinh thánh Cựu ước, có lẽ là bản 70, bằng tiếng Hy lạp. Nhưng thời đó, họ cũng biết đến các bản Kinh thánh Cực Ước bằng tiếng Syriac (gần giống tiếng Aram, tiếng nói của Chúa Kitô), tiếng Copte (ngôn ngữ xưa của người Ai Cập), tiếng Ethiôpi, tiếng Gothique. Sự hiện hữu đa dạng các bản thảo, cho chúng ta biết rằng những người Kitô hữu nguyên thủy muốn cho mọi người đọc và hiểu Kinh thánh.


Những bản văn Kinh thánh, Cựu ước cũng như Tân ước, dần dần được các cộng đoàn Kitô hữu công nhận là Lời của Thiên Chúa, và được xếp vào "thư quy" (canon). Qua đó, chúng ta nhận ra thẩm quyền của Giáo hội. Và dần theo thời gian, người ta đã đi đến việc tạo ra được một danh sách chung về các sách Kinh thánh. Thư quy tập hợp lại những cuốn sách, chứ không phải là một danh sách ngôn từ hay biến cố. Đối với các giáo phụ, những cuốn sách này đã được đón nhận, đọc và hiểu, trong các cộng đoàn Kitô hữu như là thức ăn nuôi dưỡng đời sống đức tin. Kinh thánh, đối với các ngài, chính là Lời của sự sống. Như thế, Lời này, phải được giảng giải sau khi đọc.


Để giúp cho việc giảng giải Kinh thánh, các giáo phụ đưa ra các quy tắc chú giải; chẳng hạn như, những quy tắc của thánh Grégoire thành Nysse hay của thánh Irénée thành Lyon. Nói một cách chung, các giáo phụ đã nghiên cứu 4 nghĩa của Kinh thánh của Origène: nghĩa của bản văn (sens littéral) hoặc nghĩa lịch sử; nghĩa phúng dụ (sens allégorique), nghĩa này cho phép chúng ta vượt qua giới hạn dữ kiện và chỉ cho chúng ta những gì phải tin; nghĩa ẩn dụ (sens tropologique) hoặc nghĩa luân lý, nghĩa này không những dạy cho chúng những điều phải tin, những còn những điều phải làm; và cuối cùng là nghĩa anagogique hoặc nghĩa thiêng liêng (mầu nhiệm), ý nghĩa sâu sắc ẩn chứa trong Lời Thiên Chúa, chỉ cho chúng ta biết mục đích tương lai của đức tin.  Như vậy, các giáo phụ không phải là những người đọc Lời Chúa một cách ngây thơ và hời hợt, họ đã dùng các công cụ để giảng giải, để tìm thấy đâu là thánh ý Thiên Chúa.


Các giáo phụ rất ưa thích một các đặc biệt phương pháp phúng dụ (allégorie). Origène d’Alexandrie, tuy không được phong thánh, một giáo phụ có uy tín nhất và cũng là nhà chú giải phong phú nhất thời đó. Ngài muốn dùng lại những phương pháp của thánh Phaolô để chú giải Kinh thánh. Ngài viết trong bài giảng thứ V của ngài về sách Xuất Hành rằng thánh Phaolô đã "dạy Giáo hội đến từ các dân tộc mà ngài đã thiết lập, phương pháp giải thích các sách của Lề luật" (Hom. in Ex 5,1). Theo ngài, những người Kitô hữu đến từ các dân tộc có thể diễn giải sai lầm các sách nầy, vì họ không có quen đọc chúng. Thực ra, theo Origène, thánh Phaolô sợ người dân ngoại giải thích các sách lề luật khắt khe và hạn hẹp như những người Do thái đã làm.


Origène, không những đã cho rằng ông theo sát các phương pháp chú giải của thánh Phaolô, mà còn đưa ra những bằng chứng trong các bản văn sau đây của thánh Phaolô: 1Cr 10,1-11; 2Cr 3,6-18; Gl 4,21-24; Dt 8,5 và 10,1[26]. Theo ngài, tất cả các đoạn văn này được giải thích theo phương pháp "thiêng liêng" hay còn gọi là phúng dụ của Kinh thánh. Ngài thường hay dùng trích dẫn 2Cr 3,7-18 như là một chương trình chú giải của ngài. Trong bài chú giải đoạn sách Xuất Hành 34, 33-34, đoạn này nói đến tấm khăn che mặt toả sáng vinh quang của ông Môsê, giáo phụ cho rằng chú giải của thánh Phaolô thật tuyệt (Hom. in Ex 12,1). Tấm màn che còn ở lại trên từ ngữ của Cựu ước (2 Co 3,14), và khi người ta trở lại theo Đức Kitô, màn che rớt xuống (2 Co 3,16). Về phần Origène, ngài giải thích rằng, tấm màn che mặt của chúng ta chính là những lo lắng liên quan đến việc thế trần: tiền bạc, ham muốn giàu sang. Trở lại với Đức Kitô, có nghĩa là quay lưng lại và học hỏi Lời Chúa, suy gẫm lề luật của Ngài đêm ngày (Tv 1)...


Theo bà Marguerite HARL[27], người đã bỏ công dịch Kinh thánh bản 70 từ tiếng Hy lạp sang tiếng Pháp, đã tóm tắt phương pháp Origène như sau: 1) tất cả các bản văn Kinh thánh đều có một nghĩa thiêng liêng; 2) đa số các bản văn Kinh thánh, ngay cả trong nghĩa văn chương, cũng cho người đọc một cơ hội, dựa trên sự tương quan, khám phá ra ý nghĩa thiêng liêng ẩn dấu dưới văn tự; 3) vài văn đoạn Kinh thánh, hiếm hơn, không trực thuộc rõ ràng vào lĩnh vực câu chuyện hay lề luật, các độc giả không thể chú giải được khi đọc chúng; 4) phương pháp để đọc chúng, là phải tìm trong những bản văn này những chữ cũng có trong những đoạn văn có thể diễn dịch được, và bắt đầu bằng những từ ngữ này, để truy tìm trong tất cả sách Kinh thánh, cách thức mà người ta dùng chúng, và giải thích chúng. Khi liên kết những bản văn không thể giải thích với những bản văn, thông qua những từ ngữ được sử dụng trong những bản văn khác nhau, người ta sẽ khám phá ra ý nghĩa chung của các bản văn, ý nghĩa tổng quát, "rải rác" khắp sách Kinh thánh[28].


Nhiều giáo phụ theo phưong pháp của Origène như thánh Hilaire thành Poitiers, thánh Ambroise, thánh Augustinô thành Hippone (354-430). Theo nhà thần học thành Hippone nổi tiếng này, nội dung của hai sách "giao ước" này là một, vì những gì được Mặc khải trong Tân ước đã được ẩn dấu trong Cựu ước. Cả hai bộ sách "giao ước" này bổ túc lẫn nhau. Toàn bộ Kinh thánh (Cựu và Tân ước) giúp ta hiểu Đức Kitô. Muốn được như vậy, chúng ta phải chấp nhận việc diễn giải Kinh thánh, với những diễn đạt khác nhau, phải từ bỏ thói quen khép mình trong lối hiểu theo nghĩa "hẹp". Ở đoạn cuối của cuốn sách Les Confessions, thánh Augustinô viết: "người thì bảo vệ ý này, người khác có ý khác; tại sao không phải là cả hai, nếu cả hai đều thật, và tại sao lại không có thể có ý thứ ba, thứ tư, hoặc còn nữa nếu người ta muốn nhận ra chúng; tại sao không tin rằng Môsê đã nhận thức được tất cả...Tôi ước ao có tất cả những dữ liệu đúng tìm ra bởi mỗi người vang vọng trong những gì tôi nói, hơn là ngồi đó với một ý nghĩa thật khi loại trừ những nghĩa khác, không có gì sai lạc để gây sốc cho tôi cả."[29]


Thật tuyệt vời tư tưởng của thánh Augustinô! Ngài mời gọi mọi người tham gia vào việc đọc và giảng giải Kinh thánh, với điều kiện là điều tìm thấy phải thật, và chặt chẽ.


Ở phương Tây có thánh Augustinô như ta biết, ở phương Đông có Théodore (393-460), giám mục thành Cyr, nhà thần học và sử gia[30]. Ngài viết rất nhiều, và từng bị kết án bởi Giáo hội sau đó lại được công nhận. Không kể đến các công trình sử học và thần học của ngài, chúng ta chỉ nêu ra ở đây các tác phẩm chú giải Kinh thánh của ngài: chẳng hạn, những giảng giải sách Thánh vịnh, sách Diễm ca, các sách Ngôn sứ lớn và nhỏ, và các thư của thánh Phaolô. Ngài cũng có những tập câu hỏi-trả lời về những đoạn văn của "bát kinh" (8 kinh), các sách các Vua và các sách Biên niên sử.


Khi nói về việc đọc Kinh thánh của các giáo phụ, không thể không nói đến thánh Jérôme (Jérôme de Stridon, 347-420). Biết giỏi tiếng La tinh và Hy lạp, thánh Jérôme đã phát triển từ từ bản Kinh thánh thống nhất có tên là Vulgate, được hoàn thành năm 405. Nhờ công trình dịch thuật Kinh thánh của ngài từ những bản văn tiếng Hy lạp[31] qua tiếng La tinh, thánh Jérôme đã góp phần rất quan trọng trong việc phát triển Giáo hội Tây phương. Ngài đã cống hiến tất cả cuộc đời của mình vào việc diễn giải Kinh thánh. Một phần lớn diễn đạt của ngài dựa trên phương pháp "loại dạng thái" (typologie) của Origène.


Khi nghiên cứu một bản văn Kinh thánh, ngài quan sát các bản dịch hiện có, trong tiếng La tinh, Hy lạp và Do thái. Các bản khác nhau này giúp ngài tìm ra ý nghĩa gần nhất của tác giả được linh hứng. Trước tiên, ngài dịch lại bản văn, và kế đến ngài tìm ý nghĩa lịch sử của nó, và sau đó, ý nghĩa phúng dụ của các bản dịch Hy lạp và so sánh chúng. Nói cách khác, ngài không ngại so sánh các bản dịch Kinh thánh để có thể giải thích được những văn đoạn khó hiểu. Trong thư số 120 gởi cho Hédybia, ngài khái niệm hóa phương cách làm chú giải: "trong tim mỗi người chúng ta đếu có được ba mô tả quy luật cũa Kinh thánh. Thứ nhất là phải tìm hiểu ý nghĩa lịch sử, thứ hai theo phưong pháp ẩn dụ (tropologie), thư ba là hiểu theo tâm linh của mình (inteligence spirituelle)"[32]


Sau đó, các nhà chú giải làm những cuốn sách gom tụ các trích dẫn của các giáo phụ , những trích dẫn mà người ta cũng thấy bên lề của các bản văn thánh. Các nhà chú giải Kinh thánh đề nghị đọc Kinh thánh bắt đầu từ một thánh giáo phụ được xem như một đấng có thẩm quyền trong việc này. Đi đôi với việc này, họ truyền bá 4 nghĩa Kinh thánh mà Origène đã thiết lập như chúng ta vừa nói trên đây.


Nói tóm lại, việc giảng giải Kinh thánh thời Trung Cổ, cho đến thế kỷ thứ 14, luôn theo phương pháp của các giáo phụ. Nhưng dần dần, người ta chứng kiến việc tách rời thần học và giảng giải Kinh thánh.


Từ thời kỳ Phục Hưng đến thế kỷ thứ XIX


Thời kỳ Phục Hưng (La Renaissance, thế kỷ XV) mở đầu một giai đoạn mới cho việc chú giải Kinh thánh. Trong thời kỳ này, khoa học và đức tin bắt đầu tách biệt. Kinh thánh được xem như là một chất liệu để nghiên cứu một cách khoa học, chủ nghĩa nhân bản muốn đọc một cách cá nhân các văn bản linh thiêng, yêu cầu dịch các bản văn này trong các ngôn ngữ Tây Âu, để mỗi người có thể đọc được. Các thay đổi quyết định trong lĩnh vực chú giải Kinh thánh đến trong những thế kỷ sau đó.


Vào giữa thế kỷ thứ XVII, xuất hiện Richard SIMON (1638-1712)[33], một nhà chú giải quan trọng, tuy phương pháp và giảng giải của ông bị chỉ trích, không những bị kết án bởi Bossuet (1627-1704), giám mục Pháp, văn sĩ và nhà thuyết giảng, mà còn nhiều người khác nữa vào thời đó. Ông nổi tiếng với tác phẩm Histoire critique du Vieux Testament (Lịch sử có phê phán sách Cựu ước) năm 1678, được tái bản năm 2008[34]. Chính ông đã đưa từ "phê phán" (critique) vào trong ngữ pháp và nhất là trong thế giới chú giải Kinh thánh.


Nghiên cứu của Richard SIMON được trình bày qua ba phần "ba cuốn sách". Cuốn thứ nhất nói về lịch sử dân Do thái từ thời Môsê đến ngày nay (tức là đến thế kỷ của Richard Simon, thế kỷ XVII-XVIII). Cuốn sách này được biết đến nhiều nhất và nó đã gây ra nhiều phản bác và tranh cãi, vì tác giả đã dám nghi ngờ rằng Môsê không phải là tác giả của toàn bộ sách Ngũ kinh như Truyền thống đã nói (tr. 87-318). Cuốn thứ hai phân tích xử lý các bản dịch chính của Kinh thánh (tr. 319-542). Phần này, có lẽ chứa đựng nhiều mới mẽ hơn. Và trong cuốn thứ ba, ông bàn thảo về cách dịch Kinh thánh và nói đến những phương pháp diễn giải Kinh thánh của các tác giả Do thái cũng như Kitô hữu. Trong phần này, Richard SIMON biểu lộ thái độ châm biếm nhất là khi phê phán những đồng nghiệp xưa và nay. Tuy vậy, phải công nhận tầm quan trọng của các tác phẩm của ông, đặc biệt là, ngày nay, ở thế kỷ 21, chúng ta đang biết đến những xứng đáng cũng như các giới hạn của phương pháp phê phán sử quan.


Vậy đâu là những điểm chính yếu của chú giải Richard SIMON? Jean-Louis SKA, giáo sư tại học viện Kinh thánh Rôma, đã vạch ra cho chúng ta thấy 4 trục chính của Richard SIMON trong việc chú giải Kinh thánh[35]. Những "trạng thái bản văn": "Đầu tiên, không thể hiểu hoàn toàn các sách thánh, trừ phi người ta đã biết trước đó những tình trạng lúc mà các bản viết của các sách được tìm thấy tuỳ theo thời gian và nơi chốn khác nhau, và nếu như người ta tìm biết được một các chính xác tất cả những thay đổi đã xảy ra trong bản viết."[36]


Nguyên tắc thứ nhất, tương tự như phương pháp phân tích và phê phán bản viết (critrique textuelle) hiện nay, áp dụng trong chú giải Kinh thánh bắt đầu từ thời Phục Hưng. Phải xác định được bản văn nguyên thủy. Theo Jean Louis SKA, vào thời đó, người ta mới sáng chế ra máy in và việc in ấn sách bắt đầu từ đó, vì thế, khi in Kinh thánh, người ta bắt buộc phải chọn bản thảo tốt nhất giữa các bản khác mà họ đang có.


Nguyên tắc thứ hai là phải đặt câu hỏi về tác giả[37]. Như chúng ta đã nói trên đây, chính  nguyên tắc này đã làm cho Richard SIMON nổi tiếng. Ông dựa trên nó để tìm kiếm tính cách xác thực của các bản văn Kinh thánh, đặc biệt là vấn đề ông Môsê được cho là tác giả của Ngũ kinh.


Nguyên tắc ngắn gọn[38]: Richard SIMON đã lấy và phát triển phuơng pháp này từ giáo phụ Origène. Nguyên tắc này nói rằng những bản thảo mà chúng ta có được là những bản được rút gọn từ những bản chính dài hơn. Nhưng điều đáng nói ở đây, Richard SIMON đã mời gọi chúng ta hãy suy nghĩ đến những hệ quả bất ngờ khác: không phải chỉ có vấn đề các bản thảo khác nhau, nhưng còn phải suy nghĩ đến việc truyền tải bản văn. Đương nhiên các nhà chú giải Kinh thánh hiện nay cũng vẫn rất chú trọng vấn đề này.


Nguyên tắc thứ tư liên quan đến truyền thống truyền khẩu và truyền thống văn bản[39]. Richard SIMON muốn bảo vệ ý tưởng truyền thống, ý tưởng mà Giáo hội Công giáo rất ưa chuộng. Đã từ lâu, cũng như Giáo hội Do thái, Giáo hội chúng ta luôn xác định rằng có một truyền thống truyền khẩu bên cạnh truyền thống văn bản. Tuy khái niệm này có thể biến đổi một chút với thời gian, nhưng vẫn là một trong những điều mà các nhà chú giải phải chú ý. Không phải như một vài người đã nghĩ, khi một bản văn được viết, thì người ta im lặng trên vấn đề đó. Những hình thái truyền khẩu vẫn tồn tại sau khi các bản văn Kinh thánh đã ra đời. Và hai truyền thống có thể đã ảnh hưởng và bổ túc lẫn nhau. Như thế, chúng ta thấy việc đóng góp của Richard SIMON không nhỏ trong lĩnh vực chú giải.


Chúng ta cũng không thể bỏ qua ông Jean Astruc[40], Tin lành, sinh tại Sauve (Gard) năm 1684 và chết tại Paris năm 1976, tuy là một bác sĩ đã viết nhiều tác phẩm quan quan trọng trong lĩnh vực triết học và y khoa về bệnh giang mai (syphilis) và các bệnh phong tình lây qua đường tình dục (maladies vénériennes), nhưng cũng là một trong những nhà tiên phong trong lĩnh vực chú giải Kinh thánh. Năm 1753, ông xuất bản cuốn Conjectures sur les mémoires originaux dont il paraît que Moyse s’est servi pour composer le livre de la Genèse (Những giả thuyết về các hồi ký nguyên thủy trong đó cho rằng Môsê đã dùng để viết sách Sáng Thế). Ông đã chỉ ra được, trong Kinh thánh, và nhất là trong Ngũ kinh, mà theo truyền thống, Môsê là tác giả duy nhất, nhiều đoạn văn xuôi (prosateurs) có thể định căn được qua phong văn của chúng. Như vậy chúng ta có thể nói Astruc là cha đẻ của lý thuyết "tài liệu" (théorie documentaire)[41], một lý thuyết đã ảnh hưởng một thời gian dài trong lĩnh vực chú giải Kinh thánh.


Vào thế kỷ thứ XIX, hầu như các nhà nghiên cứu đều chấp nhận  ý tưởng cho rằng Môsê không thể là tác giả những đoạn văn, nằm trong Ngũ kinh, vì chúng được viết trong khoảng thế kỷ thứ IX và thứ V trước Đức Kitô. Khoảng cuối thế kỷ XIX, Julius Wellhausen[42], một nhà chú giải Kinh thánh người Đức (1844-1918), tuy không là người khởi xướng lý thuyết "tài liệu", đã hệ thống hoá phương pháp và cho nó một tính cách thích đáng mới. Trước đây và sau đó cũng không có ai có thể làm như ông. Vì thế, tất cả tất cả mô thức chú giải trải dài đến năm 1970 đều được gắn kết với tên ông.[43]


Theo Wellhausen (và rất đông những nhà chú giải kế nghiệp đã phát triển và phức tạp hóa lý thuyết này), Ngũ kinh là tác phẩm kết hợp bởi nhiều nguồn tài liệu. Mỗi tài liệu được viết một cách độc lập và được phát hành như vậy. Mỗi tài liệu có thể là tác phẩm của một hay nhiều tác giả đã khai thác các nguồn truyền khẩu hay văn bản được viết trước đó. Giả thuyết của Wellhausen cho rằng có 4 tài liệu cơ bản trong Ngũ kinh. Để dễ dàng nắm bắt, chúng ta trình bày chúng trong bảng tổng kết sau đây:


Tài liệu

Mã số

Niên đại

Tác giả

YAHVISTE (dựa trên YHVH)

J Jahvist

thế kỷ thứ X trước Đức Kitô

Văn sĩ miền nam (Giêrusalem) thuận về chế độ quân chủ trong nước Israël

ELOHISTE

(Elohim: Thiên Chúa)

E

thế kỷ thứ IX hoặc thứ VII trước Đức Kitô

Văn sĩ miền bắc (vương quốc Samarie) ít theo chủ trương quân chủ và ảnh hưởng bởi trào lưu ngôn sứ

DEUTÉRONOME

(Đệ Nhị Luật)

D

Cuối thế kỷ thứ VII trước Đức Kitô (triều đại vua Josias)

Nhà lập pháp ở Giêrusalem

SACERDOTAL (Tư tế)

P Priestercodex

Thế kỷ thứ VII

Các tư tế Giêrusalem bị lưu đày ở miền Babylone


Chú thích:

[25] Justin, http://religions.free.fr/2450_peres_eglise/2480-repas-justin.html, tham khảo ngày 25/03/2015.

[26] Vào thời Origène, Thư gởi tín hữu Do thái, được xem như là thư của thánh Phaolô.

[27] HARL, Marguerite, "Introduction à la Philocalie" Philocalie livre 1-20, Des Sources Chrétiennes, 302, Paris, Cerf, 1983.

[28] Marguerite HARL, "Introduction à la Philocalie", Philocalie livre 1-20, et La Lettre à Africanus sur l'histoire de Suzanne (par Origène), Des Sources Chrétiennes, 302, Cerf, Paris, mai 1983, tr.  99.

[29] "l’un défend une idée, un autre une autre idée ; pourquoi pas l’une et l’autre, si elles sont vraies, et pourquoi pas une troisième, une quatrième et tout autre si on peut les apercevoir ; pourquoi ne pas croire que Moïse les a toutes perçues … j’aimerais que toute donnée vraie saisie par chacun eut un écho dans mes paroles, plutôt que d’asseoir une seule idée vraie en excluant les autres où rien de faux ne me choquerait (theo cuốn  XII, 31/42).

[30] Théodore de Cyr, http://fr.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A9odoret_de_Cyr, tham khảo ngày 25/03/2015.

[31] Đa số các bản văn Kinh thánh, cộng với bản 70, được biết trong ngôn ngữ Hy lạp. Hơn nữa, ở các phố Hy lạp (les cités grecques), thường diễn ra những cuộc thảo luận thần học sôi động, trong khi đó, ở phương tây, ít thấy hơn các cuộc họp có tính cách thần học như vậy. Những bản dịch các chú giải Kinh thánh của Origène, cũng như các bài viết của Didyme người mù đã làm giàu kiến thức của những người Kitô hữu La tinh về các tác giả Đông phương.

[32] "Il y a dans notre cœur une triple description qui est la règle des Écritures. La première est de les comprendre selon le sens historique, la seconde selon la tropologie, la troisième selon l'intelligence spirituelle" (lettre 120 § 12, Jérôme de Stridon).

[33] Jean Louis SKA, "Richard SIMON, un pionnier sur les chantiers de la traduction", RSR 2009/2, Tome 97, tr.  307-316.

[34] Richard SIMON, Histoire critique du Vieux Testament (1678), suivi de Lettre sur l’inspiration. Nouvelle édition annotée et introduite par Pierre Gibert, Bayard, Paris, 2008.

[35] Jean Louis SKA, "Richard SIMON, un pionnier sur les chantiers de la traduction", RSR 2009/2, Tome 97, tr.  75-79.

[36] "Premièrement il est impossible d’entendre parfaitement les livres sacrés à moins que l’on ne sache auparavant les différents états où le texte de ces livres s’est trouvé selon les différents temps ou les lieux, et si l’on n’est instruit exactement de tous les changements qui lui sont survenus." (tr. 75, Richard SIMON)

[37] Richard SIMON, tr. 75-76.

[38] Richard SIMON, tr. 78.

[39] Richard SIMON, tr. 80-81.

[40] Jean Astruc, http://fr.wikipedia.org/wiki/Jean_Astruc, tham khảo ngày 25/03/2015.

[41] Thomas RÖMER, Jean-Daniel MACCHI, et Christophe NIHAN (éd), Introduction à l’Ancien Testament, Labors et Fides, Genève 2009, tr.  142.

[42] Julius Wellhausen, http://fr.wikipedia.org/wiki/Julius_Wellhausen, tham khảo ngày 25/03/2015.

[43] Thomas RÖMER, Jean-Daniel MACCHI, et Christophe NIHAN (éd), tr.  143.

Trong thời gian đầu, tài liệu E, phát xuất từ vương quốc miền bắc (Samarie), được đem đến Giêrusalem sau khi thành phố Samarie sụp đổ năm 722. Và từ đó nó được trộn lẫn với tài liệu J, tạo thành tài liệu JE (document jéhoviste).



Sau thời lưu đày ở Babylone (582-538), tài liệu tư tế (P) đã thêm vào nhựng đoạn văn có tính cách pháp luật và trở thành Ps, sau đó lại hòa trộn với JE để cho bộ Tétrateuque (JEP), bốn cuốn đầu của Kinh thánh. Cuối cùng, sách Đệ Nhị Luật được thêm vào để tạo thành Ngũ kinh (JEDP) mà chúng ta có bây giờ.


Lý thuyết thật hấp dẫn đã đồng hành với bao nhà chú giải, và được xem như một "tín điều" trong một vài môi trường nghiên cứu Kinh thánh[44]. Trong một quãng thời gian dài hằng chục năm, không ai dám đặt lại câu hỏi về nó. Nhưng dần dần, bắt đầu xuất hiện những phê bình chống lại một lý thuyết đã không chú trọng đến sự phức tạp của cấu tạo bản văn.


- Trước tiên, tài liệu gọi là "Elohiste" (bởi vì theo Wellhaussen, người văn sĩ được cho là tác giả tài liệu này gọi Thiên Chúa là "Elohim" (trong tiếng Do thái, từ này có hình trạng một danh từ số nhiều với "- im". Theo lý thuyết tài liệu, những phân đoạn được chỉ ra trong Ngũ kinh, khi tụ hợp lại phải đến từ một cuốn sách hoàn hảo. Nhưng hiện nay, rất ít nhà chú giải còn tin có hiện hữu một cuốn sách như vậy.


- Thứ đến, tài liệu được gọi là "Yahviste", - bởi vì trong các đoạn văn này, tác giả giả sử đã gọi Thiên Chúa là Yahvé (thực ra người ta không thể gọi tên Thiên Chúa, nên khi gặp từ này được ghi bởi bốn phụ âm YHVH, người ta lấy chữ adonai, có nghĩa là chúa, và một số bản dịch đã lấy những nguyên âm của từ adonai bỏ và "tétragramme" YHVH (Tétra = 4, gramme = kí hiệu), nên chúng ta có trong những bản dịch Kinh thánh tây phương từ Yahvé, hoặc Yehovah,...- khó mà xác định một cách chính xác. Kết quả là, mỗi nhà chú giải các sách Ngũ kinh định một các khác nhau giới hạn của những đoạn văn thuộc cho là thuộc tài liệu này, mà không chỉ hoặc giải thích cho người đọc biết lý do việc xác định của họ. Hơn nữa, người ta cũng đạt lại vấn đề định niên đại của tài liệu này, một vài nhà chú giải cho rằng những đoạn văn này trong khoảng thế kỷ thứ VII hoặc sau đó.


- Cuối cùng, người ta nhận thấy có những khối lớn các bản văn không liên quan gì cả đến các bản văn khác được xếp trong cùng một tài liệu. Như thế, điều này không tương hợp chú nào với giả sử cho là người ta đã hoà nhập với nhau các tài liệu liên quan về một câu chuyện.


Và từ đó, các nhà nghiên cứu Kinh thánh đã cho ra hai giả thuyết khác.


- "Lý thuyết những mảng văn" (théorie des fragments) cho rằng người ta đã tổng hợp nhiều truyền thống truyền tải một cách độc lập thành bộ Ngũ kinh. Chẳng hạn, người ta xếp các bản viết đến từ các truyền thống độc lập có cùng một chủ đề trong một hay nhiều bản văn.


- "Lý thuyết ‘bổ túc’" cho rằng chỉ có một tài liệu duy nhất cơ bản, và tài liệu này được sửa chữa nhiều lần, nhất là được thêm vào các bản văn bổ túc.

Hiện nay, ở thế kỷ XXI này, các nhà nghiên cứu đã cố gắng làm rõ công việc của hai trường phái sáng tác văn bản sau đây:


- Trường phái Đệ nhị luật (DTR). Theo thuyết này, những bản văn Kinh thánh được viết ở Babylone đầu thời lưu đày bởi các luật sĩ xa quê hương. Một số người trong nhóm này rất gần với môi trường ngôn sứ, nhất là gần với các môn đệ của Giêrêmia. Trường phái Đệ nhị luật quan tâm trước tiên đến việc giải thích tại sao dân tộc Ítraen phải lưu đày sau khi mất quê hương, đền thờ và vua của họ. Các văn sĩ soạn thảo cốt yếu lịch sử của Ítraen bắt đầu từ sách Josuê đến sách các Vua. Người ta gọi trường phái này là Đệ Nhị Luật bởi vì họ chịu trách nhiệm việc hình thành sách Đệ Nhị Luật.


- Trường phái Tư tế (P). Các bản văn Kinh thánh thuộc nhóm này cũng được soạn thảo trong thời kỳ lưu đày, có lẽ trễ hơn một chút so với những bản văn của trường phái Đệ nhị luật. Theo như tên của trường phái, họ là những tác giả lớn lên trong môi trường giáo sĩ Ítraen. Người ta nhận ra phong văn của họ nhờ chú ý đến các chi tiết chăm chuốt, những xác định rõ thời gian, và danh sách gia phả.


Sau thời lưu đày, cả hai trường phái này tiếp tục chỉnh sửa các bản văn của Ngũ kinh cho tới hình thái mà chúng ta có ngày hôm nay. Do đó, người ta nói đến việc đọc lại thời Hậu Tư Tế và Hậu Đệ nhị Luật.


Trở về lại cuối thế kỷ thứ XIX, người ta cũng bắt đầu phương pháp so sánh lịch sử các tôn giáo. Nhưng thực ra, họ muốn xem các câu chuyện Kinh thánh như các huyền thoại gần giống  thấy nơi các tôn giáo khác, để loại đi các bản văn có tính cách kỳ diệu và siêu nhiên. Cũng trong thời kỳ này, rất nhiều bản văn viết về cuộc đời chúa Giêsu xuất hiện. Năm 1863, Joseph Ernest Renan[45], văn sĩ, triết gia, từ học, và sử gia, rất yêu mến khoa học, ông chấp nhận ngay giả thuyết của Darwin về sự tiến hoá của các loài vật. Ông thiết lập tương quan chặt chẽ giữa các tôn giáo và nguồn gốc chủng tộc địa lý. Từ năm 1863 đến 1881, ông đã soạn thảo ra 7 cuốn của bộ sách Histoire des origines du Christianisme (Lịch sử các nguồn gốc Kitô giáo; và cuốn Vie de Jésus  (Đời sống chúa Giêsu) năm 1863.


Tác phẩm này đã gây ấn tượng trong giới trí thức vào thời đó và tạo ra tranh cãi, vì ông cho rằng phải hiểu  tiểu sử của Chúa Giêsu như của bất cứ con người bình thường nào, và Kinh thánh phải chịu sự phân tích phê phán như những tài liệu lịch sử khác. Chủ trương này gây ra những tranh cãi say mê và tức giận trong Giáo hội Công giáo.


Trong thời gian này chúng ta phải nói đến một nhà thần học quan trọng khác đã dám đặt lại vấn đề chú giải truyền thống. Khoa chú giải lúc đó còn dùng Kinh thánh để giải thích các vần đề có tính cách khoa học, chẳng hạn như việc trời đất được thành hình.


Alfred LOISY (1857-1940)[46], giảng dạy Kinh thánh tại Học Viện Thần Học Công giáo Paris lúc mới thành lập (ICP) và giáo sư sau này tại Trường Thực Nghiệm Nghiên Cứu Cao Cấp (École pratique des hautes études, EPHE), đại học Sorbonne, là người khởi đầu năm 1902 sự khủng hoảng chủ nghĩa canh tân (hiện đại, modernisme), bị Rôma dứt phép thông công năm 1908, nhưng được phục hồi một cách mặc nhiên và không toàn bộ bởi Công đồng Vaticanô II. Năm 1891-1892, khi cho ra đời cuốn sách La composition et l’interprétation historique des livres saints (Tác văn và diễn giải theo lịch sử các sách thánh), ông đã bị giới thẩm quyền Giáo hội Công giáo chống đối, ngay cả Đức cha Hulst, người đã ủng hộ và đỡ đầu Loisy, cũng treo chức giảng dạy của ông ở đại học Công giáo và sau đó loại hẳn ông năm 1893.


Năm 1902, để phản bác cuốn sách Das Wesen des Christentum (Điều chính yếu của Kitô giáo) viết bởi nhà thần học Tin lành người Đức tên là Adolf von Harnack, Loisy xuất bản cuốn L’Evangile et l’Eglise (Tin Mừng và Giáo hội)[47], còn được gọi là sách đỏ vì bìa của nó màu đỏ, đã gây ra tranh cãi. Nhiều địa phận Công giáo kết án nó, nhưng Rôma vẫn chưa can dự vào. Tại sao tư tưởng của Loisy bị kết án? Để hiểu hơn vấn đề này, chúng ta nhắc lại câu nói nổi tiếng  đã gây ra nhiều bức xúc của ông: "Giêsu đã loan báo Nước Trời, nhưng chính Giáo hội lại đến."[48] Thực ra, khi đọc nó trong bối cảnh của bản văn, chúng ta hiểu hơn quan điểm của tác giả, không hẳn là chống đối Giáo hội, nhưng đã đọc Tin Mừng theo tính cách lịch sử: "Trách Giáo hội Công giáo qua tất cả quá trình phát triển hình thành, là trách cứ Giáo hội đã sống theo những gì không được cho là cần thiết đối với Tin mừng."[49]"Giêsu đã loan báo Nước Trời, nhưng chính Giáo hội lại đến." Giáo hội đến để mở rộng môi trường Tin mừng, mà chúng ta không thể giữ nguyên trạng thái, ngay từ khi việc khổ nạn của Đức Kitô đã khép lại.


Năm 1893, Đức Giáo hoàng Lêô XIII, là vị đầu tiên đã cho ra đời một Tông thư định hướng việc nghiên cứu và chú giải Kinh thánh, có tên là Providentissimus Deus.[50] Trước tiên vị Giáo hoàng này đã xem lại quá trình lịch sử nghiên cứu Kinh thánh từ thời giáo phụ cho đến lúc đó. Ngài lên án những sai lầm của chủ nghĩa duy lý và việc phê phán cực đoan, ngài trình bày những nguyên tắc nghiên cứu Kinh thánh và đưa ra những huấn dụ về cách giảng dạy Kinh thánh trong các đại chủng viện. Ngài cũng nói đến những mâu thuẫn bên ngoài giữa Kinh thánh và khoa học vật lý. Ngài cũng chứng tỏ rằng những mâu thuẫn bên ngoài này có thể giải thích được.


Tông thư Providentissimus Deus đã đối đầu với hai thách thức của thế kỷ XIX đối với thẩm quyền Kinh thánh: khoa học nhất là với lý thuyết tiến hoá và phương pháp phê phán sử quan. Theo Đức Giáo hoàng Lêô XII, một khoa học chân chính không thể nói chống lại Kinh thánh khi những sách này được giải thích một cách thỏa đáng, và những sai lầm của các giáo phụ không là những bằng chứng sai lầm của Kinh thánh. Hơn nữa, chưa chắc những gì chứng minh bởi khoa học đều đúng.


Kế đến ngài cho rằng sử dụng phương pháp phê phán sử quan để nghiên cứu Lời Thiên Chúa đem người ta tới việc đặt lại vấn đề toàn vẹn của Kinh thánh. Ngài công nhận những khác biệt trong các bản văn do bởi các văn sĩ, nhưng ngài lên án lối diễn giải cho rằng chỉ một phần Kinh thánh là đúng, trong khi các yếu tố khác là chủ đề gây sai lầm. Đối với ngài, việc giảng dạy Kinh thánh nhắm cốt yếu đến các sự thật và phương tiện cần thiết cho sự cứu độ. Nói một cách khác là Kinh thánh không có mục đích gì cả về khoa học.


Đức Giáo hoàng Piô X, kế nhiệm Đức Lêô, trong Tông hiến Lamentabili sane exitu ngày 3 tháng 7 năm 1907  đã lên án một cách cụ thể 65 đề nghị của phái Canh Tân (modernisme). Và vài tháng sau đó, ngày 8 tháng 9 năm 1907, Đức Giáo hoàng Piô X cho ra đời Tông thư Pascendi, có nhan đề phụ là, Tông thư của Đức Giáo hoàng Piô X về những sai lầm của chủ nghĩa Canh Tân (hay chủ nghĩa Hiện đại). Trong tài liệu này, ngài đã bác bỏ các luận đề của Alfred LOISY. [51]


Phải nói như François Laplanche trong tác phẩm La Crise de l’origine (Sự khủng hoảng của nguyên thủy)[52], người Công giáo đã không muốn rời khỏi đường lối chú giải có tính cách hộ giáo để đi vào khoa học các tôn giáo. Tuy vậy, người Công giáo không bao giờ từ bỏ việc diễn giải Kinh thánh. Chúng ta thấy rõ điều này hơn trong thế kỷ 20 và 21, thế kỷ mà chúng ta đang sống.


Thế kỷ XX-XXI


Bước vào thế kỷ XX, Giáo hội Công giáo bắt đầu sáng lập những trung tâm nghiên cứu Kinh thánh quan trọng. Trung tâm có thế giá nhất được thành lập năm 1890 tại đất thánh Giêrusalem, chính là Trường Kinh thánh và Khảo cổ học Pháp quốc[53], với sự khởi đầu với nhà chú giải danh tiếng Marie-Joseph Lagrange, dòng Đa Minh (1855-1938).  Nỗi đam mê và động lực thúc đẩy cha Marie-Joseph phát triển việc nghiên cứu Kinh thánh trong Giáo hội  Công giáo, vì thấy các giáo phái Tin lành quan tâm và có tự do trong việc nghiên cứu các bản văn Kinh thánh.[54]


Năm 1943, trong Tông thư Divino Afflante Spiritu, Đức Giáo hoàng Piô XII đã khích lệ một cách rõ ràng, các phương pháp chú giải phê phán và sự hỗ trợ của các công cụ khoa học có ích trong diễn giải sách thánh.[55]


Năm 1967, lúc mà Giáo hội đã không còn bắt buộc các linh mục tuyên thệ chống chủ nghĩa Canh tân Hiện đại (modernisme), ở Pháp, hội ACFEB[56] (Hiệp Hội Công giáo Nghiên cứu Kinh thánh) ra đời. Những nhà chú giải thành viên của Hội đã  nghiên cứu và diễn giải lại những bản văn theo phương pháp có tính cách lịch sử và khoa học, bị gián đoạn từ thời kỳ thiết lập tuyên thệ chống chủ nghĩa Hiện Đại (01/09/1910) cho đến giữa thời kỳ Công đồng Vaticanô  II (1962-1965), nhất là trong lĩnh vực cổ ngữ.


Năm 1964, Ủy Ban Kinh thánh Giáo Hoàng chào đón các nhà chú giải Kinh thánh Công giáo như những người hướng đạo trong Huấn dụ về sự thật lịch sử các Tin Mừng (Instruction sur la vérité historique des évangiles). [57]


Tài liệu ra đúng lúc khi các nhà nghiên cứu và chú giải đang đặt lại tính cách lịch sử của các dữ kiện đề trong  các  sách Tin Mừng: lịch sử của Đức Kitô có khách quan không? Những lời nói, hành vi và hoạt động của Đức Kitô được truyền đạt một cách đích thực hay không? Và nhất là khi xuất hiện các luận đề hấp dẫn của hai nhà thần học M. Dibelius và R. Bultmann[58] trên phương diện "lịch sử các hình thái văn học" (histoire des formes), đã muốn phân định nhân vật Giêsu Kitô ra hai thực tế khác nhau, một bên là Đức Kitô lịch sử, mà chúng ta không thực sự biết, vì không co tài liệu nào đã viết ra, và một bên khác là Đức Kitô của đức tin, và họ cho rằng đó là sáng tạo trong đức tin của cộng đoàn Kitô hữu nguyên thủy ở Giêrusalem. Bultmann đề nghị phương pháp loại bỏ ra ngoài các sác Tin Mừng những dữ kiện có tính cách thần thoại như các phép lạ, để nhìn Đức Kitô qua ánh mắt đức tin.


Tài liệu Giáo hội vừa nói ở trên đây nằm trong đường hướng của Tông thư Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo hoàng Piô XII. Tông thư vẫn luôn cổ võ và hỗ trợ việc nghiên cứu Kinh thánh theo các nguyên tắc thông diễn có tính cách lý luận và Công giáo và nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các nhà chú giải, nhưng khuyến cáo  cảnh giác trước những thành kiến theo các trào lưu triết học và thần học, như là chủ nghĩa duy lý hay chối bỏ truyền thống làm sai lạc ngay đến các phương pháp lịch sử. Những nghiên cứu lịch sử trên sự hình thành truyền thống Tin Mừng, và các biến cố của đời sống Đức Kitô đã được chứng nhận.


Ngày 08 tháng 09 năm 1965, các nghị phụ đã bỏ phiếu đồng thuận Hiến chế Dei Verbum, Hiến chế Tín Lý về Mặc khải Thiên Chúa, một trong bốn tài liệu chính của Công đồng Vatican II, và đã được ban hành ngày 18 tháng 11 bởi Đức Giáo hoàng Phaolô VI. Qua sáu chương của tài liệu, Giáo hội đã định điểm lại phương cách mặc khải của Thiên Chúa qua Kinh thánh, đã được đón nhận như là Lời phát ra từ miệng Ngài.


Đến năm 1993, Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh cho ra đời tài liệu Việc giải thích Kinh thánh trong Hội thánh. Giáo hội xác định lập trường của mình trên tất cả các câu hỏi có liên quan đến Kinh thánh, và muốn khảo sát tất cả các phương pháp có thể góp phần vào trong việc làm tăng giá trị giàu có chứa đựng trong các bản văn Kinh thánh, để lời của Thiên  Chúa có thể trở nên thực phẩm thiêng liêng cho các thành viên dân Thiên Chúa. Tài liệu đã phân định tầm quan trọng các công cụ chú giải Kinh thánh qua tên các gọi "phương pháp" hay tiếp cận, và đặt phương pháp sử quan lên hàng đầu các phương pháp khác. Chính Đức Hồng y Giuse Ratzinger đã viết lời mở đầu và đệ trình cho Đức Giáo hoàng Gioan- Phaolô II.


Năm 2007, trong tác phẩm Giêsu Nazaret[59], Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI tuyên bố rằng các chú giải Kinh thánh theo phương pháp phê phán sử quan phải được hỗ trợ bởi phương pháp thư quy và tín lý (exégèse cannonique, dogmatique).


Ngày nay, phương pháp phê phán sử quan vẫn có chỗ đứng thích đáng: một là phê phán nội tại có mục đích thiết lập lại được bản văn nhờ ngôn ngữ và các bản thảo xa xưa cho phép việc phân tích văn chương, hai là phê phán ngoại tại nhằm mục đích xác định vị trí bản văn trong lịch sử.


Bắt đầu từ những năm 1970, các nhà chú giải phê phán sử quan đã chú ý đến tầm quan trọng các khám phá mới trong các lĩnh vực khoa học nhân văn, và các khoa học văn bản như ký hiệu học (sémiotique), xã hội học và văn khoa. Họ diễn giải Kinh thánh nhờ sự kết hợp các phương pháp với nhau để làm sáng tỏ hơn các ý nghĩa của bản văn.


Và từ đó, các nhà chú giải cần phải xem các bản văn Kinh thánh như những tường thuật hay diễn văn được soạn thảo theo một văn phạm chuyện kể và có mục đích trong tiến trình truyền thông.  Công việc này được phát triển nhờ lý thuyết triết học thông diễn của triết gia Heidegger[60], và các người theo quan điểm của ông như Gadamer và Ricoeur.


Lý thuyết Thông diễn học của H. G. Gadamer, và sau đó, Paul Ricoeur, - được nhắc đến trong tài liệu Việc giải thích Kinh thánh trong Giáo hội, ấn hành năm 1993, - đã ảnh hưởng rất lớn đến khoa học luận của chú giải Kinh thánh trong môi trường chú giải Pháp ngữ và  đòi hỏi các nhà chú giải đặt lại vấn đề tách biệt giữa bên viết và bên đọc. Trong khoảng các năm từ 1920 đến 1960, các nhà chú giải Hoa kỳ đã dùng và phát triển các tiếp cận văn học để đọc các bản văn Kinh thánh, họ chú ý đến kỹ thuật thuật chuyện của người kể trong mục đích truyền đạt thông điệp đến người đọc.


Các nhà chú giải luôn vận dụng khả năng phân tích và lý luận của mình để làm mạch lạc tương quan giữa phương pháp có tích cách phân tích lịch đại (diachronique), xuyên thời gian của phương pháp phê phán sử quan và các phương pháp có tính cách đồng đại (synchronique), đồng thời với thời gian, như các tiếp cận ký hiệu học, thuật chuyện, thư quy, Tu từ học, xã hội, ... Vấn đề này đang còn bàn bạc và tranh cãi, nhưng luôn trong mục đích làm giàu có và sáng tỏ ý nghĩa các bản văn Kinh thánh[61].


Kết luận chương I


Chúng ta vừa lược qua lịch sử chú giải Kinh thánh trong Do thái giáo, Kitô giáo nói chung và Giáo hội Công giáo nói riêng. Bước đường này cho chúng ta nhận ra một phần về ý thức của Giáo hội và tầm quan trọng của các công cụ lịch sử, văn chương hay khoa học trong việc Thánh ý Thiên Chúa qua lời của Ngài. Dĩ nhiên, lịch sử thực sự của hơn hai ngàn năm đọc và hiểu lời Thiên Chúa không thể tóm gọn được trong vài chục trang giấy.


1) Trong truyền thống dân Thiên Chúa và ngay từ thời Đức Kitô, ai cũng hiểu rằng con người luôn được nuôi dưỡng đức tin và đời sống tôn giáo của họ bằng chính lời của Ngài. Chính Đức Kitô đã trả lời quỷ cám dỗ rằng: "Ðã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4,4).


Và Chúa Giêsu cũng đã nói với Mácta, người đã quá quan tâm lo lắng và bận rộn trong việc tiếp đãi Ngài khi thấy em mình chỉ biết ngồi nghe chuyện mà không phụ giúp chị mình: "Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi" (Lc 10,42).


Thánh Phaolô cũng xác định lại giá trị của Kinh thánh qua thư ngài gởi cho ông Timôthê "Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô Giêsu.  Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính." (2Tm 3,15-16).


Và sau đó thánh Phêrô cũng cho một lời khuyên rất sống động: "Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ" (1 Pr 2,2).


Lời Thiên Chúa là sự thật (x. Ga 17,17), và đem con người đến sự thật (x. Ga 8,32). Thiên Chúa giáo cũng như Giáo hội Công giáo không bao giờ quên điều này. Dei Verbum số 24 đề cập đến mối tương quan giữa Kinh thánh và một số sinh hoạt nhằm đào tạo đức tin trong Giáo hội: việc rao giảng Lời Chúa, dạy Giáo lý, bài giảng trong phụng vụ… Phần liên quan đến thần học toàn văn như sau: "Khoa thần học dựa trên Kinh thánh và Thánh truyền như dựa vào một nền tảng vĩnh viễn. Trên nền tảng này, thần học được củng cố hết sức chắc chắn và mãi mãi đuợc trẻ trung trong khi tìm kiếm, dưới ánh sáng chân lý đức tin, mọi chân lý tiềm ẩn trong mầu nhiệm Chúa Kitô".


2) Trong Thiên Chúa giáo, để tìm thấy ý nghĩa Thiên Chúa muốn nói, từ Đức Kitô, các thánh Tông đồ và môn đệ, qua thời kỳ các thánh giáo phụ, Trung cổ, và cho đến thế giới chúng ta ngày hôm nay, ai cũng tìm cho mình những phương pháp giúp phát triển và tìm hiểu sâu hơn lời của Thiên Chúa. Nhờ vậy, chú giải Kinh thánh đã phong phú và giàu có hơn. Với sự phát triển các ngành khoa học nhân văn, Lời của Thiên Chúa được Mặc khải dưới những nhãn quan mới. Những phương pháp lịch sử, văn chương, hay khoa học bổ túc cho nhau trong việc tìm kiếm và hiểu biết ý nghĩa thiêng liêng của Kinh thánh.


Trong một số phương pháp hay tiếp cận, chúng ta không đề cập đến, trong đó cách đọc gọi là "lecture fondamentaliste"[62], tạm dịch là lối chú giải nệ cổ hay bảo thủ, đọc sát nghĩa và không bao giờ quan tâm đến sự thật và cũng không đặt nó vào bối cảnh hình thành. Tài liệu Việc giải thích Kinh thánh trong Giáo hội đã viết một các rõ ràng: "Lối tiếp cận bảo thủ nguy hiểm, vì nó hấp dẫn đối với những con người đang tìm kiếm những câu trả lời có sẵn của Kinh thánh cho những vấn đề của cuộc sống. Nó có thể đánh lừa họ khi đem lại cho họ những cách giải thích đạo đức nhưng lại là ảo tưởng hão huyền, thay vì nói cho họ biết rằng Kinh thánh không nhất thiết chứa đựng một câu trả lời trực tiếp cho mỗi vấn đề như thế. Chủ trương bảo thủ đưa tới một hình thức tự sát của tư tưởng, dù không nói ra. Nó đưa vào trong đời sống một xác tín giả dối, bởi vì nó vô tình lẫn lộn những giới hạn của con người trong sứ điệp Kinh thánh với bản chất thần linh của sứ  điệp ấy.’’[63]


3) Khi nói đến Kinh thánh như một thực phẩm linh thiêng của Thiên Chúa, các nhà chú giải phải chú ý đến các độc giả mà Thiên Chúa đã ban tặng thực phẩm thần thiêng này. Lời của Thiên Chúa được tiếp đón và thông hiểu sẽ làm lớn mạnh đức tin và tình yêu của họ đối với Thiên Chúa. Như thế quan trọng là chúng ta luôn không bỏ qua các phương pháp chú giải ngày xưa và quan tâm đến các Thông diễn học ngày nay. Một khớp nối liên thông hỗ tương đang đuợc khám phá và phát triển.

Chúng ta hãy bước sang chương hai trên con đường tìm hiểu ý nghĩa Kinh thánh.


Chú thích:

[44] Tôi biết một câu chuyện khá thú vị có liên quan đến lý thuyết tài liệu này. Nhà chú giải Kinh thánh Jacques BRIEND, thầy của tôi, đã từng là giáo sư Kinh thánh ở đại học Công giáo Paris, cũng như ở Giê ru sa lem, có tiếng là rất nghiêm nhặt trong việc nghiên cứu Kinh thánh, và ông ta trước đây cũng là 1 trong 15 thành viên của Ủy Ban Kinh thánh thế giới. Ông ta là tác giả cuốn Cahier Evangile số 15, có chuyên đề là "Une lecture du Pentateuque", xuất bản năm 1976 (bộ sách CE chuyên xuất bản mỗi số với một đề tài Kinh thánh, tài liệu căn bản cho những ai học Kinh thánh). Đương nhiên, vào thời đó nhà chú giải Kinh thánh có tiếng tăm này, là một tronng những người dạy cho các sinh viên về phuơng pháp này. Nhưng 10 nằm sau đó, người ta khám phá ra rằng nhiều điểm của lý thuyết không thể được áp dụng nữa. Những sinh viên học Kinh thánh sau này biết rõ điều đó, nhưng còn những người không phái là sinh viên thần học thì sao ? Một hôm cha Jacques BRIEND được một cộng đoàn nữ tu mời đến thuyết trình về Kinh thánh, họ hớn hở đem cuốn Cahier số 15 ngài đã viết và xem như một tài liệu căn bản. Vào thời điểm đó, cha đã không còn dừng lại ở đó nữa, lý thuyết nghiên cứu sách Ngũ Kinh đã tiến triển,  và  như thế những điều xác quyết tron cuốn CE số 15 đã sai lạc rồi. Vì lo sợ các tín hữu Kitô giáo còn tiếp tục đọc  CE số 15, ngài xin nhà xuất bản đừng bỏ số đó trong danh sách các số CE.

[45] Ernest Renan, http://fr.wikipedia.org/wiki/Ernest_Renan, tham khảo ngày 25/03/2015.

[46] Alfred LOISY, http://fr.wikipedia.org/wiki/Alfred_Loisy, tham khảo ngày 25/03/2015.

[47] Alfred LOISY, L'Évangile et l'Église, Paris, Alphonse Picard et fils, 1902.

[48] Alfred LOISY, L'Évangile et l'Église, tr.  110-112.

[49] "Reprocher à l'Église catholique tout le développement de sa constitution, c'est donc lui reprocher d'avoir vécu, ce qui pourtant ne laissait pas d'être indispensable à l'Évangile même", Alfred LOISY, L'Évangile et l'Église, tr.  110-112.

[50] http://w2.vatican.va/content/leo-xiii/fr/encyclicals/documents/hf_l-xiii_enc_18111893_providentissimus-deus.html, tham khảo ngày 15/12/2014.

[51] Bài tóm tắt việc chống lại những người theo chủ trương Hiện Đại vẫn còn được nhắc lại trong motu proprio (tự sắc) Sacrorum antistitum năm 1910. Các linh mục vẫn phải tuyên thệ chống chủ nghĩa Hiện Đại mãi đến năm 1967, năm Giáo hội đã bỏ việc bó buộc này.

[52] François Laplanche, La Crise de l’origine. La science catholique des Évangiles et l’histoire au xxème  siècle, coll. de l’humanité, Paris, Albin Michel, 2006, 718 tr.

[53] Ngày nay, trường này trở nên một trung tâm nghiên cứu khảo cổ danh tiếng và được nước Pháp hỗ trợ một phần về tài chánh.

[54] Phải thán phục sự nhẫn nại và kiên trì của Cha Marie-Joseph Lagrange trước những thay đổi và biến chuyển qua 4 triều đại giáo hoàng trong công việc này. Theo sách mới viết của Bernard MONTAGNES, (Marie-Joseph LAGRANGE, une biographie critique, Histoire, Paris, Cerf, 2005), Đức Giáo hoàng Lêô XIII, đã mời cha Marie Joseph thành lập trường Kinh thánh và Khảo cổ, nhưng Đức Giáo hoàng Piô X, vì lo đối phó với phong trào Canh tân (chủ nghĩa Hiện đại), nên luôn lo sợ những hệ quả nguy hại của phương pháp chú giải có tính cách phê phán, và không ngừng nghi ngờ những công trình nghiên cứu của trường này, cho đến lúc ngài trách công khai năm 1912 qua sứ vụ của Đức Hồng y Gaetano de Lai (1853-1928). Đức Giáo hoàng Biển Đức XV, mặc dầu quay đầu lại với hướng đi trước đó, trong Tông thư Spiritus paraclitus, thay vì ủng hộ và cổ võ, đã không thừa nhận những công trình của cha Lagrange. Vào thời Đức Giáo hoàng Piô XI, công việc của cha chỉ được ca tụng vào cuối triều đại qua Hồng y Tisserand. Cuối cùng, định hướng nghiên cứu Kinh thánh của cha Marie- Joseph  chỉ được chấp nhận trong Tông thư Divino afflante Spiritu của Đức Giáo hoàng Piô XII năm 1943.

[55] Pie XII, Divino Afflante Spiritu, 30 septembre 1943, §15.

[56] Association Catholique Française pour l’Étude de la Bible.

[57] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, (Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh), Instruction du 21 avril 1964 sur la vérité historique des Evangiles, (Văn  bản La Tinh trong L’Oss. Rom. du 14 mai 1964 - dịch sang tiếng Pháp, xuất bản trong L’Oss. Rom, năm 1964).

[58] Rudolf Bultmann, http://fr.wikipedia.org/wiki/Rudolf_Bultmann, tham khảo ngày 25/03/2015.

[59] Joseph RATZINGER, Jésus de Nazareth, Tome 1, Essai, Paris, Flammarion, 2007.

[60] Martin Heidegger, http://fr.wikipedia.org/wiki/Martin_Heidegger tham khảo ngày 25/03/2015.

[61] DE MOOR Johannes C. (éd), Synchronic or Diachronic ? A Debate on Method in Old Testament Exegesis : Papers Read at the Ninth Joint Meeting of het Oudtestamentisch Werkgezeschap in Nederland en Belgie and the Society for Old Testament Study, Held at Kampen 1994, Leiden/New York/Cologne, Brill, 1994.

[62] F. "lecture fondamentaliste", L’Interprétation de la bible dans l’Eglise, Paris, Cerf, 1994, tr.  61-64.

[63] L’interprétation de la Bible dans l’Eglise, document de la Commission Biblique Pontificale, 1993, chuyễn dịch bởi NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5 tháng 01 năm 2015.


2. Ý nghĩa kinh thánh


Trong chương 1, chúng ta đã nhắc nhiều lần ngôn từ "ý nghĩa". Đúng ra là không ai xa lạ với nó. Nhưng khi nói về ý nghĩa một điều gì đó, rất nhiều câu hỏi được đặt ra bó buộc chúng ta phải định nghĩa nó rõ hơn. Có những ý nghĩa rất cụ thể, đưa chúng ta đến việc nhận biết trực tiếp vấn đề. Ví dụ như khi ta nói, "lương thực hằng ngày" thì ai cũng hiểu, nhưng nếu nói, "lương thực trí tuệ", hay "lương thực hằng sống", thì có lẽ ai cũng phải dừng lại một chút để suy nghĩ. Mặc khác, ý nghĩa của tác giả chưa chắc đã hoàn toàn trùng hợp với bản văn, và nơi đầu óc tiếp nhận của người đọc. Như thế, trong lĩnh vực đặc biệt như Kinh thánh, lời Thiên Chúa được viết bởi kỹ thuật và bàn tay con người, vấn đề ý nghĩa không là một ý niệm đơn giản.


Chúng ta đã nhắc qua bốn loại ý nghĩa của bản văn Kinh thánh phát xuất từ kinh nghiệm các giáo phụ và các định nghĩa mới đây về "ý nghĩa" trong các tài liệu của Giáo hội Công giáo.


Hơn nữa, khi nói đến vấn đền ý nghĩa, chúng ta cũng không thể bỏ qua những khám phá gần đây của các triết gia trên vấn đề "Thông diễn học" (herméneutique): Hans-Georg GADAMER, Paul RICOEUR, Hans Robert JAUSSE.


Nhưng ý nghĩa không chỉ là một hay nhiều dữ kiện nắm bắt một cách hoàn toàn khách quan bởi trí tuệ, nhưng nó cũng là một nguyên tố năng động, có tính cách chủ quan, dẫn dắt và điều khiển con người trong tư tưởng và đời sống.


Vì thế, chúng ta cố gắng tìm hiểu lại bằng cách đi từng bước một từ câu hỏi căn bản ý nghĩa là gì cho đến khái niệm ý nghĩa trong Kinh thánh, ý nghĩa được trải nghiệm qua nhiều thế kỷ và được cập nhật hóa trong thời đại của chúng ta ngày nay.


Ý nghĩa theo Triết học


Cái được gọi là "ý nghĩa" là một đối tượng không dễ nắm bắt, bởi tính trừu tượng, đa diện và đa cấp của nó. Trong khái niệm "ý nghĩa",  chúng ta nhận thấy những mối quan hệ phức tạp giữa trừu tượng và cụ thể,  giữa xã hội và cá nhân, phổ niệm và cá biệt.


"Ý nghĩa" là sự tổng hợp nhiều tương quan: giữa sự vật/hiện tượng; giữa người nói và người nghe; giữa cá nhân và xã hội, giữa ngôn ngữ và văn hóa…, và cả giữa ngôn ngữ với ngôn ngữ (hay quan hệ liên ngôn ngữ). Như thế, "ý nghĩa" sẽ được nắm bắt theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc độ quan sát: sự vật, khái niệm, là thái độ/ tình cảm. Đây chính là nguyên nhân khiến cho "ý nghĩa", mặc dù đã được các nhà triết học nghiền ngẫm và tìm hiểu từ thời Cổ đại đến nay, vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và trọn vẹn.


Trong tiếng Trung hoa 意思, hai "tượng từ" này đều được kiến tạo và đạt trên hình ảnh biểu hiệu của quả tim, dấu chỉ dẫn đến các ý niệm trừu tượng nội tại như tâm thần và trí óc. Trong chữ ý, trên chữ tâm, tấm lòng và trí óc được soi sáng bởi ánh sáng của chữnhật, và trong chữ nghĩa, tâm trí được trải rộng ra trên cánh đồng là chữ điền. Như thế, tìm ý nghĩa một cái gì hay điều gì luôn đòi hỏi con người chúng ta vận dụng trí óc, suy luận và có khả năng trình bày và diễn dịch.


Trong tiếng Pháp, từ "sens" được dịch ra tiếng việt chúng ta bằng từ "ý nghĩa". Chữ "sens" được định nghĩa dưới hai cấp độ trong triết học siêu hình (métaphysique). Từ "ý nghĩa" liên quan trực tiếp đến các  vấn đề của con người: cùng đích, lịch sử, lý do hiện hữu và hành động, nguyên tắc giá trị và luân lý của con người. Từ "ý nghĩa" bao gồm ý niệm "nền tảng", "biện minh", "lý lẽ hiện hữu", và "giá trị".


Mặt khác, "ý nghĩa" cho chúng ta nhận thấy một điều chỉ được hiểu trong một mạng lưới, tạo thành một ý niệm hài hòa, năng động, công trình của tư tưởng. Chẳng hạn, trong câu nói của Saint Exupéry:"Cái gì cho ý nghĩa cuộc sống, cho ý nghĩa sự chết".[64]


Chúng ta thấy, có ba cấp độ nhận thức trong từ "ý nghĩa" theo siêu hình học:

a) lý trí: khi nói đến "ý nghĩa", chúng ta nghĩ đến một sự việc có cơ sở, có nền tảng, được biện minh bởi nguồn gốc của nó, và loại bỏ ra ngoài những gì sai lạc, ước định và may rủi.

b) trật tự: điều có ý nghĩa ở trong vùng suy luận và nắm bắt được của trí tuệ và khôn ngoan.

c) chỉ đạo: một điều có nghĩa đưa chúng ta đến một điều ý nghĩa khác, tiến triển theo một quy luật thông minh, mang một giá trị tin cậy và chứa đựng một nội dung không ngõ cụt và bế tắc.


Nói theo cách ngôn ngữ học, khái niệm ý nghĩa bao hàm ba chiều kích sau đây:

a) chiều đứng (plan axiologique): khi muốn biết ý nghĩa, chúng ta đặt các câu hỏi sau đây, nến tảng ở đâu, có giá trị gì, lý lẽ hiện hữu ra sao?

b) chiều ngang (plan sémantique, ngữ nghĩa): có nghĩa gì (trong hiện tại)? Hiểu làm sao? Giải thích thế nào?

c) chiều sâu (plan téléologique, cùng đích): Đâu là hướng đi? Tiến triển ra sao? Tới đích nào?


Như thế, từ ý nghĩa có liên quan mật thiết đến việc diễn giải hay thông diễn (herméneutique)[65], ý niệm Hy lạp đã có từ lâu, nhưng được các triết gia thời hiện đại hệ thống hóa thành lý thuyết đọc, giải thích và diễn giải các bản văn: Hans-Georg Gadamer, Paul Ricoeur.


Thông diễn học

Một chút lịch sử


Chúng ta có hai quan điểm hoàn toàn khác nhau trong Thông diễn học cổ điển: một bên chú trọng đến luận lý có nguồn gốc từ triết học Aristote và việc diễn giải các bản văn tôn giáo, và một bên khác là "hermétisme", một triết học, một giáo phái, một khoa học huyền bí hoặc một đường lối tìm kiếm thiêng liêng về sự cứu độ dựa vào những kiến thức ẩn dụ đến từ vũ trụ (tử vi, bói số,...).


Khoa Thông diễn học hiện đại được chia làm hai nhánh: bình luận và diễn giải các bản văn văn chương và thi phú, bản văn pháp luật, Kinh thánh, chứng tá và diễn văn lịch sử,  những bản văn triết học và nhánh thứ hai, là việc phân tích và diễn giải các triệu chứng bệnh nhân trong phân tâm học theo Paul Ricoeur, hoặc việc thông giải những phán đoán giá trị (như đúng/sai, xấu/tốt, đẹp/xấu) từ lịch sử đến trạng thái sức khỏe theo Michel Foucault[66](1926-1984).


Như thế, Thông diễn học là việc diễn giải hay chú giải các bản văn nói chung. Việc chú giải các bản văn tôn giáo như Kinh thánh là một điều hết sức tế nhị và quan trọng như chúng ta đã thấy trong phần I, khi lược qua lịch sử chú giải Kinh thánh trong các Giáo hội Do thái giáo và Thiên Chúa giáo. Vì người ta không thể trực tiếp hiểu được những mầu nhiệm mặc khải, người ta cần diễn giải để biết thánh ý Thiên Chúa. Những việc này phải được làm một cách nghiêm túc và cẩn trọng. Vì thế, ngày xưa, chú giải các bản văn thiêng thánh được làm bởi các triết gia hoặc thần học gia. Như chúng ta cũng biết, trong nến văn hóa Á đông, các triết gia và những nhà khôn ngoan vẫn luôn diễn giải các biểu tượng thần linh.


Ở Âu châu, nghiên cứu, dịch thuật và Thông diễn học bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỷ XIV đến XVI). Để diễn giải, người ta cần đến các phương pháp qua hai câu hỏi sau đây: Ai là tác giả thực thụ, nhất là trong các bản văn Kinh thánh, khi nói đến linh hứng, hoặc viết theo ngôn pháp, viết theo mệnh lệnh của ai đó? Trong trường hợp nào và theo mức độ nào chúng ta tin cậy vào thông giải của người đọc, các nhà chú giải, đâu là giá trị của các chú giải này?


Dĩ nhiên, thông giải đã có khởi nguồn từ thời Cổ đại, nhưng ở đây chúng ta chú ý đến môn diễn giải triết học, qua vài tác giả ở  thế kỷ 20 tại Âu châu. Giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX,  đối với Wilhelm Dilthey (1833-1911)[67], Thông diễn học chỉ có thể đạt đến mục đích chính yếu khi nó phục vụ trách nhiệm tín lý. Cùng thời đó, trong văn học ngoài đời, việc diễn giải các tác phẩm cổ điển đã trở nên một chứng tá không chối cãi được lưu truyền đến nay trong truyền thống. Việc quan tâm đến việc diễn giải lại các bản văn gốc trong triết học cũng như thần học chứng tỏ rằng "hiểu biết" trở thành một vấn đề có ý nghĩa.


Schleiermacher (1768-1834)[68], triết gia và thần học gia Tin lành, cha đẻ thực sự của ngành Thông diễn học hiện đại, định nghĩa Thông diễn học như sau: có tính cách phổ quát, có khả năng hiễu các bản văn, độc lập với nội dung và có thể áp dụng khắp nơi. Sự hiểu biết trở thành một công việc thỏa hiệp ý nghĩa. Như thế, Thông diễn học tìm trước tiên một thỏa thuận trên tất cả phân đoạn của văn bản, và những gì không hiểu lệ thuộc vào khả năng khám phá tư tưởng của tác giả. Và người ta bắt đầu nói đến "Thông diễn học lịch sử".


Triết gia người Đức Martin Heidegger (1889-1976) không đồng ý và chống lại với tư tưởng này, vì nó làm thoát đi chính yếu. Ông đề nghị một tiếp cận khác, thay vì cố gắng nắm bắt bản văn bằng sự đồng thuận, nhưng tiếp nhận bản văn như nó đang có với những điều khó nắm bắt, với những gì không thể diễn đạt hay hình thành (informulé). Đối với Heidegger, những gì nói lên trong cái không hình thành được này, trong ẩn dấu này, dưới mặt nạ này, và luôn là một bí ẩn, đó chính là "être de l’étant" (Dasein), là sự thật của vấn đề, và chính vì thế, chúng ta cần một nghiên cứu thông diễn học.


Một trong những môn đồ của Heidegger, Hans-Georg Gadamer, đã xuất bản năm 1960Vérité et méthode[69](Sự thật và phương pháp). Trong tác phẩm này, Gadamer chỉ trích sai lầm trong khái niệm khách quan qua việc dùng các phương pháp thường dùng trong các môn khoa học nhân văn. Tác giả cho chúng ta thấy rằng một bản văn hay một công trình sáng tạo chỉ được giải thích theo chủ quan tính, theo những gì người đọc hay nghiên cứu chờ đợi. Trong việc đọc, hiện hữu một áp lực giữa thực thể quá khứ của bản văn và chân trời mong đợi của hiện tại. Hơn nữa, Gadamer cho thấy rằng tất cả các bản văn là sự trả lời cho một câu hỏi đã đặt ra. Như thế, công việc của sử gia hay nhà chú giải là chỉ cho thấy đâu là câu hỏi trong quá khứ và bản văn trả lời cho chúng ta ngày nay như thế nào. Nói một cách khác, nhờ tư tưởng của Gadamer, chúng ta phải phân biệt được quá trình diễn giải các tác phẩm triết học và tất cả phương pháp và kiến thức riêng biệt của khoa học chính xác. Có những ý nghĩa và sự thật, thoát khỏi những nghiên cứu có tính cách khoa học.


Paul Ricoeur (1913-2005)[70], triết gia uy tín của Pháp, chuyên về Hiện tượng học cũng như Thông diễn học, là người luôn quan tâm và đối thoại không ngừng với các khoa học nhân văn và xã hội. Ông là một Kitô hữu Tin lành, nên cũng rất chú trọng đến hiện sinh và thần học Thiên Chúa giáo. Các bài viết của ông xoay quanh những ý niệm về ý nghĩa, về chủ quan, và vai trò diễn giải trong các bản văn sáng tạo, nhất là trong văn chương và lịch sử.


Ông thường đặt vấn đề về thông diễn, nhất là chú giải các bản văn Kinh thánh, cũng như là việc diễn giải các triệu chứng phân tâm về cơ bản và mục đích. Thông diễn học của Ricoeur phát triển qua việc phân tích các biểu tượng, dẫn đến sự bàn luận với phân tâm học (De l’interprétation. Essai sur Freud).[71]


Phân tích phép ẩn dụ là một trong những chủ đề quan trọng của Thông diễn học. Trong tác phẩmLa métaphore vive[72], Ricoeur luận chứng rằng phép ẩn dụ, theo nghĩa rộng của Aristote, là qui trình trí tuệ đặc biệt và có giá trị riêng của nó. Ông viết:"Phép ẩn dụ, chính là khả năng sản xuất một ý nghĩa mới, điểm chớp nhoáng ý nghĩa xảy ra ở chỗ mà sự không tương hợp ngữ nghĩa sụp đổ trong việc đối đầu giữa nhiều cấp độ ý nghĩa, để sản xuất một ý nghĩa mới, ý nghĩa chỉ tồn tại trên con đường bị phá hủy của lĩnh vực ngữ nghĩa. Trong lối văn miêu tả, tôi dám nói rằng những cái mà tôi gọi là sự tổng hợp tương đồng tạo ra ít mới mẻ thua phép ẩn dụ, nhưng ở đây nói trong việc soạn thảo, việc thiết kế thời gian câu chuyện, thời gian kể chuyện."[73]


Paul Ricoeur mời gọi chúng ta vượt qua lối nhìn quen thuộc trong phép ẩn dụ, một lối nói tô điểm cho bản văn, để nhận ra vai trò tri thức của nó. Để hiểu hết ý nghĩa của phép ẩn dụ, chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh của câu chuyện.


Một tác giả thứ ba cần nhắc đến trong môn Thông diễn học, là ông Hans Robert JAUSSE[74], triết gia và lý thuyết gia người Đức (1921-1997). Ông lấy lại quan điểm của Gadamer và làm sáng tỏ lý thuyết Thông diễn học. Ông đề nghị ba điều chủ yếu:

- Diễn giải một bản văn là suy nghĩ, nhìn lui vào quá khứ và tìm thấy ý nghĩa.

- Dựng lại lịch sử bản văn, là tìm kiếm để hiểu đặc tính khác chất chứa trong bản văn.

- Thông hiểu tại chỗ một bản văn, giá trị mỹ thuật của nó và hệ quả tạo ra khi đọc nó.


Triết học và Thông diễn học soi sáng cho chúng ta hiểu nhiều về khái niệm ý nghĩa, quan trọng thần học và trong diễn giải Kinh thánh.


Chú thích:

[64] "Ce qui donne unsens à la viedonne un sens à la mort", Antoine de Saint-Exupéry, Terre des hommes, 1939, tr.l256.

[65] Từ ngữ này đến từ tiếng Hy lạp có nghĩa nguyên thủy là "nói", "phát biểu" và được hội ý với tên của một vị thần Hy lạp Hermès, sứ giả đại diện các thần thánh để diễn dịch lại mệnh lệnh của họ.

[66] Michel FOUCAULT, "Nietzsche, la généalogie, l’histoire", bài được viết năm 1971, và đã được đăng lại trong Lectures de Nietzsche, nhà xuất bản LGF, 2000.

[67] Wilhelm Dilthey, http://fr.wikipedia.org/wiki/Wilhelm_Dilthey, tham khảo ngày 25/03/2015.

[68] Schleiermacher, http://fr.wikipedia.org/wiki/Friedrich_Schleiermacher, tham khảo ngày 25/03/2015.

[69] Hans-Georg GADAMER, Vérité et méthode, éd. intégrale, Paris, Seuil, 1996.

[70] Paul RICOEUR, http://fr.wikipedia.org/wiki/Paul_Ric%C5%93ur, tham khảo ngày 25/03/2015.

[71] Paul RICOEUR, De l'interprétation. Essai surSigmund Freud, Le Seuil,1965.

[72] Paul RICOEUR, La métaphore vive, Le Seuil,1975.

[73] "La métaphore, c'est la capacité de produire un sens nouveau, au point de l'étincelle de sens où une incompatibilité sémantique s'effondre dans la confrontation de plusieurs niveaux de signification, pour produire une signification nouvelle qui n'existe que sur la ligne de fracture des champs sémantiques. Dans le cas du narratif, je m'étais risqué à dire que ce que j'appelle la synthèse de l'hétérogène ne crée pas moins de nouveauté que la métaphore, mais cette fois dans la composition, dans la configuration d'une temporalité racontée, d'une temporalité narrative." Paul RICOEUR, La métaphore vive, Le Seuil, 1965.

[74] Hans Robert JAUSSE, http://fr.wikipedia.org/wiki/Hans_Robert_Jauss, tham khảo ngày 25/03/2015.


Thông diễn học và Thần học Công giáo


Claude Geffré, nhà thần học pháp, tu sĩ dòng Đa Minh, đã từng là giáo sư trụ cột của Đại học Công giáo Paris, trình bày những hệ quả quan trọng của Thông diễn học trong bài viết "Les enjeux actuels de l’herméneutique chrétienne" (Vào cuộc hiện nay của Thông diễn học Kitô giáo).[75]


Theo ông, thần học của Thánh Thomas d’Aquinô đã trở nên trong lịch sử như là một mô thức nền tảng của thần học Giáo hội Công giáo, một thần học được xem nhưintellectus fidei(tri thức nội tại trong đức tin), và như là một khoa học của đức tin. Nền thần học này nhắm đến việc giải thích trật tự vũ trụ và được xem như là hoàng hậu của các khoa học khác. Nhưng ngày nay, người ta đã đặt lại vấn đề khái niệm trật tự theo quan điểm siêu hình học này. Người ta vượt qua sự hiểu biết trực tiếp hiển nhiên để đi đến việc hiểu biết thực nghiệm và lịch sử. Đối tượng của sự hiểu biết không là sự thật vĩnh cữu, nhưng là lịch sử và toàn bộ hiện tượng. Vì Thiên Chúa thoát khỏi các giới hạn suy luận của lý trí, đối tượng của thần học được biến dạng. Thần học không chỉ xem như là một diễn văn nói về Thiên Chúa, nhưng là một diễn văn liên quan đến ngôn ngữ mà con người dùng để nói về Thiên Chúa. Như thế, Thông diễn học là một diễn văn chú trọng đến ngôn ngữ diễn đạt Thiên Chúa. Thần học[76]theo Thông diễn học đặt vấn đề tương quan giữa việc diễn giải và bản văn trong viễn cảnh mà các nhà thần học đã nhận từ mặc khải.


Claude GEFFRE cố gắng trình bày sự khác biệt giữa mô thức thần học theo tín lý (modèle dogmatique) và thần học Thông diễn học (modèle herméneutique).


- Trong thần học cổ điển, chúng ta bắt đầu bằng giáo huấn của giáo quyền và Kinh thánh. Truyền thống can thiệp vào như những chứng từ cho thần học. Trong viễn cảnh này, diễn văn thần học như là một phản ảnh của Giáo hội thể chế và có thể trở thành một hệ thống không chối cãi, và đôi khi đi đến một chủ nghĩa, một ý thức hệ.


- Theo thần học thông diễn, chúng ta luôn khởi đầu nghiên cứu thần học bằng một bản văn, Kinh thánh hay những  nhìn lại qua trải nghiệm trong truyền thống Giáo hội. Như chúng ta đã nói ở trên, theo Gadamer, vì tôi sống trong cùng một truyền thống, nguồn gốc phát xuất các bản văn tôi đọc, nên tôi mới có thể cố gắng để hiểu. Chúng ta luôn luôn nằm trong một truyền thống ngôn ngữ có truớc. Thần học theo quan điểm Thông diễn học bày tỏ sự tách rời suy nghĩ siêu hình học (métaphysique) xem tư tưởng như là sự biểu hiện, dù khi khoa Thông diễn học không từ bỏ chiều kích hữu thể (ontologique) trong các phát biểu.


Thông diễn học cho phép căn định luận lý thần học theo hiểu biết lịch sử theo nghĩa của triết gia Heidegger, nghĩa là không phải hiểu kiến thức tri thức theo mô thức chủ thể và đối tượng, nhưng hiểu mộthiện sinhhay một cách thức hiện hữu ở đó không có kiến thức quá khứ mà không hiểu biết trước và diễn giải trước hiện sinh của chúng ta.


Đối tượng trực tiếp của thần học sẽ không là những chuỗi dài các phát biểu tín lý mà nhà thần học cố gắng tìm tòi sự thông minh siêu đẳng, nhưng đối tượng của thần học chính là toàn bộ các bản văn  được hiểu trong lĩnh vực Thông diễn học của mặc khải. Tuy là lấy khoảng cách với siêu hình học và các biểu tượng ý niệm của nó, thần học theo Thông diễn học không từ bỏ việc suy luận về chiều kích hữu thể trong các định từ. Thần học cũng như Kinh thánh theo Thông diễn học chú trọng đến hữu thể (chính yếu) của ngôn ngữ theo đường hướng tư tưởng của Heidegger và Ricoeur. Theo các triết và thần học gia này, ngôn ngữ, trước khi là công cụ của truyền thông giữa con người, đã là một "lời" một "phát biểu" của thế giới. Chúng ta có thể nói được rằng thực thi thần học trùng hợp với một lắng nghe thế giới, nhưng lắng nghe qua mã số vĩ đại, chính là các bản văn Kinh thánh.


Mô thức thần học thông diễn đưa chúng ta đến một sự hiểu biết khác hơn về ý nghĩa và sự thật. Ý nghĩa Kinh thánh và sự thật thần linh không sẽ không là một tương hợp đầy đủ và chính thức giữa trí tuệ và thực tại. Có nghĩa là chúng ta nghĩ rằng thần học là những chứng thực hoặc những diễn giải năng động tiên báo sự viên mãn của sự thật trùng hợp với mầu nhiệm của thực tại thần linh. Sự thật theo Thông diễn họcHeidegger aletheia(Hy lạp) chất chứa hai chiều kích biểu lộ và cùng đích (manifestative và eschatologique).  Trong bản thể, sự thật đưa chúng ta tới những gì tỏ hiện không ẩn dấu. Vén màn sự thật đi đôi với việc che nó lại. Sự thật thần học cũng có liên quan đến mỹ thuật trong lĩnh vực nghệ thuật.


Chúng ta thấy, Thông diễn học đem chúng ta đến một điểm quan trọng liên quan đến ý nghĩa Kinh thánh là ý niệm về sự thật. Theo Claude Geffré, sự thật trong ngữ nghĩa Do thái emeth, hàm chứa ba ý tưởng sau đây: bền vững, xác nhận và hoàn thành. Theo quan niệm của Gioan, sự thật được kết hợp với ý tưởng biểu lộ, hiểu biết, và hoàn thành. Chúng ta thấy cùng một lúc trong ý niệm sự thật có chiều kích lý trí, hiền triết và đạo đức:"những ai thực thi sự thật, thì đến trong ánh sáng"(Ga 3,21). Sự thật tiến đến với Đức Kitô, và đưa chúng ta vào những gì sẽ đến hoặc hay hơn là những diễn ra mới. Có phải chúng ta cũng đang tìm hiểu sự thật Kinh thánh và thần học như những gì đang tiến đến (advenir) một cách thường hằng theo các câu hỏi về sự tiến triển của thế giới và Giáo hội. Sự thật luôn mở cho chúng ta đến một chân trời không đoán trước.


Thông diễn học và ý nghĩa Kinh Thánh


Bước ngoặc nghiên cứu thần học theo Thông diễn học mời gọi chúng ta đến một ý nghĩa và sự thật khác với khái niệm của Siêu hình học, nền tảng của thần học tín lý cổ điển, và với quan điểm cực đoan của sự thật dưới chủ nghĩa lịch sử ở thế kỷ thứ XIX. Trong hai trường hợp, người ta muốn tìm thấy mối tương quan tức khắc với sự thật mặc khải, hoặc sự thật này trùng hợp với hữu thể sung mãn với gốc nguồn, hoặc sự thật được định căn từ ý nghĩa Kinh thánh sáng tạo lại bởi phương pháp phê phán lịch sử.


Nhưng đến ngày nay, Giáo hội đã ý thức rằng, không thể đi trực tiếp vào sự thật mặc khải qua biến cố của Đức Giêsu Kitô. Sự thật của thông điệp Kitô giáo nằm trong hệ thống chứng tá. Và khi nói đến chứng tá, là nói đến diễn giải các biến cố trước các diễn biến lịch sử. Như thế, những ngôn từ đầu tiên của đức tin là lịch sử từ đầu đến cuối. Và ngôn ngữ thần học suốt quá trình lịch sử của Giáo hội là những ngôn từ diễn giải lệ thuộc vào các điều kiện văn hóa, xã hội, và Giáo hội trong quá trình thần học.


Với Thông diễn học thần học hay Kinh thánh, một ý thức mới xuất hiện: mối tương quan giữa ngôn ngữ thần học, Kinh thánh, tín điều với việc đón nhận, sống và trải nghiệm của các tín hữu (khi nói đến tín hữu, là những người tin vào Thiên Chúa và Đức Kitô, trong đó có hàng giáo phẩm), là những điều kiện  chuẩn định cho sự thật. Nói một cách riêng, sự đón nhận Kinh thánh bởi Giáo hội như là lời của Thiên Chúa là thước đo đích thực của ý nghĩa và sự thật Kinh thánh.


Chúng ta có ba hệ quả sau đây trong việc ngiên cứu Kinh thánh và thần học:


- Sự thật mặc khải không tách rời với sứ điệp và trải nghiệm. Edward Schillebeeckx nói rằng:"Kitô giáo trước tiên không là một sứ điệp phải được tin, nhưng là một trải nghiệm đức tin đã trở thành một sứ điệp"[77]. Diễn giải Kinh thánh hay ngôn ngữ thần học ngày nay dựa trên sự phân tích phê phán kết nối giữa trải nghiệm đức tin nguyên thủy và kinh nghiệm lịch sử đức tin của tín hữu đương thời. Lời Thiên Chúa sống động và đem lại sức sống qua trải nghiệm đức tin nguyên thủy trên biến cố đức Giêsu Kitô như biến cố cứu độ đến từ Thiên Chúa, ngay cả khi các biến cố đó được diễn dịch khác nhau. Như thế, đểđảm bảo giá trị sự thậtvà diễn biến thường hằng của sứ điệp Kitô giáo, chúng ta phải phân định giữa các cấu trúc thường hằng qua kinh nghiệm nến tảng Kitô giáo, sau đó suy nghĩ và phân tích các mô thức tư tưởng, nghĩa là các yếu tố đến từ trải nghiệm của Kinh thánh Tân ước, và của  những thế hệ Kitô hữu tiếp theo sau đó.


- Không có sự truyền tải sống động của đức tin khi khi không có những diễn đạt sáng tạo đổi mới trong đời sống đức tin hiện nay. Lời Thiên Chúa luôn là những ngôn từ sống động đòi hỏi chúng ta phải trả lời trong cuộc sống. Để hiểu hơn về thông diễn Thần học và Kinh thánh, chúng ta cũng nên bỏ thời gian tìm hiểu Thông diễn học trong các khoa học nhân văn và lịch sử đương thời. Chính vì thế chúng ta mới hiểu tại sao Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI khuyên các nhà chú giải Kinh thánh nên kết hợp phương pháp phê phán sử quan với các tiếp cận hiện đại khác như "thư quy" hay "lối thuật chuyện".


- Khi nói về thông diễn trong thần học và Kinh thánh, khi có nhiều diễn giải, nhiều người cho là "relativisme", tương đối hóa các sự thật, và có thể đến quá nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng trên thực tế, Thông diễn học bao hàm nhiều  chuẩn mực để bắt các nhà thần học hay chú giải phải tuân theo để kiểm chứng lại sự đích thật của diễn văn thần học. Trong viễn cảnh Công giáo, thay vì nói đến một  chuẩn mực duy nhất hay một quy luật, "canon" trong  quy luật "le canon", chúng ta nên nói một loại suy tương đồng của đức tin (analogie de la foi) hay hệ thống tương tác giữa các thẩm quyền khác nhau: Kinh thánh, Truyền thống, và huấn dụ hiện nay của giáo quyền. Nhưng quan trọng nhất vẫn là việc đón nhận cũa Kitô hữu ngày nay dưới sự hướng dẫn và linh hứng của Chúa Thánh Thần.


Như thế ý nghĩa Kinh thánh không phải là một ý nghĩa không thay đổi và được truyền tải từ thế kỷ này sang thế kỷ khác như một kho chứa bất động hình thành một lần cho tất cả. Các tài liệu chính yếu của Giáo hội Công giáo về ý nghĩa và sự thật Kinh thánh cũng không bao giờ phủ nhận điều này.


Dei Verbum


Như đã nói trong chương 1, Dei Verbum, Hiến chế Tín Lý, trong tiếng việt, là một trong bốn tài liệu quan trọng của Công đồng Vaticanô II nói về Mặc khải Thiên Chúa trong Kinh thánh, được bỏ phiếu chấp thuận ngày 8 tháng 9 năm 1965, và được ban hành bởi Đức Giáo hoàng Phaolô VI ngày 18 tháng 11 năm 1965. Qua việc Giáo hội điểm lại cách thức mặc khải của Thiên Chúa trong Kinh thánh và sự đón nhận của Kitô hữu như lời của Ngài, chúng ta nhận ra được ba chìa khóa rất quan trọng việc tìm ý nghĩa Lời Thiên Chúa.


1) Ý Nghĩa Kinh thánh, trước tiên là Thánh ý của Thiên Chúa. Công đồng đã xác quyết tín lý cơ bản truyền từ nguyên thủy Thiên Chúa giáo đến Giáo hội chúng ta ngày hôm nay:"Quả vậy, Kinh thánh là Lời Thiên Chúa nói, xét theo tư cách được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần."[78]  Như thế, khi chúng ta đọc hoặc nghiên cứu Kinh thánh, chúng ta không đi tìm ý nghĩa của một bản văn thông thường, nhưng chúng ta đặt mình trước chân lý Thiên Chúa, và chân lý đó sẽ nuôi sống và dạy bảo chúng ta. Cũng như Thánh Thần Thiên Chúa đã linh hứng các tác giả phàm trần, đã hướng dẫn Truyền thống trong việc đọc và truyền bá mặc khải Kinh thánh, Ngài cũng sẽ giúp chúng ta đi tìm thánh ý của Thiên Chúa.


Khi nói đến tác động linh hứng của Thánh Thần, chúng ta cũng không quên rằng, chính Thánh Thần cũng là ánh sáng nối kết Cựu ước và Tân ước, mặc khải cho chúng ta thấy mầu nhiệm Nhập thể của Đức Giêsu con Thiên Chúa. Nhờ Cựu ước chúng ta hiểu Tân ước và ngược lại. Công đồng cũng nói:"Vậy Thiên Chúa, Đấng linh hứng và tác giả các sách Cựu và Tân ước, đã khôn ngoan xếp đặt cho Tân ước được tiềm ẩn trong Cựu ước và Cựu ước được tỏ hiện trong Tân ước . Thật vậy, tuy Chúa Kitô đã thiết lập Giao Ước mới trong máu Ngài (Lc 22,20; 1Cr 11,25), nhưng các sách Cựu ước, đã được thâu dụng trọn vẹn trong lời rao giảng Phúc Âm , thì đạt được và giãi bày đầy đủ ý nghĩa của mình trong Tân ước (Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2Cr 3,14-16), và ngược lại, làm sáng tỏ và giải nghĩa Tân ước."[79]


2) Chìa khóa ý nghĩa thứ hai chính là Đức Kitô, con Thiên Chúa nhập thể. Đây là mầu nhiệm đặc biệt của đức tin Thiên Chúa giáo. Đọc hoặc chú giải Kinh thánh có mục đích tối hậu là hiểu được Thánh ý Thiên Chúa qua mầu nhiệm của Đức Kitô. Công đồng viết:"Vậy trong Kinh thánh, tỏ hiện sự “hạ cố” kỳ diệu của Đức Khôn Ngoan vĩnh cửu, mà vẫn không làm tổn thương sự chân thật và thánh thiện của Thiên Chúa, “để chúng ta học biết lượng nhân từ khôn tả của Thiên Chúa và biết, do quan phòng săn sóc đến bản tính chúng ta, Ngài đã thích ứng lời nói của Ngài đến mức nào.” Quả thế, các lời của Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với lời nói loài người, cũng như khi xưa Lời của Chúa Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu đuối của loài người, đã trở nên giống như loài người."[80]


3) Và chìa khóa thứ ba của ý nghĩa Kinh thánh chính là Giáo hội:"Nhưng bởi vì Kinh thánh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, thì cũng phải được đọc và giải thích nhờ chính Thánh Thần. Và để khám phá ra chính xác ý nghĩa của các bản văn thánh, cũng phải kỹ lưỡng xem xét đến nội dung và sự duy nhất của toàn thể Kinh thánh, dựa trên Truyền Thống sống động của toàn thể Giáo hội và sự suy loại đức tin. Các nhà chú giải có nhiệm vụ dựa theo những quy tắc đó mà cố gắng hiểu thấu và trình bày ý nghĩa Kinh thánh cách sâu sắc hơn, ngõ hầu nhờ sự học hỏi có thể gọi là chuẩn bị đó, phán quyết của Giáo hội được chín chắn. Quả vậy mọi điều liên hệ đến việc giải thích Kinh thánh cuối cùng đều phải lệ thuộc vào phán quyết của Giáo hội, vì Giáo hội đã nhận từ Thiên Chúa mệnh lệnh và nhiệm vụ  gìn giữ và giải thích lời Thiên Chúa."[81]


Ý nghĩa của Kinh thánh không hoàn toàn lệ thuộc vào các phương pháp văn chương và những kiến thức đến từ của các môn khoa học lịch sử, nhân văn, nhưng dựa vào trải nghiệm đức tin, trải nghiệm minh chứng sự có mặt của Thánh Thần Thiên Chúa, trải nghiệm sống động của truyền thống Giáo hội, đã đọc, cầu nguyện, và chú giải của Giáo hội.


Gần hai mươi năm sau Công đồng Vat II, Giáo hội Công giáo ban hành một văn kiện liên quan trực tiếp đến việc diễn giải Kinh thánh.


Việc giải thích Kinh Thánh trong Hội Thánh[82]


Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II quá cố, trong diễn văn mở đầu văn kiện, khi lược qua nội dung các thông điệp từProvidentissimus Deus đếnDivino afflante Spiritu,  đã nhắc nhở chúng ta về những điều mà chúng ta đã đền cập trên đây: ý nghĩa thiêng liêng, ý nghĩa do tác động Thánh Linh, bảo vệ bởi Huấn quyền, và nhất là hòa hợp với mầu nhiệm nhập thể.[83]


Phần thứ hai của văn kiện, Giáo hội cũng đã nói đến những vấn đề ý nghĩa của Kinh thánh. Giáo hội công nhận ích lợi của các khám phá mới đến từ thông diễn triết học qua hai tác giả Gadamer và  Ricoeur mà chúng ta đã nói trên đây:"Đóng góp của các lý thuyết giải thích hiện đại, có tính cách triết học, cùng với những phát triển gần đây của việc nghiên cứu khoa học các nền văn chương giúp cho khoa chú giải Kinh thánh hiểu biết sâu xa hơn về nhiệm vụ của mình."[84]


Khi đồng thuận với Gadamer và Paul Ricoeur, Giáo hội chỉ trích và bác bỏ quan điểm của nhà thần học Tin lành người đức Rudolf Bultmann (1884-1976) mà chúng ta đã nhắc đến trên đây. Ông dùng phương pháp diễn giải gọi là "loại bỏ huyền thoại" (démythisation) trong Kinh thánh, để con người thời đại chúng ta có thể chấp nhận và hiểu. Vì theo ông, những gì ẩn chứa trong huyền thoại không có tính cách khách quan về thề giới, mà chỉ là một cách của con người muốn tự hiểu mình. Như thế, các huyền thoại phải được giải thích bằng triết học hiện đại.


Đặc biệt là, trong văn kiện này, tuy khó và phức tạp, Giáo hội vẫn quan tâm đến các ý kiến khác nhau,  đã cố gắng đưa ra ba nguyên tắc tổng quát về ý nghĩa: nghĩa chữ (sens littéral), nghĩa thiêng liêng (sens spirituel), và nghĩa tràn đầy (sens plénier).


Nghĩa chữ


Hay còn gọi là ngữ nghĩa, hay nghĩa theo chiều ngang như chúng ta đã định nghĩa trong phân đoạn đầu của chương ba này, cho việc diễn giải bản văn, vì không có nghĩa đen, thì chúng ta không thể đi đến nghĩa bóng. Nhưng Giáo hội cũng không muốn chúng ta hiểu lầm giữa ngữ nghĩa và nghĩa sát chữ mà những người theo chú giải nệ cổ dùng. Nói đúng hơn, ngữ nghĩa không phải là nghĩa mà chúng ta lấy từ tự điển rồi áp dụng lên bản văn. Ví dụ như, khi một ai đó nhờ dụng cụ dịch thuật của google dịch từ tiếng ngoại quốc ra tiếng Việt, chúng ta nhận ra ngay sự ngớ ngẩn của bản văn. Ngữ nghĩa, hay nghĩa theo chữ, vẫn phải theo các quy luật ngữ nghĩa mà chúng ta đã định nghĩa trên đầu chưa này.


Ý nghĩa văn chương của Kinh thánh là ý nghĩa bản văn do sáng tạo của tác giả con người được linh hứng. Các tác giả này vận dụng tất cả tài năng, khả năng hiểu biết về văn chương và phương pháp viết văn của họ để soạn thảo. Người ta phân tích bản văn trong bối cảnh lịch sử và văn chương của bản văn, như thế, nghiên cứu văn loại cổ điển và lịch sử thời đại xuất phát bản văn là điều cần thiết.


Chúng ta cũng nên nhớ rằng, một bản văn, không chỉ có một nghĩa theo chữ, một nghĩa văn chương.  Một mặt, bản văn được viết, có liên quan đến nhiều cấp độ của thực tại và mặt khác, một ngôn từ con người, dù chỉ có một nghĩa, vẫn có thể hiểu khác nhau. Ví dụ trong Ga 11,50:"Các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt", lời tuyên bố của vị thượng tế Caipha, vừa là một tính toán chính trị, cũng là một mặc khải.


Ý nghĩa thiêng liêng


Giáo hội định nghĩa như sau:"người ta gọi là “nghĩa thiêng liêng”. Theo cách chung, ta có thể định nghĩa ý nghĩa thiêng liêng, hiểu theo đức tin Kitô giáo, là nghĩa được các bản văn Kinh thánh diễn tả, khi người ta đọc các bản văn đó dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, trong bối cảnh mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô và đời sống mới phát xuất từ mầu nhiệm đó. Bối cảnh này có thật."[85]Nói một cách khác, ý nghĩa thiêng liêng được trình bày qua hai yếu tố sau đây:


- Ý nghĩa thực vượt trên nghĩa văn chương và lịch sử của bản văn, nghĩa mà Thiên Chúa muốn nói cho chúng ta dưới sự linh hứng của Thánh Thần, hiểu được nhờ soi sáng của đức tin vào mầu nhiệm nhập thể, chết và sống lại của Đức Kitô. Trong trường hợp này, ý nghĩa văn chương và lịch sử của Tân ước cũng là ý nghĩa thiêng liêng. Đối với Cựu ước, đức tin Công giáo, xem đó là những loan báo trước mầu nhiệm của đấng cứu độ. Ý nghĩa thiêng liêng luôn gắn liền với bản văn, gắn liền với nghĩa văn chương và lịch sử. Ý nghĩa đó không phải là kết quả chủ quan đi từ tưởng tượng và suy luận trí tuệ.


- Khi Đức Kitô là chìa khóa diễn giải của tất cả Kinh thánh, các nhà chú giải, từ xưa tới nay, không bao giờ dừng lại trước ý nghĩa văn chương và lịch sử. Như chúng ta cũng đã nhắc trước đây, ý nghĩa thiêng liêng được thấy nhờ ba suy luận mở rộng: ý nghĩa ngụ ngôn (Mt 21,33-44, Mc 12,1-11) hay dạng thức (Rm 5,14), ý nghĩa luân lý hay biểu tượng (1Cr 10,6-11; Rm 15,4), ý nghĩa loại suy (analogie)(Kn 22,1-19; Lc 21,8-36).


Ý nghĩa tràn đầy


Giáo hội nhìn nhận có nhiều tranh cãi trong khi nêu ra ý niệm "ý nghĩa tràn đầy". Vì Ý nghĩa thiêng liêng đã là một ý nghĩa tràn đầy. Văn kiện Giáo hội đã định nghĩa như sau:“Nghĩa sung mãn” là một kiểu nói tương đối mới đang gây nên những tranh luận. Nghĩa sung mãn được định nghĩa là một ý nghĩa sâu xa hơn của bản văn, do Thiên Chúa muốn, nhưng không được tác giả loài người diễn tả rõ ràng. Người ta khám phá ra nghĩa này trong một bản văn Kinh thánh, khi nghiên cứu bản văn này dưới ánh sáng của những bản văn Kinh thánh khác đã sử dụng bản văn ấy hoặc dựa vào mối liên hệ của nó với việc phát triển nội tại của Mặc khải .»[86]Để hiểu rõ hơn quan điểm của Giáo hội, chúng ta xem qua ví dụ sau đây:


- Bối cảnh bản văn Mt 1,23"Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’" cho chúng ta một ý nghĩa tràn đầy của đoạn văn Cựu ước Is 7,14: "Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuen."


Giáo hội muốn nói rằng ý nghĩa tràn đầy, được  đến bởi linh hứng của Thánh Thần cho tác giả trần thế, dù ông cũng không biết được ý nghĩa của điều đó. Cũng chính Thánh Thần đã hướng dẫn và tác động trên tín hữu và Truyền thống của Giáo hội để chúng ta thấy được ý nghĩa tràn đầy ngày hôm nay.


Chú thích:

[75] Claude GEFFRE, "Les enjeux actuels de l’herméneutique chrétienne", Revue de L’Institut Catholique de Paris, N° 55, 09/1995, tr. 131-148.

[76] Khi nói đến thần học, trong đó có việc chú giải Kinh thánh.

[77] "le christianisme n’est pas d’abord un message qui doit être cru, mais une expérience de foi qui devient un message". Edward SCHILLEBEECKX, Expérience humaine et foi en Jésus Christ, Paris, Cerf, 1981, tr. 50.

[78] CĐ Vat II, Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa , ch. 2,9.

[79] CĐ Vat II, Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa , ch. 4,16.

[80] CĐ Vat II, Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa , ch. 3,13.

[81] CĐ Vat II, Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa , ch. 2,12.

[82] L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise. Document de la Commission Biblique Pontificale, 1993, L’interprétation de la Bible,... http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5 tháng 01 năm 2015.

[83] L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise.

[84] L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise.

[85] L’Interprétation de la Bible,... http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5 tháng 01 năm 2015.

[86] L’interprétation de la Bible,... http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5 tháng 01 năm 2015.


Ý nghĩa Kinh thánh: dữ kiện và sự thật


Sau khi trình bày một cách lý thuyết về ý nghĩa Kinh thánh, chúng cũng tóm tắt lại vấn đề bằng một câu hỏi khác cụ thể hơn: đâu là tương quan giữa "dữ kiện" và "sự thật" trong các bản văn Kinh thánh?


Nhiều tín hữu băn khoan khi nghe thấy các  nhà chú giải diễn đạt lại một số dữ kiện hay câu chuyện Kinh thánh. Họ nói, sự thật Kinh thánh là như vậy sao? Để trả lời cho vấn đề này, chúng ta cần xác định lại những ý niệm sau đây:


- Không lẫn lộn giữa "dữ kiện" và sự thật". Một dữ kiện hay câu chuyện, dù trong bất cứ thời kỳ nào, khi được truyền tải đến người nhận,  nghe, hay đọc, được hiểu và trình bày qua kiến thức, kinh nghiệm và khả năng của chứng nhân, phóng viên, ký giả hay tác giả. Như thế, dữ kiện hay câu chuyện đến tai mắt của chúng ta đã là những dữ kiện hay câu chuyện "diễn giải" (interprétation) qua tai mắt chứng nhân. Khi các dữ kiện hay câu chuyện được truyền tải, dữ kiện và các câu chuyện đó cũng sẽ tiếp nhận khác nhau tuỳ theo kiến thức, kinh nghiệm, và khả năng tiếp nhận của người nghe hay đọc.


- Ý niệm về sự thật là ý niệm trừu tượng và phức tạp đòi hỏi con người, chứng nhân hay người nhận, phải vận dụng lý trí, kiến thức và trải nghiệm đức tin nữa để tiến gần tới sự thật. Có những dữ kiện đơn giản nói lên một sự thật cơ bản, nhưng cũng có những sự thật không thể nắm bắt một cách dễ dàng. Vì thế, cũng có nhiều phương pháp và kỹ thuật văn chương hầu mong diễn đạt gần với sự thật.


Khi cuốn sách đầu tiên của Kinh thánh, mười một chương đầu của sách Khải Nguyên đã kể chuyện Thiên Chúa tạo dựng, với những dữ kiện lồng trong các văn bản có tính cách thần thoại (mythe). Như thế sự thật là Thiên Chúa đã sáng tạo ra như thế thật sao? Và phải hiểu sự thật đó như thế nào?


Việc đầu tiên, chúng ta ai cũng biết là vũ trụ không được cấu trúc bởi ba tầng trời có nước ở bên trên và mỗi ngày sáng tạo cũa Thiên Chúa không diễn ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ.


Tác giả đã muốn diễn tả cho chúng ta sự thật trước tiên là chính Thiên Chúa là nguồn gốc của tất cả những gì hiện hữu, thứ đến là việc tạo dựng đến từ thánh ý và quyền năng của Ngài, và cuối cùng là tất cả tạo vật đều được dựng nên tốt đẹp như hình ảnh toàn thiện của Ngài. Để diễn đạt những sự thật cao siêu này, tác giả đã dùng thể văn thần thoại (mythe). Nói rộng hơn, nhiều bản văn khác trong Kinh thánh cũng được viết dưới thể văn thần thoại này.


Chính tại sao, chúng ta có thể khẳng địng rằng lịch sử sáng tạo được kể bởi sách Khải Nguyên là đúng thật, dù ngay cả các yếu tố văn bản không phải là những dữ kiện khoa học.


Chúng ta phải biết rằng thần thoại không là văn loại huyền thoại, cũng không là văn sáng tạo theo tưởng tượng. Nhưng cũng đừng lẫn lộn thần thoại với lối văn dụ ngôn. Theo ý nghĩa đúng của văn loại, thần thoại là một chuyện kể được dùng để diễn tả ngôn ngữ con người với ẩn dụ, những thực tại siêu vượt, thoát khỏi nhận thức trực tiếp. Ngôn ngữ thơ văn có lẽ là cách thức thích hợp nhất để diễn đạt sự thật gần với cảm tính và hy vọng. Thần thoại có lẽ là lối diễn đạt thích đáng nhất để diễn tả những thực tại siêu vượt, như là những sự thật về nội tâm con người hay những tác động bên ngoài của Thiên Chúa.


Đối với những dụ ngôn trong Tân ước, Đức Kitô đã tìm ra những hình ảnh gần với đời sống con người, xây dựng qua kinh nghiệm của họ, để đem họ tới một sự thật khác siêu vượt hơn: ví dụ như, quyền bính của vua chúa hay uy lực của các người chủ, chu kỳ hàng năm các vụ mùa gieo giống và gặt hái, đạo đức giả của giới cầm quyền và lãnh đạo, sự quan tâm của người mục tử với đàn chiên,... Khi nghe những câu chuyện này, chắc chắn rằng không ai thời đó sẽ hiểu theo nghĩa đen, nghĩa sát chữ, một cách khác nhau, mỗi người sẽ dùng lý trí và kinh nghiệm của mình để hiểu xa hơn, một thực tại ở mức độ cao hơn, và dần dần họ cũng có thể tiến gần vào sự thật tuyệt đối của Thiên Chúa trong kinh nghiệm quan hệ tình yêu với Ngài. 


Về phần những bản văn có tính cách lịch sử, chúng ta cũng hay có khuynh hướng không hiểu rõ sự khác biệt tế nhị giữa khái niệm "lịch sử" và "thực tại lịch sử". Đầu óc chúng ta khi suy luận theo lối đối lập nhị nguyên (dualisme), hay tạo ra một phân biệt sai lầm về thời gian và vĩnh cữu. Chúng ta nhận biết sự có mặt của Đức Kitô trên trần gian và hành động của Ngài, nhờ vào những dữ kiện lịch sử được xác định, chẳng hạn như, việc Ngài sinh ra, rao giảng, bắt bớ, bị đóng đinh trên thập giá, nhất là việc Ngài được mai táng một lúc và một nơi nào đó, là lịch sử. Nhưng cùng một lúc, sự sinh ra và chết đi của Ngài hướng chúng ta đến một ý nghĩa siêu vượt hơn vì những sự việc ấy nói cho con người biết cách thức mà Thiên Chúa đã can thiệp vào thực tại lịch sử. Con người đã khám phá ra một sự thật siêu vượt khác: Giêsu, con người sinh ra bởi Maria, là Thiên Chúa, đến trong thế giới không gian và thời gian hữu hình từ cõi đời đời. Nhờ đức Giêsu, qua cái chết và sự sống lại, chúng ta đã có đường dẫn tới vĩnh cữu. Chính Ngài là nơi gặp gỡ giữa thời gian và vĩnh cữu, biến cố lịch sử và sự thật siêu nhiên.


Khi Thiên Chúa hiện diện và tác động trong mỗi biến cố lịch sử thế giới như là chúng ta đã nghiệm thấy trong sâu thẳm của mình, chúng ta cần tu chỉnh lại quan điểm sai lầm đối lập nhị nguyên giữa thời gian và vĩnh cữu, giữa dữ kiện và sự thật. Mỗi giây phút trong lịch sử và trong cuộc sống ẩn chứa mầm vĩnh cửu. Vĩnh cửu vượt qua thời gian cũng như là sự thật siêu vượt dữ kiện. Ngôn ngữ con người luôn cố gắng diễn đạt sự thật này và phương hiệu quả nhất để làm điều đó chính là thần thoại: thần thoại diễn tả một cách độc nhất vô nhị mầu nhiệm không chối cãi được của tác động tương quan giữa thực tại con người và sự thật Thiên Chúa.


Chính vì thế, chúng ta xác quyết rằng, lịch sử tạo dựng được kể bởi sách Sáng thế là đúng thật, ngay cả khi các yếu tố của câu chuyện không phải là những dữ kiện có tính cách khoa học. Việc sinh ra, chết đi và sống lại của Đức Kitô là xác thực, dù các chi tiết không trùng hợp với suy luận tự nhiên của lý trí. Các môn đệ của Đức Kitô đã thấy, đã sống và đã tin (Ga 20,19; 1Cr 15,3-8). Họ là các nhân chứng đã nói và viết ra những sự thật lịch sử của Đức Kitô phục sinh trong thân xác con người, nhưng cũng trong cơ thể phục sinh đã được biến hình thành thân xác vinh hiển.


Mặc dầu lý trí có khả năng trừu tượng hoá những gì chúng ta gọi là dữ kiện, thời gian, không gian và thực tại lịch sử, lý trí chúng ta cũng có khả năng nhận biết những thực tại này luôn tràn ý nghĩa và hiện hữu vĩnh hằng. Các bản văn Kinh thánh, qua các dữ kiện lịch sử, thi văn, dụ ngôn, thần thoại, diễn đạt trong không gian và thời gian, ẩn chứa những sự thật mà trí tuệ con người chúng ta có thể tìm ra được ý nghĩa. Kinh thánh là quà tặng vô giá, quà tặng minh chứng gặp gỡ giữa thời gian và vĩnh cữu, giữa con người và Thiên Chúa.


Kết luận chương 2


Trong viễn cảnh ý nghĩa và sự thật trong chương này, chú giải là một quá trình cần thiết để tìm hiểu thánh ý. Biểu đồ sau đây sẽ tích tụ và biểu trưng những gì chúng ta vừa bàn đến.

                                                  Thiên Chúa

                                                  Thánh Thần

                                            (Nguyên lý tác động)


              Tác giả (quá khứ)        KINH THÁNH        độc giả (hiện tại)


                                                  (Đức Kitô)


                                                   Giáo hội


Biểu đồ cho chúng ta thấy, ý nghĩa Kinh thánh không chỉ đơn thuần là ý nghĩa của bản văn, nhưng là một thực tại tương quan năng động, trong đó Thánh Thần Thiên Chúa là nguyên lý tác động trên tất cả tác nhân.


Kinh thánh là lời của Thiên Chúa, qua đó Ngài mặc khải cho con người thánh ý, sự thật sáng tạo và cứu độ của Ngài. Tất cả những điều này qui tụ vào mầu nhiệm nhập thể của Đức Kitô, đã được loan báo từ trước trong Cựu ước. Trong viễn cảnh này, chúng ta hiểu được ý nghĩa tràn đầy và sung mãn của Kinh thánh. Lời Thiên Chúa mặc khải sinh động, đổi mới và tái tạo sự sống dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa. Do đó, chúng ta biết rằng, tác giả, do linh hứng,  đã soạn thảo bản văn trong quá khứ, đã không biết được tất cả ý nghĩa sống động, ý nghĩa có được nhờ người đọc và nghiên cứu các bản văn thánh này. Tác giả, tuy vắng mặt trong bản văn, nhưng cũng để lại dấu ấn kiến thức và phương pháp của ông trong bản văn. Các pháp chú giải Kinh thánh cũng giúp cho người đọc hôm nay nối kết được đức tin của người đã viết ra lời của Thiên Chúa. Như vậy những người đọc hay diễn giải Kinh thánh, nhờ Thánh Linh, đi vào một truyền thống đến từ ngàn đời, được gìn giữ, bảo vệ và phát triển nhờ các Giáo hội tông truyền. Nếu Kinh thánh là sách của tất cả nhân loại, có một chỗ đứng đặc biệt trong cộng đồng con người, cũng chính nhờ Giáo hội đã đọc, sống, trải nghiệm, và tuyên bố các bản văn này như là Lời của Thiên Chúa.


2) Để cho Lời Thiên Chúa có ý nghĩa đối với người nghe, người đọc hay người nghiên cứu sâu xa hơn, những tác nhân này phải tiếp nhận Lời này như lời một người khác muôn nói hay bày tỏ cho mình biết. Lời được tiếp nhận, như là một lời sống động, đến từ bên ngoài, làm sống dậy và thôi thúc người tiếp nhận, dù chưa phân tích và diễn giải, cũng đã là ý nghĩa rồi.


Tiếp nhận lời Thiên Chúa như một lời đến từ người khác bắt buộc người đọc hay người nghe chú ý, suy nghĩ, và lấy khoảng cách để hiểu. Như thế ý nghĩa không thể đến trực tiếp và đứng chết một chỗ như cách đọc của phe phái nệ cổ (fondamentaliste) mà Giáo hội đã kết án. Điều kiện thứ hai của ý nghĩa Kinh thánh, là người đọc hiện hữu trước lời của Thiên Chúa như đang đứng trước chính Ngài. Thiên Chúa nói với tôi chứ không ai khác. Đó cũng chính là điều kiện để làm cho lời Ngài đổi mới lại lời của tôi, hay của người đọc.


3) Nói như trên, chúng ta cũng đừng quên rằng Kinh thánh là lời của con người. Như thế, lời đó cũng phụ thuộc vào các hình thức văn loại của con người trong thời kỳ được viết. Lời Kinh thánh không xem như là một chân lý siêu hình học có tính cách phổ quát cho toàn nhân loại. Kinh thánh là linh hồn của thần học, nhưng lời của các bản văn Kinh thánh không thể được xem như là kho của các luận chứng thần học. Tuy Đức Kitô là chìa khóa dẫn giải Kinh thánh Kitô giáo, Cựu ước trước tiên là một tài liệu lịch sử của dân Thiên Chúa và tài liệu văn minh và cuộc sống cụ thể của dân tộc sống ở Trung Đông. Các dữ kiện không chỉ là biểu tượng hay tinh thần của bản văn.


Đặc tính của lời Thiên Chúa là tạo ra những tương quan và nối kết giữa người và người. Thiên Chúa đã nói với tôi, tôi nhận ra Ngài, và tôi nghe lời Ngài. Thiên Chúa vô hình, nhưng Ngài đã nói qua các trung gian: trong Cựu ước, chúng ta thấy, tác giả thường viết - Giavê phán. Thiên Chúa nói, và chúng ta nghe.  Đó không chỉ là một phuơng pháp văn học, nhưng là ý thức của lương tâm. Ngài không bày tỏ điều gì cho một độc giả chung chung, nhưng Ngài nói với một người, một người nào đó. Lời Thiên Chúa có ý nghĩa của một hành động, lời đó đòi hỏi chúng ta một câu trả lời. Ý nghĩa lời Thiên Chúa là sự tạo ra liên kết giữa hai nhân vị, tạo ra một giao ước. Vì tương quan liên kết này, ý nghĩa Kinh thánh tác động đến chúng ta trong ngày hôm nay và trong khung cảnh này. Lắng nghe lời Chúa nói với dân Ngài thời đó, chúng ta hiểu được sự kiện hằng hữu trong Mặc khải Thiên Chúa. Trời đất thay đổi, khung cảnh thay đổi, con người và văn hóa biến dần theo thời gian, nhưng ý định và tình yêu Ngài không hề thay đổi. Ngài đã trung thành và ứng xử đại lượng với người ngày xưa thì Ngài cũng ứng xử với chúng ta như vậy.


Ý nghĩa sống động và đa dạng của Kinh thánh được lắng nghe, hiểu biết và đón nhận, cũng nhờ bởi các công cụ và phương pháp đến từ các môn khoa học văn chương, lịch sử, nhân văn. Chúng ta sẽ bàn đến điều này trong chương kế tiếp.


3. Các công cụ diễn giải Kinh thánh


Tài liệu chính thức củaỦy Ban Giáo hoàng Kinh thánhban hành năm 1993, đã trình bày khá chi tiết các phương pháp, phân tích và tiếp cận các bản văn Kinh thánh trong Giáo hội. Chương thứ 3 của cuốn sách này sẽ cố gắng diễn đạt một phần lớn các phương pháp nói đến trong tài liệu của Giáo hội. Các phuơng pháp hay tiếp cận khác như ký hiệu học (sémiotique), các phương pháp dựa theo ngữ cảnh như tiếp cận "giải phóng" (libéraliste), "nữ quyền" (féministe), "nệ cổ" (fondmentaliste) ít biết đến và quá xa lạ với hiểu biết và văn hóa Việt Nam, nên chúng ta sẽ bỏ qua.


Để hiểu tầm quan trọng của việc dùng các phương pháp Kinh thánh, chúng ta hãy đọc bản văn sau đây của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, mở đầu tài liệu Giáo hội:"Một trong những đặc tính của tổng luận này là sự quân bình và chừng mực. (...). Chú giải Công giáo không chỉ chú ý đến các phương diện trần thế của mặc khải Kinh thánh, đó đôi khi cũng là một lầm lẫn của phương pháp phê phán sử quan, cũng không chỉ quan tâm đến các chiều kích thiêng liêng, như phái nệ cổ đã mong muốn; chú giải Kinh thánh đưa ra ánh sáng cho bên này hay bên nọ, kết hiệp trong "hạ cố" Thiên Chúa (Dei Verbum 13), là nền tảng của toàn bộ Kinh thánh (§. 14). Sống trong một thế giới, nơi mà những nghiên cứu khoa học chiếm phần quan trọng trong nhiều lĩnh vực, khoa chú giải Kinh thánh phải tự làm cho mình một vị trí tương ứng là cần thiết. Đó cũng là phương diện hội nhập văn hóa đức tin, nằm trong sứ mạng của Giáo hội, tương quan với việc tiếp nhận mầu nhiệm Nhập Thể (§. 16)."[87]


Trong chương này, hãy bắt đầu với các tiếp cận Kinh thánh trong truyền thống Dân Thiên Chúa, vì chính Đức Kitô và các môn đệ của Ngài, và đặc biệt là thánh Phaolô, đã áp dụng để diễn giải lời Thiên Chúa.


Kế đến, các phuơng pháp "phúng dụ" (allégorie) và "dạng thái học" (typologie) cũng được mến chuộng bởi các thánh giáo phụ.


Sau đó, chúng ta nhảy vọt đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX với phương pháp phê quán sử quan, luôn còn thống trị trên địa hạt chú giải ngày nay.


Nhưng với các khám phá mới triết học qua Thông diễn học, Giáo hội, như đã nói, không thể phủ nhận các tiếp cận mới đến từ các khoa học văn chương, nhân văn, xã hội, tâm lý.


Phương pháp truyền thống Do Thái

Cổ võ bởi Giáo hội


Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, nhắc đến một cách ngắn gọn trong đoạn 1.C.2. Tiếp cận nhờ cậy đến truyền thống chú giải Do thái, những yếu tố sau đây:


- Cựu ước đã hoàn thành trong Do thái giáo từ thế kỷ thứ IV hoặc thứ V trước kỷ nguyên của chúng ta. Tân ước được sinh ra trong môi trường Do thái giáo này, và cũng từ đó Giáo hội Kitô giáo tiên khởi phát sinh. Ngày nay, nhờ những khám phá ở Qumrân và những nghiên cứu mới về lịch sử Do thái cổ, chúng ta nhận thức được sự phức tạp của thế giới Do thái, ở đất Ítraen, và trong xứ sở lưu đày trong suốt thời kỳ này. Và cũng từ đó, chúng ta có truyền thống diễn giải Kinh thánh Do thái giáo.


- Việc dịch thuật các bản văn Kinh thánh Cựu ước tiếng Hêbrơ sang tiếng Hy lạp. Chúng ta có hôm nay bản 70 (la Bible de la Septante).


- Các bản "Targoumin" tiếng Aram: Targoum là tên gọi dành cho các bản dịch Kinh thánh (Cựu ước) sang tiếng Aram, tiếng nói của Đức Kitô và những người thời đó. Công việc này là công trình của các thông dịch viên trong các hội đường Do thái, đôi khi, một người đọc một câu Kinh thánh trong tiếng Hêbrơ, và thông dịch viên chuyển ngay sang tiếng Aram. Trong Tin Mừng theo thánh Mathêô và thánh Máccô, Đức Giêsu Kitô trên thập giá đã thốt lên thánh vịnh 22, tương hợp với văn bản Targoum.


- Các nhà chú giải Kitô giáo, luôn dùng Kinh thánh Cựu ước để giải thích ý nghĩa của các bản văn Tân ước. Những nhà chú giải Kinh thánh danh tiếng như, giáo phụ Origène và thánh Jêrôm, luôn học hỏi những gì tốt đẹp trong truyền thống bác học chú giải Kinh thánh Do thái để diễn giải thông minh hơn các bản văn Kinh thánh. Và ngày nay, các nghiên cứu sinh vẫn luôn học hỏi và dùng đến các phương pháp này trong luận văn Kinh thánh của họ.


- Ngoài các sách Kinh thánh ở trong Thư Quy Do thái, chúng ta còn có các sách gọi là "ngụy thư" (apocryptes), ngày nay người ta gọi là "giữa hai giao ước" (intertestamentaire), phong phú và đa dạng. Những tài liệu này là nguồn quan trọng trong việc diễn giải Kinh thánh.


- Các tiến trình chú giải đa dạng của người Do thái được nhận thấy trong sách Cựu ước. Ví dụ như các sách Sử Biên 1 và 2, diễn giải sách Các Vua; các trích dẫn Cựu ước và lý luận của Thánh Phaolô trong các thư của ngài.


- Cựu ước và Tân ước, cũng như trong truyền thống văn chương Do thái, đều có chung các dạng thái văn chương nhưDụ ngôn, Phúng dụ, Tuyển tập (anthologie)và các phương pháp như "Centon" (góp nhặt và sáng chế lại), "relecture" (nhìn lại), "pesher"[88], đặt gần lại với nhau hai bản văn xa cách trong Kinh thánh[89], Thánh vịnh và Thánh thi, Thị kiến, Mặc khải và Giấc mơ, Các văn bản Khôn ngoan (Hiền Triết).


- Ngoài các Targoumine, chúng ta còn có Midrashim, các bài giảng và diễn giải.


Dân tộc Do Thái, Kinh thánh và Kitô giáo


Năm 2001, Giáo hội xuất bản một tài liệu khác, nói rõ hơn tầm quan trọng của truyền thống Do thái trong Kinh thánh Kitô giáo, ngay trong chủ đề văn bản:Le peuple Juif et ses saintes Ecritures dans la Bible chrétienne.[90]


Tài liệu mới này phát triển những gì chúng ta vừa nói  trên đây qua bốn chương đoạn.


- Chương thứ nhất khẳng định Kinh thánh dân tộc Do thái là nền tảng của Kinh thánh Kitô giáo (n° 2-18). Trong các phân đoạn A và B, Giáo hội nói rằng Tân ước đã nhìn nhận thẩm quyền của Kinh thánh của dân Do thái, và Tân ước được xác định bởi Cựu ước như là một hoàn thành và phù hợp với Kinh thánh dân Do thái...


- Chương thứ hai nói đến các chủ đề nền tảng trong Kinh thánh của Dân Do thái và việc đón nhận trong đức tin vào Đức Kitô (n° 16-65).


- Chương thứ ba, Giáo hội trình bày những người Do thái trong Tân ước (n° 66-83).


- Và chương thứ tư là đoạn kết (n° 84-87).


Chúng ta chú ý ở đây phân đoạn D của chương thứ nhất, Giáo hội đã nêu rõ hơn các phương pháp chú giải Do thái được dùng trong Tân ước:


- Bảy quy luật được truyền thống Do thái cho là của Hillel (qua đời 10 năm sau kỷ nguyên Đức Kitô), trong đó hai phương pháp đầu tiên thương được sử dụng làqal wa-homergezerah shawah.Hai phương pháp này nói một cách chung tương tự như phép loại suy (analogie). Một đặc trưng của hai quy luật này là lập luận thường dựa trên ý nghĩa của một từ ngữ. Và ý nghĩa lấy ra từ một chữ trong một bối cảnh và sau đó áp dụng nó trong một bối cảnh khác.


Qal wa-homerlà lối lý luận có mục đích lấy ra một sự thật tiên thiên (có trước) từ một trích dẫn Kinh thánh. Chúng ta có thể kiểm chứng phương pháp trong các đoạn văn Kinh thánh sau đây: Mt 6, 30; 7, 11; Ga 7, 23; 10, 34-36; Rm 5, 15.17; 2 Cor 3, 7-11.


Gezerah shawah, có nghĩa đen là " loại suy ngôn từ" (analogie verbale) hoặc là "bình đẳng thể loại" (equal category). Theo định nghĩa của Richard Longnecker,gezerah shawahbao gồm việc đặt gần lại với nhau hai bản văn Kinh thánh có cùng chung một từ để ý nghĩa của từ trong bản văn này cũng có thể áp dụng cho bản văn kia.  Chúng ta có thể  nhận thấygezerah shawahtrong Mt 12, 1-4; Cv 2, 25-28; Rm 4, 1-12; Gl 3, 10-14; Dt 1,13 và 2,8; 4,3 và 4,4; 5,5 và 5,6; 6,20 và 7,1.10; 10,6-7 và 10,37-38.


- Chú giải Kinh thánh ở Qumrân và Tân ước. Trên phương diện hình thức và phương pháp, Tân ước, và nhất là các Tin Mừng, có một cách trích dẫn Kinh thánh rất giống Qumrân. Các lối dẫn nhập hay mở đầu những trích dẫn thường giống nhau: chẳng hạn, "đã viết như thế" (ainsi il est écrit), "như đã được viết " (comme il est écrit), "phù hợp với những gì đã được nói" (conformément à ce qui a été dit)". Qumrân cũng như Tân ước nhận ra trong các lời ngôn sứ như sự hoàn thành ở thời đại của họ đang sống, một cách vượt qua sự chờ đợi và sự hiểu biết của ngôn sứ. Qumrân và Tân ước đã có cùng một niềm tin qua sự thông hiểu hoàn toàn các lời ngôn sứ đã được Mặc khải với "Bậc Thầy Công Lý" (Maître de Justice) của cộng đoàn Qumrân, và Đức Giêsu Kitô của tín hữu Kitô giáo. Khi đọc các sách của Qumrân, chúng ta thấy họ cũng có những chú giải giống thời đại của chúng ta: Kinh thánh được xem như là lời của Thiên Chúa. Họ diễn giải một số bản văn theo nghĩa văn chương và lịch sử, và trong khi đó cũng có một số khác, được diễn giải áp dụng vào thời họ đang sống, một cập nhật hóa lời Thiên Chúa.


Nhưng cũng có một khác biệt đáng kể: Điểm khởi đầu của các bản văn Qumrân, chính là Kinh thánh, trong Tân ước, chính là Đức Kitô.


- Những ám chỉ rất có ý nghĩa đến Cựu ước. Tân ước thường ám chỉ đến các biến cố Cựu ước như một phương tiện để minh chứng ý nghĩa các biến cố trong đời sống Đức Kitô. Chẳng hạn như các câu chuyện thời trẻ thơ của Đức Kitô trong Tin Mừng theo Thánh Mathêô tỏ lộ tất cả ý nghĩa nếu như chúng ta đọc thấy đằng sau đó những câu chuyện Kinh thánh và hậu Kinh thánh có liên đến Môsê. Tin Mừng thời trẻ thơ của Đức Kitô thì liên quan với phong văn gợi ý Kinh thánh được tìm thấy ở thế kỷ thứ nhất trong các Thánh vịnh của Salomôn hoặc các thánh thi của Qumrân. Các bài ca của Maria, của Zacharia, và của Simêôn có thể so sánh với các thánh thi của Qumrân. Một số biến cố của đời sống Đức Giêsu Kitô, như thần hiển khi Chúa Giêsu nhận phép thanh tẩy bên bờ sông Jordan, việc biến hình trên núi, phép lạ hóa bánh ra nhiều, phép lạ đi trên mặt nước, giống như được kể với ý tưởng liên quan đến các biến cố hay các câu chuyện của Kinh thánh Cựu ước. Các đối đáp của khán giả trong các dụ ngôn, chẳng hạn như chuyện những người thợ vườn nho giết người trong Matthêu cũng như trong hai Tin Mừng khác chứng tỏ rằng họ đã quen với cách xử dụng kho tàng hình ảnh Kinh thánh như một kỹ thuật để diễn tả một thông điệp hay một bài học.


Huấn dụ"Le peuple Juif et ses saintes Ecritures dans la Bible chrétienne"cho chúng ta thấy việc sử dụng Kinh thánh để giải thích Kinh thánh là một phương pháp không những hữu ích mà rất gần với sự thật mặc khải.


Kinh thánh giải thích bởi Kinh thánh


Đây chính là thước đo vàng bạc của chú giải Kinh thánh. Các nhà thần học gọi phương pháp này là "loại suy đức tin" hay "loại suy Kinh thánh". Nhưng cũng có nhiều câu hỏi trên vấn đề này: sách nào thì có thẩm quyền so với các sách khác? Nhiều sách gọi là "đệ nhị thư quy" được Giáo hội Công giáo chấp nhận như sách Tôbia, Giuđitha, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Barúc, 1 và 2 Macabê, các đoạn thêm vào trong sách Étte và sách Danien, nhưng chúng không nằm trong Thư Quy Do thái và các Giáo hội Tin lành gọi là những ngụy thư.[91]


Tuy vậy, chúng ta vẫn luôn nhớ rằng tác giả chính là Thánh Thần Thiên Chúa, Ngài luôn là nguồn mạch lạc và nhất kiến của Kinh thánh. Triết gia Pháp Pascal đã nói: "Chỉ có Thiên Chúa mới nói rõ về Thiên Chúa".


Phương pháp Kinh thánh để giải thích Kinh thánh, hay còn gọi là loại suy đức tin, chứa đựng các chiều kích nền tảng  sau đây: 1) trong một chủ đề của Kinh thánh, lời Thiên Chúa được phát biểu xa xưa nhất là lời quan trọng nhất, 2) lời Kinh thánh ở sách này sẽ giải thích và làm sáng tỏ ý nghĩa bản văn khác của Kinh thánh, 3) các sự thật và ý nghĩa trong Kinh thánh không mâu thuẫn nội tại và thần học, 4) những bản văn khó hiểu sẽ được giải thích và soi sáng bởi các bản văn rõ hơn.[92]


Các lời Mặc khải đầu tiên


Trong sách Sáng thế, đoạn 3 câu 15, Thiên Chúa nói với quỷ dữ tại vườn Địa Đàng:"Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó". Phải nhiều thế kỷ sau đó chúng ta mới có thể hiểu rõ lời mặc khải quan trọng này của Thiên Chúa nói với Evà, khi lời đó được làm sáng tỏ với sự nhập thể của Đức Kitô. Những lời đầu tiên của Thiên Chúa được mặc khải từ đầu như một hạt giống đang nảy mần theo thời gian của nhân loại, như một chuyển động từ từ theo giai đoạn. Thiên Chúa là một nhà sư phạm giỏi, luôn tôn trọng khả năng tiếp nhận và hiểu biết của con người. Thánh Phaolô đã hiểu rõ điều này khi nói: "Cũng như ông Ápraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế Thiên Chúa kể ông là người công chính. Vậy anh em nên biết rằng: những ai dựa vào đức tin, những người ấy là con cái ông Ápraham. Ðàng khác, Kinh thánh thấy trước rằng Thiên Chúa sẽ làm cho dân ngoại nên công chính nhờ đức tin, nên đã tiên báo cho ông Ápraham Tin Mừng này: Nhờ Người, muôn dân sẽ được chúc phúc. Như vậy, những kẻ dựa vào đức tin thì được chúc phúc làm một với ông Ápraham, người có đức tin."(Gl 3,6-9)


Lời Thiên Chúa diễn giải lời Thiên Chúa

So sánh các bản văn tương ứng cùng một tác giả để hiểu ý tuởng của ông và ý nghĩa của bản văn. Chẳng hạn, hãy so sánh Mt 5,38-42, Đức Giêsu nói:"Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, thì anh hãy cho; ai muốn vay mượn, thì anh đừng ngoảnh mặt đi"  với Mt 26,28: "vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội".


So sánh các bản văn tương ứng của các tác giả khác. Chúng ta có thể bắt đầu so sánh bằng cách nghiên cứu ngữ nghĩa, chúng ta tìm một từ khóa chung hiện hữu trong các bản văn khác nhau và tìm hiểu ngữ nghĩa của chúng theo bối cảnh văn chương của các bản văn đó. Chẳng hạn, lời của Thiên Chúa nói với Môsê  trong sách Xuất hành "Ông Môsê nói:"Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài." Người phán: "Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là Ðức Chúa trước mặt ngươi. Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót." Người phán: "Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống." Ðức Chúa còn phán: "Ðây là chỗ gần Ta; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy" (Xh 33,18-23), cũng giống như lời Ngài nói với ngôn sứ Elie "Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Ðức Chúa". Sau đó trong Tân ước chúng ta thấy Môsê và Elie đều có mặt trên núi Sinai nơi mà đức Giêsu Kitô biến hình: "Sáu ngày sau, Ðức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo bên mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.  Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và kìa các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô thưa với Ðức Giêsu rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, hay quá! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái". Ông còn đang nói, thì kìa có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và kìa có tiếng từ đám mây phán rằng: "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!" Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. Bấy giờ Ðức Giêsu lại, chạm vào các ông và bảo: "Chỗi dậy đi, đừng sợ!" Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Ðức Giêsu mà thôi"(Mt 17,1-9).


Để diễn giải, chúng ta  cũng có thể so sánh hai hoặc nhiều bản văn có cùng một chủ đề hay cùng một ý nghĩa, ví dụ như về ăn uống, giữ chay.


Diễn giải Cựu ước bằng ánh sáng Tân ước


Đối với người Kitô hữu, mầu nhiệm nhập thể của Đức Kitô giúp chúng ta hiểu hơn các bản văn Cựu ước. Chính Ngài cũng đã giúp các môn đệ và đám đông hiểu ý nghĩa lề luật và lời Thiên Chúa trong sách Cựu ước. Thánh Gioan nói:"Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có"(Ga 1,17).


Khi các người Saduccéen đến bắt bẻ Thiên Chúa về sự sống lại, họ dẫn chứng lề luật về việc cưới vợ trong truyền thống Do thái và được nói đến trong Cựu ước, Ngài nói với họ:"Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,  chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn để kẻ chết sống lại, thì chính ông Môsê cũng đã cho thầy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Ðức Chúa là Thiên Chúa của tổ phục Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống"(Lc 20,34-38).


Lời Thiên Chúa không chống đối nhau


Điều này là nguyên tắc căn bản của chú giải Kinh thánh Kitô giáo. Nhưng nếu chúng ta gặp các bản văn đối kháng nhau về tưởng thì phải hiểu làm sao?


Những mâu thuẫn trong hình thức văn loại chứng minh được tính xác thực của các chứng tá có các lối nói và cách diễn đạt khác nhau: các tác giả trong các Tin Mừng nhất lãm, tuy có những dữ kiện chung nhưng mỗi người có một lối viết khác nhau. Và Tin Mừng theo Thánh Gioan còn có sắc thái riêng biệt. Hơn nữa, mục đích và đối tượng của các ngài không giống nhau.


Có những mâu thuẫn rất được biết đến qua hai lối nói của thánh Phaolô và thánh Giacôbê về đức tin:"Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Môsê. Ðiều này, sách Luật và các ngôn sứ làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai"(Rm 3,21-22) và"Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Ðàng khác, có người sẽ bảo: "Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin"(Gc 2,17-18). Hai thánh tông đồ không diễn tả cùng một ý nghĩa của từ ngữ đức tin trong hai bối cảnh khác nhau.


Hãy cố gắng đi vào chiều sâu của các "nghịch lý" trong Kinh thánh. Vì các nghịch lý cũng là một phương các nói đến các mầu nhiệm thoát khỏi lý trí của con người. Trong trường học, chúng ta thường được dạy theo lý luận theo một chiều của tư duy. Sức mạnh của lối lý luận này là loại bỏ các mâu thuẫn: chẳng hạn màu đen, không thể là màu trắng. Trong đức tin, chúng ta các nhà thần học cũng thường hay làm như vậy. Nhưng ngay cả trong đời sống con người, sự thật mà chúng ta thấy được thường lấn át những sự thật thoát khỏi lý trí con người. Những sự thật đó, thường ẩn chứa trong các nghịch lý. Nghịch lý là bề mặt của hai yếu tố mâu thuẫn đối kháng, nhưng chúng đến từ một nguồn và đi đến cùng một mục đích. Ngay cả trong khoa học, chúng ta cũng có nhiều nghịch lý: ánh sáng vừa là hạt cũng là sóng. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Nhập thể, Thánh giá, là những nghịch lý của Kitô giáo. Chính các nghịch lý này đòi hỏi các tín hữu luôn quan sát, suy nghĩ và phán đoán trong tinh thần khiêm tốn để bước vào sự thật vĩ đại của Đức Kitô.


Sau đây là một số ví dụ về nghịch lý trong Tân ước, đòi hỏi trí óc và thông minh của chúng ta bước vào thế giới luận lý  biện chứng: Ơn huệ và công trạng, Nước trời đã đến rồi, nhưng vẫn chưa hiện hữu, Thánh ý Chúa và ý muốn của con người, bản tính của Đức Kitô, hành động của con người và tác động của Thánh Linh,...


Nếu chúng ta ở lại trên một phía chúng ta sẽ mất sự thật trong phía khác. Lý trí đức tin mời gọi chúng ta đi vào năng động của Thiên Chúa.


Diễn giải văn tối ý bằng văn bản sáng tỏ


Chẳng hạn, các đoạn văn của sách Khải huyền hay một vài bản văn nói về sự trở lại của Đức Kitô vẫn còn rất khó hiểu đối với Kitô hữu chúng ta. Như thế, khi diễn giải chúng ta phải cậy nhờ đến các bản văn khác để làm sáng tỏ hơn vấn đề. Các tín hữu thời đó cũng như các môn đệ cứ nghĩ rằng ngày Đức Kitô lại đến đã gần kề và đó chính là ngày tận thế với các dấu hiệu kỳ lạ và tai họa đã được loan báo, họ hỏi Đức Kitô:"Sau đó, lúc Người ngồi trên núi Ôliu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa: "Xin Thầy nói cho chúng con biết bao giờ những sự việc ấy sẽ xảy ra, và điềm gì báo trước cuộc quang lâm của Thầy và báo trước tận thế". Đức Giêsu đáp: "Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: "Chính Ta đây là Ðấng Kitô", và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Anh em sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã; coi chừng, đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn đau đớn."Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát."Tin Mừng này về Vương Quốc sẽ được loan báo trên khắp thế giới, để làm chứng cho tất cả các dân ngoại được biết. Và bấy giờ sẽ là tận cùng"»(Mt 24,3-14). Nhưng sau đó đức Giêsu Kitô quả quyết:"Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi"(Mt 24,36; Mc 13,32; Cv 1,7).


Kinh thánh Cựu ước và Tân ước bổ túc và soi sáng cho nhau. Bởi thế trong các truyền thống dẫn giải Do thái cũng như vào thời Đức Kitô, có hai phương pháp thường được áp dụng, chúng ta sẽ đề cập đến tiếp theo sau đây.


Chú thích:

[87] "Un autre trait caractéristique de cette synthèse est son équilibre et sa modération. (…). L’exégèse catholique n’attache pas son attention aux seuls aspects humains de la révélation biblique, ce qui est parfois le tort de la méthode historico-critique, ni aux seuls aspects divins, comme le veut le fondamentalisme ; elle s’efforce de mettre en lumière les uns et les autres, unis dans la divine “condescendance” (Dei Verbum, 13), qui est à la base de toute l’Écriture (§. 14). Dans un monde où la recherche scientifique prend plus d’importance en de nombreux domaines, il est indispensable que la science exégétique se situe à un niveau comparable. C’est un des aspects de l’inculturation de la foi qui fait partie de la mission de l’Église, en lien avec l’accueil du mystère de l’Incarnation (§. 16)"

[88] Le pesher (số nhiều là pesharim), là một danh từ tiếng Hêbrơ chỉ định phương pháp diễn giải Kinh thánh riêng biệt của các giáo phái ở Qumrân. Họ diễn giải các Ngôn Sứ hay Sấm Truyền như là những lời đang nói với hiện tại. Theo phương pháp này, họ không để ý đến bối cảnh lịch sử. Học cập nhật hóa các bản văn Kinh thánh và diễn giải các biến cố trong hiện tại như là đang ở trong thời cánh chung. Tên gọi pesher đến từ phong văn soạn thảo : một đoạn văn Kinh thánh được mở đầu bằng lối nói " diễn giải điều này là" (pesher ha-davar) hoặc "diễn dịch của nó là" (pishro).

[89] "Thông diễn loại suy" :  người ta hòa nhập một cách mặc nhiên các diễn đạt Kinh thánh : ví dụ, 2Cr 4, 5-6 hòa lẫn với St 1, 3 và Is 9, 1.

[90] COMMISSION BIBLIQUE PONTIFICALE, Le peuple Juif et ses saintes Écritures dans la Bible Chrétienne,  http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/pcb_documents/rc_con_cfaith_doc_20020212_popolo-ebraico_fr.html, tham khảo ngày 25/03/2015.

[91] Valérie DUVAL-POUJOL, "Septième clé  : L’Ecriture s’explique par l’Ecriture" trong 10 clés pour comprendre la Bible, Empreinte Temp Présent, 2004.

[92] Valérie DUVAL-POUJOL, "Septième clé : L’Ecriture s’explique par l’Ecriture, http://www.relation-aide.com/art_description.php?id=329&cat=25, tham khảo ngày 25/03/2015.


Phương pháp Phúng Dụ và Loại Hình Thái[93]


Như đã nói trên đây, hai phương pháp truyền thống này được các nhà chú giải Kinh thánh Kitô giáo áp dụng ngay từ thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, như trong Thư gởi tín hữu Do thái, và được các giáo phụ nhắc đến rất nhiều, chẳng hạn Origène (185-253), thánh Cyrille thành Giêrusalem (315-386), thánh Grégôriô ở Nysse (335-394).


Phúng Dụ nghĩa là gì?


Phúng dụ là một phân tích văn chương, muốn khám phá ý nghĩa đang còn ẩn dấu dưới ngôn từ của bản văn. Người ta có thể diễn giải bằng nhiều cách: như một soi sáng thần linh, như một kết quả của việc nghiên cứu có phương pháp, như sự khôn khéo của bản năng đầy sáng tạo. Người xưa, có văn hóa Hy lạp, áp dụng phương pháp này để đọc các bản văn của Homère (thế kỷ thứ VIII trước Đức Kitô), của Virgile (thi nhân La mã, sinh năm 70 và chết năm 19 trước Đức Kitô), và nhất là trong chú giải Kinh thánh.


Vào thời Virgile, chú giải theo phúng dụ bắt đầu được áp dụng để đọc các bản văn rất xa với truyền thống văn chương Hy lạp và La mã: các bản văn Kinh thánh (Cựu ước). Văn sĩ Do thái, nói tiếng Hy lạp Philon thành Alexandrie (20-50 trước Đức Kitô) đã nổi tiếng trong việc áp dụng phương pháp này vào Kinh thánh. Vài chục năm sau đó, các nhà chú giải Kinh thánh cho rằng những bản văn đến sau đã diễn giải các sách có trước và khám phá những ý nghĩa chưa được nhận ra. Phương pháp này càng thấy rõ khi họ đứng vào trong viễn cảnh của Tân ước đễ hiểu Cựu ước, ví dụ như trong bản văn trên đường Emmau của thánh Luca, đức Giêsu Kitô giải thích cho hai môn đệ, không nhận ra Ngài đã sống lại, thông hiểu những gì đã được loan báo trong sách của Môsê và trong các Ngôn sứ (Lc 24,13-35).


Như thế, chú giải theo phúng dụ đã trở thành một phương pháp gắn liền với Kinh thánh, nhất là Kinh thánh của những người Kitô hữu, từ sách Sáng thế đến sách Khải huyền.


Phúng Dụ theo giáo phụ Origène


Trong các thư của thánh Phaolô, chúng ta cũng nhận ra một vài đoạn văn được dùng lối chú giải phúng dụ: 1Cr 10,1-2; 6-11; Gl 4,21-31)...


Để hiểu rõ phương pháp phúng dụ hay loại hình thái, chúng ta nên nhắc lại rõ hơn về 4 ý nghĩa của Kinh thánh theo các giáo phụ, đặc biệt là trong các tác phẩm của Origène:


1) Ý nghĩa thứ nhất là ý nghĩa sát với bản văn, theo ngữ nghĩa, hay còn gọi là ý nghĩa lịch sử, diễn đạt trực tiếp bởi các tác giả nhân loại được linh hứng. Ý nghĩa cơ bản và nhờ đó chúng ta mới có thể tìm hiểu ý nghĩa thiêng liêng.


Thánh Thomas Aquinô còn phân biệt ra 3 loại ý nghĩa thuộc loại này:

- ý nghĩa dụ ngôn, ý nghĩa căn nguyên (étymologique), khi một lời phát biểu đến và tuy thuộc vào một điều kiện đặc biệt, ý nghĩa loại suy.  Đối với các nhà chú giải hiện nay, khi họ dùng phương pháp phê phán sử quan (historico critique), họ cũng muốn khám phá ra ý nghĩa mà các tác giả nhân loại muốn nói, cho dù ý nghĩa đó đôi khi rất khó chấp nhận: ví dụ, câu chuyện loạn luân giữa ông Lot và các con gái của ông (St 19,30-38), những lời Thiên Chúa trái với tình yêu vô biên của Ngài (Tv 68[67],22-24).


2) Kinh thánh là lời của Thiên Chúa, ý nghĩa thiêng liêng nói lên Thánh ý của Ngài. Thánh Phaolô nói:" Ðấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao ước mới, không phải Giao ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống"(2Cr 3,6). Ba ý nghĩa kế tiếp trong Kinh thánh nằm trong lĩnh vực này:ý nghĩa phúng dụ hay loại hình thái, ý nghĩa luân lý hay ẩn dụ (tropologique), và ý nghĩa "siêu nhiên", ý nghĩa nâng người đọc hướng lên cõi thiêng (anagogique, hành động nâng hồn lên).


- Theo phương pháp phúng dụ, việc đầu tiên mời gọi trí óc chúng ta không dừng lại ở nghĩa văn chương lịch sử. Kế đến, tìm ý nghĩa phúng dụ tất cả các bản văn dựa vào mầu nhiệm của Đức Kitô, nói chính xác hơn, Đức Kitô hoàn thành những gì loan báo trong Kinh thánh. Trong Tân ước, chúng ta thấy rõ vị trí trung tâm của Ngài: Mt 21,33-44; Mc 12,1-11; Lc 24,13-35.

- Ở đây, chúng ta phân biệt một chút giữa ý nghĩa phúng dụ và ý nghĩa theo loại hình thái. Type, từ ngữ Hy lạp có nghĩa là "hình dung" (figure) có thể dịch ra tiêng Việt là thể loại hình, chẳng hạn như các yếu tố loan báo hình dung Đức Kitô. Như thế, phúng dụ mở rộng ý nghĩa loại hình thái, cho phép diễn đạt sang tất cả các  ý nghĩa thiêng liêng của Tân ước như phục sinh, thánh giá, Giáo hội, phép rửa, tin mừng,... Ví dụ:

- Ađam, hình ảnh Đức Kitô (Rm 5,14).

- Môsê gõ vào tảng đá để lấy nước, biểu tượng Đức Kitô (1Cr 10,4).

- Melchisédek (St 14, 17-20 + Tv 110, 4), hình ảnh loan báo Đức Kitô (Dt 5, 6.10; 6, 20; 7, 3.10-11.15.17.21)

- Isaac, hình ảnh Đức Kitô (Ga 8, 56. Đoạn văn này không thể hiểu nếu không diễn giải với Đức Kitô), Hy tế Isaac (St 22, 1-19), đoạn văn khó chấp nhận nếu không đọc theo ý nghĩa loan báo sự hy tế của Đức Kitô và sự sống lại của Ngài, ý nghĩa hướng lên (anagogique) (Dt 11, 17-19).

- Người Samaritain nhân lành là hình ảnh của chính Đức Kitô chăm sóc và cứu chữa nhân loại, theo các giáo phụ (Lc 10, 25-37)...


Ý nghĩa theo hình thái đưa chúng ta các lĩnh vực rộng hơn theo phúng dụ:

- Sự kết hợp giữa Ađam và Evà loan báo mầu nhiệm của Đức Kitô và Giáo hội (Ep 5, 31-32)

- Đại hồng thủy là hình ảnh phép rửa (1 Pr 3, 20-21)

- Vượt qua biển đỏ biểu trưng cho phép rửa tội (1Cr 10, 1-2).

- Sara và Haga (St 16); đoạn văn khó hiểu theo ngữ nghĩa trong các đọc phê phán sử quan, thánh Phaolô đã đọc theo cách của Ngài, diễn đạt sự khác biệt giữa hai giao ước, một bên là nô lệ theo lề luật con người, và một bên là tự do đến từ lời hứa bởi ơn huệ Thiên Chúa (Gl 4, 21-31).

- Isaac vét lại và dọn sạch các giếng đã được đào bởi Apraham, cha của ông, bị quân Philitinh vùi lấp (St 26, 12-19), biểu trưng hình ảnh Đức Kitô mở ra ý nghĩa của Cựu ước bị che khuất bởi người Pharisiêu và các tiến sĩ luật (Origène, Père de l'Eglise, Bài giảng 13 trên sách Sáng thế).

- Trong đoạn 2Cr 4, 6-7, với hình ảnh kho tàng chứa trong bình sứ mỏng dòn là hình ảnh ý nghĩa thiêng liêng của Kinh thánh ẩn chứa dưới văn bản trần thế, theo giáo phụ Origène.


Trong biểu đồ dưới đây, chúng ta sẽ thấy mối tương quan của ý nghĩa phúng dụ với các ý nghĩa khác:


Luân lý          Siêu nhiên


Phúng dụ hay loại hình thái


Ý nghĩa thiêng liêng


Ý nghĩa văn chương lịch sử


Để kết, khi diễn giải Kinh thánh với phương pháp thiêng liêng, chúng ta nên ghi nhớ 4 điểm chính sau đây:


1) Phương pháp phúng dụ mời gọi tâm hồn và trí óc chúng ta nhận thấy trong mỗi trang Kinh thánh, chính là lời Thiên Chúa và một sứ điệp của mầu nhiệm tình yêu.


2) Ý nghĩa phúng dụ hướng chúng ta tới Đức Kitô và thắt chặt chúng ta hơn trong liên kết với Ngài.


3) Hệ quả việc kết hiệp chặt chẽ với Đức Kitô, tăng cường tầm quan trọng của Kitô học trong Kinh thánh, và giúp chúng ta xác tín hơn vai trò của Đức Kitô, trên con đường đến với Chúa Cha.


4) Cuối cùng là phương pháp phúng dụ mở rộng tầm nhìn của chúng ta trên các chủ đề của Kinh thánh, giúp chúng ta hiểu biết hơn Cựu ước và các tôn giáo khác.


Vì thế chúng ta mới hiểu tại sao Giáo hội Công giáo, qua tài liệuL’Interprétation de la Bible dans l’Eglise, và nhất là trong các huấn dụ của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, khuyên chúng ta nên kết hợp các phương pháp truyền thống với phương pháp phê phán sử quan, đã và vẫn còn được xem là công cụ nghiêm túc và khoa học của việc chú giải Kinh thánh.[94]


Phương pháp phee phán sử quan [95]


Như ta đã nói đến trong phần lịch sử, Alfred LOISY là một trong những người đại diện trong thời kỳ đầu của chú giải Kinh thánh theo phê phán sử quan. Đức Giáo hoàng Piô X và ngay cả Đức Giáo hoàng Biển  Đức XVI cũng nhắc đến tên ông trong các Tông thư của các ngài. Phương pháp sử quan đến từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, đuợc phát triển trong các đại học Tin lành ở Đức (Türbingen), ở Hoa kỳ trong các trường thần học (Divinity School ở Chicago, Havard, và Yale) ở Thụy sĩ (Genève et Lausanne), và sau đó trong giới Công giáo với Trường Kinh thánh và Khảo cổ ở Giêrusalem.


Người ta hay lẫn lộn giữa phuơng pháp sử quan và chú giải Kinh thánh. Thực ra, chú giải Kinh thánh có từ lâu đời trước khi phương pháp phê phán sử quan xuất hiện.


Chúng ta cần phải phân biệt rõ các lối nói sau đây: theo nghĩa căn bản hoặc ngữ nguyên học (étymologie), khi nói "chú giải" (l’exégèse), là giải thích; khi dùng chữ l’herméneutique, là khoa học diễn dịch (interprétation); khi nói về phương pháp (méthode), là nói đến con đường, là công cụ; khi nói chữ lịch sử, phải nghĩ tới, việc điều tra, tìm kiếm sự thật; và khi dùng từ "phê phán", đó là nhận thức, so sánh và đánh giá để quyết định đúng hay sai.


Thật ra khi nói về phương pháp phê phán sử quan, chúng ta biết không phải là một phương pháp, mà là nhiều phương pháp.[96]Chú giải Kinh thánh theo phương pháp sử quan, là tìm tòi, so sánh, giải thích và diễn đạt Lời Chúa theo một tiến trình có tính cách khoa học.[97]Trước một bản văn Kinh thánh, nhà chú giải phải cần biết các giai đoạn soạn thảo khác nhau của bản văn và giải thích nó theo bối cảnh lịch sử thời đó.


Sau đây là 7 giai đoạn căn bản của phương pháp sử quan:


1) Thứ nhất, giới hạn bản văn nghiên cứu: mục đích muốn tìm là xác định rõ khởi đầu và kết thúc của bản văn.[98]Để làm được điều này, nhà chú giải phải xác định bối cảnh bản văn, những cách thức kết luận của đoạn trước nó, và cách mở đầu đoạn văn mới. Chúng ta cũng có thể kiểm chứng sự thống nhất bản văn bằng những dấu chỉ văn chương ngay trong đoạn văn đó, nhân vật, đối thoại, khung cảnh.


2) Giai đoạn thứ hai rất khó thực hiện cho những ai không chuyên môn về Kinh thánh, và không biết tiếng Do thái hay Hy lạp, đó là việc phê phán bản thảo (critique textuelle). Chúng ta có nhiền bản chép tay, dến từ nhiều thế kỷ khác nhau. Người chú giải phải thiết lập được bản văn tốt nhất giữa nhiều bản thảo. Nên biết rằng, các sách Kinh thánh tiếng Do thái, hay Tân ước tiếng Hy lạp hiện nay, chính là những bản đã được các nhà chú giải phân tích, lý luận và lấy quyết định cuối cùng trên hàng trăm bản thảo có được qua nhiều thời kỳ và truyền thống khác nhau trong lịch sử. Dầu vậy khi xuất bản, họ cũng phải để các ghi chú ở cuối trang sách, gọi là"apparat critique", những câu, những chữ, hoặc những thiếu sót khi so sánh các bản thảo khác nhau. Và các bản thảo này được mã hóa. Ngay cả những người học chuyên môn về Kinh thánh, cũng phải cậy nhờ đến các chuyên gia trong lĩnh vực này đã nghiên cứu trước, chẳng hạn, cuốn Kinh thánh Tân ước xuất bản bởi K. Aland và những cộng sự viên, tại nhà xuất bảnUnited Bible Societies, Stuttgart, in lần thứ 3, 1988.


Ví dụ, một bản văn Kinh thánh tiếng Hy lạp, vớiapparat critiquesau đây:

18 Tou/ de.VIhsou/ Cristou/ h`ge,nesijou[twj h=nÅ mnhsteuqei,shj th/j mhtro.j auvtou/ Mari,aj tw/| VIwsh,f( pri.n h' sunelqei/n auvtou.j eu`re,qh evn gastri. e;cousa evk pneu,matoj a`gi,ouÅ 

19 VIwsh.f de. o` avnh.r auvth/j( di,kaioj w'n kai. mh. qe,lwn auvth.ndeigmati,sai( evboulh,qh la,qra| avpolu/sai auvth,nÅ 

20 tau/ta de. auvtou/ evnqumhqe,ntoj ivdou. a;ggeloj kuri,ou katV o;nar evfa,nh auvtw/| le,gwn\ VIwsh.f ui`o.j Daui,d( mh. fobhqh/|j paralabei/n Mari,an th.n gunai/ka, sou\ to. ga.r evn auvth/| gennhqe.n evk pneu,mato,j evstin a`gi,ouÅ 

21 te,xetai de. ui`o,n( kai. kale,seij to. o;noma auvtou/ VIhsou/n\ auvto.j ga.r sw,sei to.n lao.n auvtou/ avpo. tw/n a`martiw/n auvtw/nÅ 

22 tou/to de. o[lon ge,gonen i[na plhrwqh/| to. r`hqe.n u`po. kuri,ou dia. tou/ profh,tou le,gontoj\ 

23 ivdou. h` parqe,noj evn gastri. e[xei kai. te,xetai ui`o,n( kai.kale,sousinto. o;noma auvtou/ VEmmanouh,l( o[ evstin meqermhneuo,menon meqV h`mw/n o` qeo,jÅ 

24evgerqei.jde. o` VIwsh.f avpo. tou/ u[pnou evpoi,hsen w`j prose,taxen auvtw/| o` a;ggeloj kuri,ou kai. pare,laben th.n gunai/ka auvtou/( 

25 kai. ouvk evgi,nwsken auvth.n e[wj ou- e;tekenui`o,n\ kai. evka,lesen to. o;noma auvtou/ VIhsou/nÅ


Apparat critique (tiếng Anh)


1,18.Ihsou Cristou.Tregellesomits andWestcott-HortbracketsIhsouhere, according to theOld Latin,Vulgate, and theOld Syriac version. Scribes tended to add "Jesus" to "Christ" and "Christ" to "Jesus" but rarely did they omit either word while copying the familiar phrase "Jesus Christ." However,codex Whas only "Jesus" here. These omissions are hard to explain.West.margtransposesIhsou Cristou"Jesus Christ" toCristou Ihsou"Christ Jesus," according toBalone. (Bseems to have a preference for "Christ Jesus.")

1,18.genesiV. theTRhasgennhsiV"birth," according  toLand most cursives. We readgenesiV"genesis, origin, genealogy, birth" with Gries.Lach. Tisch. Treg. Alf. Word. West. Nest. UBS., according toP1S B C Wand some cursives. Scribes might easily have writtengennhsiVinstead because of the frequently preceedingegennhse.

1,19.deigmatisai. TheTRhasparadeigmatisai"make a public example" (the compound being somewhat more emphatic), according toS* C L Wand most cursives. We readdeigmatisai"make an example" withLach. Tisch. Treg. Alf. West. Nest. UBS., according toS1B Z, and some cursives. Scribes often preferred a more impressive word, andparadeigmatisaiwas also more commonly used in theLXX.

1,23.kalesousin.BezareadskaleseiV"thou shalt call" here instead ofkalesousin"they shall call," according toD. The scribe has changed the verb to conform it to the Septuagint version of Isaiah 7,14. All the otherold MSShavekalesousinhere.

1,24.egerqeiV. theTRhasdiegerqeiV"being raised," according toD L Wand most cursives. We readegerqeiV"having risen" withLach. Tisch. Treg. Alf. West. Nest. UBS., according toS B C* Zand a few cursives. The difference in meaning is very slight, but the compound form is somewhat more passive and emphatic in sense. Scribes may have substituted the stronger expression, as withparadeigmatisaiin verse 19. But on the other hand scribes may have substituted the more common and simple form of this verb (see 2,14) for the less common compound form.

1,25.uion.TRaddsauthV ton prwtotokon"her firstborn" afteruion, according toC D L W, most cursives, someOld Latin MSS, theVulgate, and thePeshitta Syriac. We omit it withLach.Tisch. Treg. Alf. West. Nest. UBS., according toS B Zand some cursives, someOld Latin MSS, theOld Syriac, and the Coptic versions. Probably scribes inserted the words from the parallel in Luca 2,7.

Trên đây chỉ là một ví dụ cho biết vềapparat critique. Trong các Kinh thánh Cựu ước hoặc Tân ước bằng tiếng Do thái hay Hy lạp, ở phần duớc bản văn có phần ghi chép các khác biệt trong các bản thảo hiện có. Các chữ in đậm chính là mã số của các bản thảo có được.[99]Phần phê phán bản văn này được làm bởi nhà xuất bản tiếng Anh, in ra bản Kinh thánh tiếng Hy lạp.


Chú thích:

[93] Valérie DUVAL-POUJOL, "deuxième clé : L’allégorie et la typologie", http://www.relation-aide.com/art_description.php?id=329&cat=25, tham khảo ngày 25/03/2015

[94] L’Interprétation de la Bible..., tr. 93.

[95] Guillemette Pierre et Brisebois Mireille, Introduction aux méthodes historico-critiques, Montréal, La Corporation des Editions Fides, 1987, tr. 15-88.

[96] La méthode historico-critique - au singulier - est pafois utilisée dans un sens très large et elle englobe alors toutes les méthodes qui s'intéressent à la critique bibilique. Une telle expression est contraire à la vérité (...) En réalité, parler de "la méthode historico-critique" fait référence à une manière de travailler qui s'est développée au XIXème siècle et qui a été explicitée et corrigée au XXème siècle. Il n'y a jamais eu une seule façon d'analyser les textes. C'est pourquoi il est préférable de parler des méthodes historico-critiques, puisqu'il y a vraiment pluralité de méthodes. Les méthodes historico-critiques comportent donc, comme nous venons de le voir, plusieurs méthodes qui dépendent plus ou moins les unes des autres et dont la combinaison globale ou l'agencement est loin de faire l'unanimité. (Phương pháp phê phán sử quan - số ít - đôi khi được dùng trong một ý nghĩa rất rộng và bao gồm tất cả các phương pháp liên quan đến việc bình giải Kinh thánh. Một lối nói như thế đi ngược lại với sự thật (...) Thực ra, khi nói ‘phương pháp phê phán sử quan’ là đưa dẫn đến cách thức làm việc được phát triển vào thế kỷ 19 và được giải thích và sửa chửa vào thế kỷ XX. Không bao giờ có một cách duy nhất phân tích các bản văn, vì có nhiều phương pháp. Vậy phương pháp phê phán sử quan theo số nhiều tụ hợp, như chúng ta vừa mới thấy, nhiếi phương pháp lệ thuộc với nhau và tổng thể hay sự sắp xếp thì còn xa với chấp nhận đồng thuận). Guillemette Pierre et Brisebois Mireille, Introduction aux méthodes historico-critiques, Montréal, La Corporation des Editions Fides, 1987.

[97] Với phương pháp này, các nhà chú giải Kinh thánh thời đó có thể đối đầu với những thách thức của triết học Ánh Sáng (philosophie des Lumières), khoa học nhân văn, sự tiến bộ của khoa học, đặc biệt là khoa khảo cổ học. Những người trong nhóm này luôn nêu lên những mâu thuẩn trong Kinh thánh để chối bỏ và phản bác.

[98] Một cách thông thường, các đoạn văn đã được chia và phân định, sẳn bởi các nhà dịch thuật và nhà xuất bản ,và họ cũng cho nó một tiêu đề. Nhưng người chú giải, phải kiễm chứng lại theo phương pháp của mình, vì dịch thuật đã là diễn giải rồi.

[99] Chúng ta có thể vào một website sau đây để thấy được danh sách tên các bản thảo được mã hóa và sắp trong các bảng trình bày khác nhau : http://apv.org/system/files/articles_pdf/les_manuscrits_de_la_bible_0.pdf, tham khảo ngày 08/05/2015. 


Khi làm "phê phán bản thảo", họ phải đi qua ba bước sau đây:

a) bước thứ nhất là phê phán ngôn từ (critique verbale):  vì người ta cho rằng các thư ký, thợ sao chép bằng tay các bản thảo ngày xưa (không có máy điện toán và máy in như bây giờ) có thể phạm những lỗi chính tả, văn phạm. Đôi khi họ quên sót, nhầm lẫn, thêm bớt vào bản văn. Cũng đôi khi, họ cố ý sửa đổi bản văn để chép vào đó những giáo điều mà họ muốn truyền bá, hoặc họ muốn chỉnh sửa một đoạn văn cho thích hợp với Cựu ước. Như thế, nhiệm vụ của những người chú giải, giảng dạy trong các trường thần học, hay những nghiên cứu sinh đang làm luận án Kinh thánh, phải qua giai đoạn khó khăn này, có nghĩa là phải đọc, suy nghĩ và lý luận để truy tìm các lỗi này, hầu hy vọng thiết lập được một bản văn gốc đúng như tác giả đã viết.


b) bước thứ hai là "phê phán ngoại tại": để phân tích các bản thảo, các chuyên gia muốn xếp chúng thành từng bộ, từng "gia đình", họ phải tìm nguồn gốc chúng và nhất là niên đại (ngày tháng ra đời của bản thảo), và thẩm quyền những người đã gìn giữ và bảo vệ chúng. Như thế các chuyên gia, dù khó khăn cũng đã thiết lập được một cách tương đối, hệ thống giá trị các bản thảo, có nghĩa là có những bản được đánh giá tốt hơn những bản khác. Người ta đã xác định được những bản rất xưa bằng da cừu (parchemin) đến từ truyền thống quan trọng Ai cập và Tây phương, viết từ thế kỷ thứ II.


c) bước thứ ba là "phê phán nội tại": việc phân tích các bản thảo khác nhau giúp các chuyên gia tìm ra được một vài nguyên tắc,  các thói quen của truyền tải có chung trong tất cả các bộ bản thảo. Chẳng hạn, những người sao chép thường có thói quen bổ túc bản văn và làm cho hay hơn về mặt văn phạm hay phong văn. Như thế, khi làm công việc phê phán, các chuyên gia của chúng ta, phải chú ý đến điều này, và trong những trường hợp cụ thể, họ phải quyết định lựa chọn các bản văn ngắn nhất, và đôi khi khó hiểu nhất,  có những từ ngữ xa xưa hơn,  là bản có thể gần đúng nhất với tác giả. Vì chúng ta biết rằng các thợ sao chép hoặc văn sĩ,  thường có khuynh hướng loại bỏ những diễn đạt vụng về, kỳ cục, khó hiểu. Hệ quả là, trong phương pháp nội tại, các chuyên gia Kinh thánh phải chọn "câu văn" có nhiều khúc mắc nhất.


Nhưng hãy nhớ rằng, những bàn thảo xưa nhất chưa hẳn là những bản thảo đúng nhất. Để đào sâu hơn về vấn đề này, những người biết pháp ngữ và anh ngữ nên đọc các tác phẩm sau đây: 1) Bruce M. Metzger,  A Textual Commentary on the Greek New Testament, United Bible Societies, London-New York, 1975; 2) Louis Vaganay et C.-B.Amphoux, Initiation à la critique textuelle du Nouveau Testament, Paris, Cerf, 1986.


Sau khi thực hiện xong việc phê phán này, các người đọc và chú giải Kinh thánh nên dịch lại bản văn ra ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Như thế họ sẽ nắm vững hơn các ý nghĩa của bản văn cho giai đoạn kế tiếp.[100]


3) Giai đoạn thứ ba là "phân tích văn chương" (analyse littéraire).[101]Phải phân tích từ ngữ, cú pháp, văn phạm, bố cục, và cấu trúc của bản văn, để có thể tiếp cận và nắm bắt ý nghĩa của nó. Đương nhiên, đối với Kinh thánh, muốn thành công theo phương pháp phê phán sử quan, các nhà chú giải phải giỏi tiếng Do thái, Aram, và Hy lạp cổ. Trong giai đoạn thứ ba này, chúng ta có ba phân tích phải làm: phân tích ý nghĩa từ ngữ, phân tích cú pháp, và phân tích cấu trúc của bản văn.


4) Giai đoạn thứ tư là phê phán các nguồn (critique des soeurces).  Mục đích là để khám phá đoạn văn chúng ta chọn được viết từ đâu, bởi nguồn cung cấp tư liệu nào,... Giai đoạn này giúp các nhà chú giải hiểu được lịch sử của bản văn và môi trường hoặc bối cảnh tạo ra nó. Vì tất cả các bản văn đều ẩn chứa lịch sử của tác giả, của những độc giả, và nhất là bản văn có tru[15ng tâm là những nhân vật chính yếu như Đức Kitô. Các nhà chú giải đặt vấn đề và tìm cách hiểu về hình thái và truyền thống của bản văn. Chẳng hạn, như chúng ta biết rằng Tin Mừng Nhất Lãm có hai nguồn chính, nghĩa là hai văn bản gốc chứa đựng tất cả những yếu tố trong Tin Mừng Nhất Lãm.


5) Giai đoạn thứ năm là "phân tích văn loại" (analyse de la "forme" du texte). Hai nhà thần học và chú giải danh tiếng người Đức đã cho ra đời phương pháp này vào đầu thế kỷ XX: R. Bultmann et M. Dibelius.[102]Đến nay, nhiều chỉnh sửa được bổ túc cho phương pháp. Người ta phải nhận ra rằng mỗi đoạn văn được viết theo nhiều thể loại khác nhau. Khi sắp xếp các văn bản này theo từng thể loại, người ta khám phá ra được những mô hình văn chương có quy tắc mà các tác giả Kinh thánh vâng theo để soạn thảo bản văn của họ. Theo phương pháp của R. Bultmann, người ta sắp xếp các thể loại văn chương gặp trong các Tin Mừng theo hai nhóm,les logia,ngôn từvà  récitchuyện kể.


Trong nhómlogia, chúng ta có lời ngôn sứ, lời thuộc lĩnh vực khôn ngoan, những phán quyết pháp luật, dụ ngôn, những câu nói có chủ từ là danh xưng "tôi" (ich wörter), những lối nói (Nachfolge Reden), và những sưu tập cáclogia.


Trong nhóm chuyện kể, chúng ta có 4 thể loại, và trong mỗi thể loại, chuyện kể thường theo cấu trúc sau đây.

- Phép lạ: a) nhà phép thuật xuất hiện, giới thiệu bệnh nhân, và diễn tả họ, b) chuẩn bị bối cảnh c) tình cảm của nhà phép thuật, d) chứng nhận sự khỏi bệnh và tác động trên người xem.

- Tranh cãi: a) hành động hay cử chỉ gây sốc, b) giới thiệu và  chất vấn đối phương, phản ứng và câu hỏi của Chúa Giêsu, d) xao động, thinh lặng, ngạc nhiên của đối phương.

- Mô thức (paradigme theo R. Bultmann, 1884-1976)[103]hoặcapophdigme, một phán ngôn giống như châm ngôn  (theo M. Dibelius). Đó là những chuyện kể ngắn, rất ít chi tiết, được dùng cho giảng dạy: Mc 3,1-6; Mt 19,13-15; 22,15-22.

- Những tóm lược các hoạt động của Đức Kitô, thường dùng các động từ ở thì quá khứ  chưa hoàn thành "imparfait".


Kế đến, người chú giải tiếp tục nghiên cứu với phương pháp gọi làSitz im Lebentrong tiếng Đức (môi trường sống). Thực vậy, những thể loại văn chương này sẽ được đặt trong tương quan với việc truyền bá lời của Chúa Giêsu và lời dạy giáo lý nguyên thủy. Những lời này được dùng trong các chức năng khác nhau trong các cộng đoàn: giảng dạy, phụng vụ (chuyện lập bí tích Thánh thể), giáo lý, truyền giáo.


6) Giai đoạn phê phán lịch sử các truyền thống. Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu hay chú giải Kinh thánh, cố gắng tìm kiếm và xác định được sự truyền tải các bản văn trước khi trở thành một truyền thống. Trước tiên, người ta nói đến việc truyền tải những yếu tố cơ bản (Überlieferungsgeschichte), chẳng hạn như các truyền thống có liên quan đến Đức Kitô trong các Tin Mừng Nhất Lãm, tùy thuộc vào các môi trường truyền bá khác nhau, và những quan tâm khác biệt trong các lĩnh vực như giáo lý, cộng đồng, hoặc pháp lý.


Nói một cách cụ thể hơn, trong giai đoạn này, những người nghiên cứu hay đọc Kinh thánh, cố gắng tìm lại dấu vết các công đoạn sáng tạo một bản văn Tin Mừng Nhất Lãm: làm thế nào để biết và suy nghĩ trên những gì Đức Kitô đã thực sự nói hay làm? Trên những dữ kiện cơ bản giống nhau, các tác giả Tin Mừng đã đặt nó vào nội dung một câu chuyện họ kể. Qua giai đoạn này, người ta có thể biết được sự phát triển đức tin của các cộng đoàn khác nhau, từ việc tin vào con người Giêsu sinh ra ở Nazareth tới đức tin vào Ngài như Thiên Chúa vinh quang. Và các nhà chú giải cũng cố gắng phân biệt giữa Đức Kitô lịch sử và Đức Kitô được rao giảng.[104]


7) Và chúng ta cũng đi đến giai đoạn cuối cùng của phương pháp phê phán sử quan khá đầy đủ và phức tạp này: "phê phán việc soạn thảo" (Redaktiongeschicht). Mục đích của phương pháp này là để xác định được mục tiêu thần học, mục vụ, luân lý của tác giả, khi họ viết tác bản văn của họ, họ đã sửa đổi các dữ liệu truyền thống để thích nghi với độc giả của họ. Việc soạn thảo một bản văn luôn đi đôi với việc lựa chọn các dữ liệu cần thiết, sửa đổi đôi chút, và đặt nó trong bối cảnh câu chuyện mình muốn kể, và nhất là thông điệp mình đã tin và muốn truyền bá.


Để làm việc này, các nhà chú giải, hay người nghiên cứu và học hỏi Kinh thánh, tìm những dấu chỉ văn chương như từ ngữ chuyên biệt (từ riêng mà tác giả hay dùng, như cái nhìn bao quanh của Đức Kitô trong Tin Mừng theo thánh Maccô, những lập lại nhiều lần, những quen sót cố ý hay vô tình...).


Sau khi lược qua quá trình phương pháp sử quan phê phán, với việc nghiên cứu có tính cách khoa học  và lịch sử, chúng ta hiểu tại sao phương pháp này được các trường chú giải Kinh thánh sử dụng và cổ võ. Ngay cả trong tài liệu chính của Ủy Ban Kinh thánh Giáo Hoàng, cuốnViệc giải thích Kinh thánh trong Hội thánh[105], phát hành năm 1993, Giáo hội đã dành ưu thế cho "phương pháp" này, và phân biệt với các công cụ văn chương khác bằng các từ "analyse" và  "approche" mà chúng ta có thể dịch là "phân tích" và "tiếp cận".[106]


Phải công nhận rằng phương pháp này bó buộc các nhà chú giải, các giáo sư giảng dạy, hoặc các sinh viên môn Kinh thánh phải đầu tư rất nhiều, hao tốn sức lực và thời gian. Họ nên nắm vững các môn học cần cho sự chú giải theo phương pháp này: cổ ngữ, văn phạm, cú pháp, văn chương so sánh, lịch sử các tôn giáo, triết học, khảo cổ, tu từ học, ... Nó còn giúp cho chúng ta tránh những cách đọc thiển cận và nguy hại như cách đọc theo lối nệ cổ hay bảo thủ "fondamentaiste".[107]


Nhưng kể từ năm 1970, chú giải Kinh thánh theo phương pháp phê phán sử quan, bị chất vấn bởi các phương pháp văn chương và khoa học nhân văn khác như: khoa văn chương và ngôn ngữ học trong đó có môn ký hiệu học, xã hội học, phân tâm học, nhân chủng học, và ngay cả chính trị học nữa. Các nhà chú giải nhận ra rằng, các phương pháp chỉ là những công cụ có ích để giúp chúng ta hiễu được một phần nào đó sự thật Kinh thánh. Các nhà chú giải đã phát triển việc nghiên cứu Kinh thánh đã sử dụng bổ túc lẫn nhau các phương pháp khác cùng với phương pháp sử quan để đọc Kinh thánh, đặc biệt là phân tích cách tường thuật (narrative)(Phân tích thuật chuyện)[108], xã hội học và phân tích Tu từ học.


Nếu phương pháp phê phán sử quan chú trọng về cách phân tích lịch đại "diachronique"[109], trong khi đó các phương vừa nói trên đây theo phân tích có tính cách đồng đại "synchronique", chú trọng và so sánh các chi tiết Kinh thánh, mà không cần tham khảo những yếu tố lịch sử của việc soạn thảo, và môi trường soạn thảo trong lịch sử. Ngược lại, phương pháp phê phán sử quan cũng có thể làm người ta quên rằng, bản văn mà chúng ta có hiện tại, đã trải qua bao truyền thống Kitô hữu,  lời Thiên Chúa đã nuôi sống họ, và lời đó luôn sống động nhờ họ. Nếu phải tìm ra bản thật, chúng ta có thể làm nghèo đi lời Thiên Chúa qua việc đón nhận của con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay.


Tiếp cận Thư quy


Ngôn từThư quyđược dùng hơi gượng ép. Người ta dịch nó từ các dùng trong Anh ngữ của  J. A. Sanders: "canonical criticism" (1972). Thực ra quy trình này bao gồm phương pháp đa dạng để đọc các bản văn Kinh thánh mà trong đó điểm chung là chú ý đến sự thành hình, bản chất, vai trò và thẩm quyền của Thư quy (canon). Trong mọi trường hợp, người ta đọc và nghiên cứu các bản văn với trạng thái hiện nay và trong bối cảnh xác định của Thư quy ở nội dung cuốn sách, sau đó, trong bối cảnh rộng hơn ở toàn bộ Cựu ước hay Tân ước. Những người chú giải theo phương pháp tôn trọng toàn bộ Thư quy, đối lập với giai đoạn phân tích hình thức văn loại của bản văn trong phương pháp sử quan phê phán.


Như chúng ta đã thấy một vài yếu điểm của phương pháp phê phán sử quan đã được nêu lên trên đây, chúng ta cũng hiểu được vì sao Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI yêu thích phương pháp Thư quy và mời gọi các nhà chú giải áp dụng bổ túc cho các phương pháp khác:"Có một đường hướng trong toàn bộ, vì thế mà Cựu ước và Tân ước không thể tách rời. Đúng thế, diễn giải Kitô học đã thấy trong Đức Giêsu Kitô chìa khóa của toàn bộ, và bắt đầu từ Ngài, người ta hiểu Kinh thánh như là một cuốn sách hiệp nhất, thức đẩy một hành động đức tin, và nó không thể chỉ là kết quả của một phương pháp hoàn toàn lịch sử. Nhưng hành động đức tin này chuyên chở lý lẽ, một lý lẽ lịch sử: nó cho phép thấy được sự hiệp nhất nội tại của Kinh thánh, và từ đó, chúng ta có được một nhận thức mới về các công đoạn khác nhau của hành trình thành lập, mà không lấy đi khỏi nó nguồn gốc lịch sử."[110]


Như thế, chú giải theo tiếp cận thư quy nối tiếp phương pháp phê phán sử quan và bổ túc phương pháp này trong vấn đề thần học. Khi sử dụng tiếp cận thư quy, chúng ta phải ý thức ba điểm quan trọng sau đây:


a) Kinh thánh là một công trình Mặc khải hiệp nhất: hệ quả, là chúng ta dùng lời Thiên Chúa để hiểu lời Thiên Chúa (Lc 24,25-27).


b) Tuy Kinh thánh được viết bởi con người, nhưng tác giả duy nhất là Thánh Thần Thiên Chúa:"Như vậy chúng tôi lại càng thêm tin tưởng vào lời các ngôn sứ. Anh em chú tâm vào đó là phải, vì lời ấy như chiếc đèn tỏ rạng giữa chốn tối tăm, cho đến khi ngày bừng sáng và sao mai mọc lên soi chiếu tâm hồn anh em. Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa.’’ (2 P 1,19-21).


c) Lời Thiên Chúa không phải là một đối tượng văn chương nghiên cứu, mà chủ yếu là thức ăn nuôi dưỡng đời sống tâm linh và chuẩn mực đạo đức của con người trong đời sống thế trần. Vì thế Lời Ngài phải là linh hồn của thần học, như hội thánh đã khẳng định. Nên trong lịch sử hình thành Thư quy, dù đôi khi có những sửa đổi, nhưng những sửa đổi này phải làm làm chúng ta suy nghĩ và diễn giải cho cuộc sống chúng ta.


Sau đây là năm câu hỏi mà các nhà chú giả Kinh thánh theo tiếp cận Thư quy thường đặt ra (B. S. CHILDS, 1923-2007):

1) Đoạn văn mà chúng ta đọc và muốn tìm hiểu đã đến với chúng ta như nó đang hiện hữu, Thiên Chúa muốn nói cho chúng ta ý nghĩa gì?

2) Có chăng những đoạn văn khác giới hạn nó hay những đoạn văn hướng chúng ta tới một diễn giải bắt buộc?

3) Bản văn của chúng ta đang đọc ảnh hưởng thế nào tới những bản văn khác trong Kinh thánh?

4) Bản văn chúng ta đọc, có giới hạn một bản văn khác, hay bản văn này định hướng cho chú giải một bản văn khác?

5) Đâu là hệ quả của những yếu tố liên quan đến việc soạn thảo bản văn, nhất là khi chúng ta so sánh được những yếu tố thêm vào trong cùng một phân đoạn?


Phương pháp phân tích lối thuật chuyện[111]


Giữa những năm 1920 và 1960, các nhà chú giải ở Hoa kỳ bắt đầu chú ý đến nghệ thuật chuyện kể trong Kinh thánh, đến chiến lược thuật chuyện của người kể (narrateur) đối với những độc giả nhắm tới.


Ở Âu châu, Hans-Georg Gadamer (1900-2002), triết gia người Đức, học trò của Martin Heidegger, được xem như cha đẻ của "thông diễn" triết học (herméneutique). Tác phẩmVérité et méthode(Wahrheit und Methode), nổi tiếng nhất trong các sách của ông, đặt ra nền tảng của môn Thông diễn học còn có thể gọi là tường giải. Quan trọng là trong tác phẩm này, Gadamer cố gắng tách biệt quá trình diễn giải một bản văn triết học ra khỏi tất cả phương pháp của các môn khoa học chính xác. Ông bảo vệ ý tưởng cho rằng những sự thật thoát khỏi những kiểm chứng khoa học. Chính ý niệm triết học này đã mở đường hướng mới cho việc giải thích Kinh thánh.


Sau đó, Paul Ricoeur (1913-2005), một triết gia người Pháp quan trọng nhất của thế kỷ XX, đã nghiên cứu và phát triển môn Hiện tượng học và Thông diễn học (la phénoménologie et l’herméneutique), trong việc đối thoại thường hằng với các môn khoa học nhân bản và xã hội. Ông quan tâm đến chủ nghĩa Hiện Sinh Kitô hữu và thần học Tin lành. Các tác phẩm của ông chuyên về những chủ đề "ý nghĩa" (sens), "tính chủ quan" (subjectivité) và diễn giải học trong tiểu thuyết, văn chương và phim ảnh. Ở đây, quan trọng là Paul Ricoeur, cũng là nhà chú giải Kinh thánh.[112]


Nói tóm lại, Gadamer và Ricoeur, đã ảnh hưởng lớn đến các nhà nghiên cứu và chú giải Kinh thánh trong ngôn ngữ tiếng Pháp, và giúp họ phân biệt giữa việc sáng tác và đọc các văn bản.


Các giả định triết học này giúp các nhà chú giải Kinh thánh phát triển môn phân tích thuật cách thuật chuyện. Khác với phương pháp phê phán sử quan, phân tích thuật chuyện không chú ý đến việc soạn thảo và sự hình thành của bản văn, những người đọc theo phương pháp "synchronique" này, chỉ chú ý đến bản văn đã hoàn thành có trước mắt. Họ không làm công việc khảo cổ bản văn. Mục đích của phân tích thuật chuyện là muốn thiết lập truyền thông giữa bản văn và người đọc.


Đọc và học hỏi một chuyện kể, theo phân tích này, bao gồm việc lấy ra được cách thức mà tác giả dùng để cấu tạo bản văn và phân tích chúng, chú ý đến cái mà người ta gọi là "chiến lược" thuật chuyện. Theo phương pháp này, các nhà nghiên cứu và học hỏi Kinh thánh phân tích và xử lý 7 yếu tố kiến tạo bản văn sau đây:


1) Các giới hạn của chuyện kể: câu chuyện mở đầu và kết thúc ở đâu? Phải tìm ra được các chỉ dẫn về thời gian, không gian, nhân vật, hành động, chủ đề, để có thể giới hạn câu chuyện. Câu chuyện này có bao nhiêu màn, bao nhiêu cảnh, và chúng được nối kết với nhau như thế nào? Làm sao câu chuyện nhỏ này được đặt trong bối cảnh lớn hơn, trước và sau câu chuyện có những chuyện kể hoặc các văn bản khác?


2) Phân tích tình tiết (l’intrigue)[103]: 5 yếu tố sau đây tạo tình tiết trong một chuyện kể,a) tình huống mở đầu, b) yếu tố gây khúc mắc cần được giải quyết, còn gọi là những yếu tố gây xáo trộn (complication), c) hành động tạo sự thay đổi (action transformatrice), d) giải lý những khúc mắc, e) tình cảnh kết thúc.Câu chuyện có một hay nhiều tình tiết chồng chất lên nhau? Có những tình tiết không có kết thúc? Có những kết thúc có hậu hoặc những kết thúc bằng cái chết, bệnh hoạn, tai nạn?


3) Phân tích nhân vật. Các nhân vật không hẳn là người. Nhân vật cũng có thể là gia súc hay động vật hoặc đồ vật, nên trong phương pháp thuật chuyện, chúng ta gọi đó là những "tác nhân" (actants) trong câu chuyện. Nhân vật cá thể hay cộng đoàn? Có những nhân vật có chiều dày và cũng có những ít phức tạp hơn trong câu chuyện. Ai là anh hùng, nhân vật chính, và ai là đối thủ của họ, ai là những người theo phe này hay phe nọ, hay có liên quan chồng chéo đến cả hai? Có những nhân vật lèo lái câu chuyện và có những nhân vật ngây ngô.


Các nhân vật biến chuyển như thế nào trong câu chuyện? Người kể chuyện trình bày thế nào về các nhân vật? Ông có cảm tình với nhân vật nào và hướng dẫn người đọc ghét bỏ nhân vật nào? Người đọc có  khoảng cách nào đối với các nhân vật của câu chuyện? Người kể chuyện, giống như những tác giả phim chuyện (Hàn Quốc hay Việt Nam), đưa người đọc hướng về những những điều họ muốn diễn đạt.


Do đó người nghiên cứu bản văn theo phương pháp này phải chú ý đến việc tìm ra những lối ngắm nhìn, hay ống kính của tác giả (focalisation):a) dàn dựng tổng quát, tầm ống ngắm zéro (focalisation zéro), người kể chuyện tạo khung cảnh câu chuyện được kể và cho độc giả những thông tin chưa biết của các nhân vật; b) tầm ống ngắm ngoại tại, cảnh cố định, độc giả được đưa vào khung cảnh, biết, thấy những gì mình biết, và thấy các nhân vật; c) tầm ống ngắm nội tại, cảnh gần, người đọc hiểu được nội tâm và suy nghĩ của nhân vật. Người đọc hay nghiên cứu chuyện kể tự hỏi mình biết nhiều hơn, bằng, hay ít hơn các nhân vật về diễn tiến tình tiết?


4) Phân tích cách sử dụng thời gian của người thuật chuyện (la temporalité). Các tình tiết câu chuyện được kể theo tốc độ nào? Để hiểu được cách dùng thời gian của tác giả, người đọc tự hỏi, đâu là thời điểm của câu chuyện, và phải chú ý đến các trạng từ chỉ thời gian, hôm nay, ngày mai, hôm sau, cùng lúc ấy,... , những hành động đáng lẽ phải diễn ra, nhưng bị bỏ quên (les ellipses). Câu chuyện được kể tuần tự theo thời gian hay theo một sắp xếp khác về thời gian. Người kể chuyện có thể kể hằng giờ câu chuyện xảy ra trong một giây hoặc kể trong một giây câu chuyện thật dài trong thực tế. Thời gian chuyện kể khác với thời gian thực tế, tùy theo ý muốn và nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Tác giả có thể đi lùi thời gian hoặc dự phóng trong tương lai của câu chuyện. Mỗi  thay đổi thời gian có ý nghĩa gì?


5) Phân tích khung cảnh câu chuyện. Nhà nghiên cứu, chú giải hay người đọc bản văn Kinh thánh, để ý và tìm ra những trạng từ chỉ thời gian, không gian, văn hóa, xã hội, và tất cả các dữ kiện khác của câu chuyện kể. Tất cả những chỉ định từ này có nghĩa thực hay biểu tượng? Chúng liên quan trực tiếp đến những phân đoạn của chuyện kể hay gián tiếp? Đâu là thế giới của câu chuyện?


6) Phân tích "ai" là người kể (la voix narrative). Những người đọc hay nhà nghiên cứu bản văn phải tự hỏi ai là người kể chuyện. Họ cố gắng tìm hiểu những tính cách và yếu tố của người kể chuyện, người đã lèo lái một cách nào đó những người đọc theo chiến lược của họ. Và từ những dữ liệu được khám phá, người đọc hoặc nhà chú giải có thể có một nhận định trên quan điểm và giá trị của người kể. Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng: người kể chuyện này có hành động trong câu chuyện hay không? Nếu có, họ có thể tác động trên bản văn qua những bình phẩm như giải thích, thông dịch, đánh giá,... hoặc một các kín đáo và tế nhị hơn như những trích dẫn, chơi chữ, khôi hài, châm biến, chế nhạo, hiểu lầm?


7) Bản văn và người đọc. Đây là giai đọan cuối cùng của phương pháp. Người đọc và các nhà chú giải hay nghiên cứu bản văn Kinh thánh phải làm một tổng kết dựa trên ý tưởng sau đây: tất cả chuyện kể được viết dành những người độc giả đã ước định trước và những người độc giả đọc bản văn sau đó như chúng ta bây giờ. Như thế, nhờ suy luận, chúng ta cũng biết có thể có hai loại tác giả, người kể chuyện (l’auteur implicite) có mặt trong câu chuyện, và tác giả này trông cậy vào sự cộng tác năng động của độc giả, và những độc giả này, như đã nói, được gọi là độc giả ước định (lecteur implicite). Để có được sự hợp tác, người kể chuyện đề nghị qua câu chuyện của họ một hiệp đồng hay hiệp ước với người đọc ước định.


Để khám phá được hiệp ước này, người đọc hay nhà nghiên cứu bản văn phải tự đặt những câu hỏi sau đây:

- Chuyện kể thuộc thể văn nào: phép lạ, chữa bệnh, trừ quỷ, tranh cãi, sử thi (épopée), ơn gọi,...? Nếu chúng ta đặt nó vào nền văn hóa của thời đó, thời của câu chuyện được viết, tác giả muốn diễn giải điều gì? Như thế bản văn có ý nghĩa gì đối với chúng ta bây giờ?


- Câu chuyện mà chúng ta đọc bây giờ có những quy ước gì? Nếu có, trong viễn cảnh nào? Người kể chuyện hay tác giả ước định (ngụ ý, auteur implicite) muốn phỏng định trước những hiểu biết gì nơi những độc giả ước định hay ngụ ý: chẳng hạn như tác giả ngụ ý có thể cho rằng các độc giả của mình là những người biết Cựu ước, biết văn hóa và tôn giáo thời đó,...? Những kiến thức này có được nói đến trong bản văn hay không?


- Trong câu chuyện, chúng ta có để ý đến những "khoảng trống" (des blancs), những dữ kiện không được nhắc đến?


- Câu chuyện có dự trù những ngạc nhiên của độc giả hay không? Chẳng hạn, tác giả có thể hướng độc giả tới một dự đoán kết cục nào đó, nhưng tác giả làm cho độc giả bất ngờ với một kết quả khác.


- Tác giả ngụ ý có ý định muốn độc giả ngụ ý tự  vào quá trình đồng hoá với một trong những nhân vật hay không?


- Trong phần nào chúng ta  như những độc giả ngày nay được tìm và xây dựng ý nghĩa và diễn giải?


- Câu chuyện có làm những độc giả ngụ ý và độc giả ngày nay phải đối diện và đi vào những kiến thức, niềm tin, câu hỏi, và tương quan với thế giới của tác giả, với Thiên Chúa hay không?


Như chúng ta đã thấy, đọc Kinh thánh theo phương pháp phân tích lối thuật chuyện cũng phức tạp và phong phú không kém gì phương pháp phê phán sử quan.


Nhiều câu hỏi được đặt ra cho những người đọc hoặc muốn học hỏi sâu xa về Kinh thánh: làm thế nào để nối khớp hai phương pháp bản chất khác nhau, một bên là nghiên cứu đồng đại, "synchronique", tính các đồng thời gian, và một bên khác, lịch đại, "diachronique", tính cách xuyên thời gian.[114]


Chú thích:

[100] Alain GIGNAC, "Traduction et expérience de lecture, réflexions théologiques sur leur signification en christianisme", Théologique, 15, số 2, 2007, tr. 67-88.

[101] Cách phân tích này có lẽ các em học sinh cấp ba và đại học cũng đã từng thực hành một cách nào đó khi bình giải văn thơ.

[102] M. DIBELIUS, http://fr.wikipedia.org/wiki/Martin_Dibelius, tham khảo ngày 25/03/2015.

[103] Bultmann, thần học gia người Đức, Tin lành, nổi tiếng với phương pháp "démythologie" (giải hóa thần thoại) trong các sách Tin Mừng, để tiến gần đến sự thật lịch sử trong Kinh thánh. Sau đây là những tác phẩm có tiếng của ông đã dịch ra tiếng Pháp : L'Histoire de la tradition synoptique, Paris, Seuil, 1973 ; Jésus : mythologie et démythologisation, préf.Paul Ricœur, Paris, Seuil, 1968 ; Foi et Compréhension, trad.André Malet, Paris, Seuil, 1969.

[104] Nếu muốn hiểu thêm xin đọc : J.-P. Meier, Un certain Juif Jésus. Les données de l’histoire. Cuốn I : Les sources, les origines, les dates (LD), Cerf, Paris, 2005, chương VI : "Comment déterminer ce qui vient de Jésus ?", tr. 101-118.

[105] L'Interprétation de la Bible dans l'Église, Allocution de Sa Sainteté le pape Jean-Paul II et document de la Commission Biblique Pontificale, Paris, cerf, 1994.

[106] Xem bản dịch của cha NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 17/ 12/ 2014.

[107] "E. Cách giải thích bảo thủ  (fondamentalsite). (Nguyên tắc). Cách giải thích bảo thủ khởi đi từ nguyên tắc cho rằng Kinh thánh vì là Lời Thiên Chúa, đã được linh hứng và không vướng sai lầm, nên phải được đọc và giải thích sát chữ trong mọi chi tiết. Nhưng “giải thích sát chữ” ở đây hiểu là một cách giải thích sơ đẳng, cứ chữ, nghĩa là loại bỏ bất kỳ cố gắng nào nhằm hiểu Kinh thánh mà có để ý đến nguồn gốc lịch sử và sự phát triển của Kinh thánh. Như thế, lối giải thích này đi ngược lại việc sử dụng phương pháp phê bình-lịch sử, cũng như bất kỳ phương pháp khoa học nào nhằm giải thích Kinh thánh." NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 17/12/ 2014.

[108] Theo bản dịch của cha NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 17/ 12/ 2014.

[109] "Diachronique", từ có gốc Hy lạp, hình thành bởi dia có nghĩa là qua bởi đó, và chronos, thời gian. Phương pháp phê phán sử quan có tính cách diachronique, có nghĩa là phương pháp này phân tích các dữ liệu không đến từ cùng một thời gian và cụng một nơi chốn. Ngược lại, "Synchronique", phương pháp sử dụng những dữ liệu nằm trong các bản văn mà chúng ta có được bây giờ, mà không cần tìm lại, bản chính thật của tác giả ngày xưa.

[110] "qu’il existe une direction dans cet ensemble, que l’Ancien et le Nouveau Testament ne peuvent être dissociés. Certes, l’herméneutique christologique, qui voit dans Jésus-Christ la clé de l’ensemble et qui partant de lui, comprend la Bible comme un unité, postule un acte de foi, et qu’il ne peut résulter d’une méthode purement historique. Mais cet acte de foi est intrinsèquement porteur de raison, d’une raison historique : il permet de voir l’unité interne de l’Ecriture et, par là, d’avoir une compréhension nouvelle des différentes phases de son cheminement, sans leur retirer leur originalité historique." Joseph Ratzinger-Benoît XVI, Jésus de Nazareth, Paris, Flammarion, 2007, tr. 14. -http://assomption.org/fr/spiritualite/saint-augustin/revue-itineraires-augustiniens/lire-avec-les-yeux-du-coeur/iv-augustin-aujourd-hui/tendances-actuelles-de-l2019exegese-par-sophie ramond#sthash.HvFItU87.dpuf, tham khảo ngày 05/12/2014.

[111] A. WÉNIN, Brève présentation de l’analyse narrative, http://www.segec.be/Documents/Fesec/Secteurs/religion/Outil-Breve-pres_anal-narrative.pdf., tham khảo ngày 18/ 12/ 2014.

[112] Paul RICOEUR, L’herméneutique biblique, Présentation et traduction par François-Xavier Amherdt, coll. La nuit surveillée, Paris, Cerf, 2001.

[113] Thực ra "tình tiết" không lột bỏ được ý nghĩa từ ngữ intrigue trong nghệ thuật kể chuyện, nhưng không tìm thấy từ nào khác hơn trong Tự điển tiếng Việt.

[114] Thực ra, hai từ ngữ kỹ thuật "synchronique" và "diachronique" của Kinh thánh rất khó dịch ra tiếng Việt. Tôi mượn ở đây lối dịch của cha NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 17/ 12/ 2014. Tôi cũng cố gắng giải thích hai từ này trong một chú thích số 52.


Làm sao để tạo ra được một giao tiếp chung giữa hai phương pháp? Làm sao để có thể làm nổi bật chiều kích lịch sử và tuyên xưng của Mặc khải Kinh thánh trong phương pháp phân tích thuật chuyện? Trong thời điểm hiện nay, những người nghiên cứu Kinh thánh cũng chưa đem lại những câu trả lời thỏa đáng những câu hỏi trên đây. Trong tương lai, chúng ta vẫn còn có những tranh luận có  tính cách khoa học luận (épistémologique) giữa phân tích thuật chuyện và việc nghiên cứu sử quan của chú giải có tính cách phê phán, giữa tính cách xuyên thời gian và đồng thời gian...


Khi bàn bạc đến phân tích thuật chuyện, chúng ta đã gác qua một bên một phương pháp văn chương khác, rất khó với văn hóa Việt Nam chúng ta, đó là phương pháp dựa trên lý thuyết văn học "sémiotique".[115]Nếu những ai muốn nghiên cứu Kinh thánh theo phương pháp này, xin tìm đọc những tài liệu sau đây:

-Sémiotique, une pratique de lecture et d’analyse des textes bibliques, Cahier Evangile, n° 59, Paris, Cerf, 1987.

- Agnès GUEURET,L’Engendrement d’un récit, L’Evangile de l’enfance selon saint Luc, Coll."Lectio Divina", n° 113, Paris, Cerf, 1983.

-Les Nouvelles voies de l'exégèse, en lisant le Cantique des cantiques, parACFEB[116], XIXe congrès de l'Association catholique pour l'étude de la Bible (Toulouse, septembre 2001), Études réunies sous la direction de Jacques Nieuviarts et Pierre Debergé, Coll."Lectio Divina", n° 190, Paris, Cerf, 2002.


Ở đây, hãy đi vào một phương pháp nghiên cứu khác, có tính cách đồng đại hay đồng thời gian (synchronique). Ủy ban Kinh thánh Giáo Hoàng gọi phương pháp này là khoa phân tích tân Tu từ (nouvelle rhétorique).


Phương pháp phân tích Tu từ


Trước khi đi sâu vào lịch sử và chi tiết của Tu từ học, để tránh những sự nhầm lẫn đáng tiếc khi sử dụng từ ngữ, chúng ta nên phân biệt ba ngữ văn sau đây: 

1) Phân tích Tu từ:theo truyền thống Do thái, truyền thống Sêmít (analyse rhétorique sémitique), phương pháp phân tích này dùng diễn giải Kinh thánh và Kinh Coran của người Hồi giáo[117]. Một trong những chuyên gia phương pháp Tu từ Sêmít, Roland MEYNET, đã giải thích như sau:"L’analyse rhétorique prétend aussi que ces compositions n’obéissent pas aux règles de larhétorique gréco-latine, mais aux lois spécifiques de larhétorique hébraïquedont les auteurs du Nouveau Testament sont les héritiers directs »[118](Phân tích Tu từ học chủ trương rằng những yếu tố cấu tạo của bản văn không vâng theo các quy tắc của môn Tu từ họcHy lạp-La mã, nhưng nó tuân theo các luật đặc biệt của khoa Tu từ họcHêbrơmà các tác giả Tân ước chính là những thừa kế trực tiếp.)Tuy có nhiều nhánh khác nhau, nhưng một cách chung , phân tích Tu từ dựa trên việc khám phá các cấu trúc đối xứng (AB - B’A’, ABC - C’B’A‘) trong bản văn, song song ngữ văn, hiệu ứng soi gương, và hình thái chữ X (Chiasme). Theo Roland MEYNET, có sự khác biệt nền tảng giữa Tu từ học Sêmít và Tu từ học Hy lạp-La mã, ông viết:"Le Grec veut convaincre en imposant un raisonnement imparable; le Juif au contraire indique le chemin que le lecteur doit emprunter s'il désire comprendre. "Com-prendre": prendre ensemble’’[119][Người Hy lạp, để thuyết phục, họ đặt ra một lý luận bền vững, người Do thái, ngược lại, họ chỉ con đường mà người đọc phải mượn nếu họ muốn hiểu. "Com-prendre"(hiểu): bắt lấy (prendre), cùng nhau (ensemble)].


2) Vậy Tu từ học Hy lạp-La mã cổ điển nghĩa là gì?Tu từ học vừa có nghĩa là khoa học vừa có nghĩa là nghệ thuật nói chuyện, diễn thuyết, giảng giải, với mục đích chinh phục sự đồng thuận của thính giả. Từ ngữ "rhétorique" (dịch trong tiếng Việt là Tu từ học) đến từ tiếng La tinhrhetorica, lấy lại từ tiếng Hy lạprhêtorikê tekhnê, và được dịch ra trong tiếng Pháp bằng những chữ như "kỹ thuật, nghệ thuật, hùng biện". Ngoài định nghĩa có tính cách tổng quát này, khoa Tu từ học được phát triển trong lịch sử với hai ý niệm hơi đối nghịch nhau: một bên nghiêng về sự thuyết phục, một bên khác chú trọng về nghệ thuật ăn nói, hùng biện. Tu từ học Hy lạp, trong lối áp dụng của nhóm người theo chủ nghĩa ngụy biện (sophistes) và được hệ thống hóa bởi triết gia Aristote, nghiêng về hướng thuyết phục. Trong khi đó, vào thời La mã cổ đại, theo định nghĩa của nhà hùng biện Cicéron và Quintilien, Tu từ học được xem như một nghệ thuật ăn nói, một phương pháp để ăn nói hay "bene dicendi scientia" . Sau đó, khoa Tu từ học đi vào các bản viết, và nhất là các tác phẩm văn chương và bi kịch. Do đó, khoa Tu từ học này dần dần bị giới hạn trong "phong văn" (stylique), một danh sách thống kê những ngôn từ biểu trưng hay ẩn dụ để trang hoàng và làm đẹp cho bản văn.


Dù Hy lạp hay La tinh, phương pháp Tu từ học bắt đầu bằng ba ý niệm cơ bản:logos, pathos, ethos. Những lối này được chọn tuỳ theo mục đích của bài thuyết trình hay câu chuyện để ăn nói. Logos, từ có gốc Hy lạp, có nghĩa là lời, lý lẽ, luận lý, có hệ thống,  dịch ra tiếng Pháp làlogique. Một bài thuyết trình, hay diễn văn, hay một câu chuyện nói trước công chúng theo lốilogos, có lý luận, có hệ thống bền vững, sẽ thuyết phục được cử tọa. Người ta có thể dùng nó cho nhiều việc, luật sư trong toà án, diễn văn chính trị, bài giảng tôn giáo,...


Lối soạn diễn văn hay bài nói chuyện hay thuyết trình theo lốipathossẽ tạo ra cho khán, thính giả một hệ quả khác, nhưng cũng nhắm vào việc thuyết phục. Cũng nhưlogos,  từ Hy lạppathos(đau khổ, thương khó), khi được dùng trong diễn văn, sẽ gây ra nơi khán thính giả những tính cảm, yêu, thích ghét, cảm mến, hay thù hận. Như thế,  dùng lý trí không thôi chưa chắc đã thuyết phục, ngôn ngữ gây sốc, gợi lòng thương cảm, có khi quyến rũ rất mạnh mẽ trên cử tọa.


Và từ Hy lạpethos, diễn tả cá tính, thói quen, tài năng,  hạnh kiểm và nhân đức của một con người, như dũng cảm, can đảm, tươi vui,... Khi nhà hùng biện soạn thảo bàn văn với lối ethos này, ông hoặc tự lấy tiếng tăm của mình để thuyết phục, hoặc trích dẫn một nhân vật lẫy lừng nào đó để nâng đỡ lý luận của mình. Triết gia Platon không tích những lập luận kiểu này, vì ông cho đó những điều đó khiến người ta rời khỏi sự thật.


Nếu có ba lối soạn thảo thuyết giảng, Triết gia Hy lạp Aristote (384-382 trước Đức Kitô) cũng cho ra ba loại diễn văn:a) diễn văn thảo luận(délibératif) thường dùng trong lĩnh vực chính trị, với mục đích làm cho cử tọa đi tới một quyết định và quyết định đó đúng đắn, có đích điểm là sự thiện,b) diễn văn pháp lý(judiciaire) đuợc dùng cho luật sư cố gắng thuyết phục quan tòa khi kết tội một phạm nhân hay biện hộ cho một bị cáo, có đích diểm là sự thật, c) diễn văn giải bày hay minh chứng(démonstratif) dùng để ca tụng hoặc chê trách một ai đó, có đích điểm là sự đẹp, hiện nay, người ta dùng từ "giá trị" (valeur)  (Chân, thiện mỹ).


Bảng tổng kết dưới đây sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn chung về ba loại diễn văn của Tu từ học Hy lạp-La mã.



Cử toạ

Thì

Tác động

Giá trị

loại biện chứng

Pháp lý

thẫm phán

Quá khứ đơn

Kết án-bảo vệ

Công lý-bất công

Tam đoạn luận (hay suy luận - déductif)

Thảo luận

Cộng đoàn

Tương lai đơn

Cố vấn-khuyên can

Lợi ích-nguy hại

Dẩn dụ  (hay qui nạp- inductif)

Minh chứng

Khán giả

Hiện tại

Ca tụng-khiển trách

Cao thượng-thấp hèn

Khuếch đại (Amplification)


3) Tân Tu từ học học là gì?Năm 1958, triết gia Chaïm PERELMAN (1912-1984), cùng với Lucie OLBRECHTS-TYTECA, đã làm sống lại Tu từ học ở thế kỷ XX, khi xuất bảnTraité de l’argumentation, la nouvelle rhétorique[120](Nguyên lý lập luận, Tân Tu từ học). Tác phẩm nằm trong truyền thống lý thuyết những diễn văn có tác dụng thuyết phục. Làm sao để tìm nền tảng cho những phán đoán có tính các ước định giá trị. Đối với hai tác giả này, luận lý và chỗ đứng quan trọng của nó trong Tu từ học Hy lạp La mã chính là nền tảng của môn Tân Tu từ học. Một trong những người phát triển trường phái này là triết gia pháp Michel Meyer. Ông định nghĩa luận lý như là một cuộc thương lượng hàm thụ giữa các đối tác giao tiếp. Qua các tác giả ngôn ngữ học như Roman JAKOBSON[121], Gérard GENETTE và nhóm µ, chúng ta biết có một nhánh khác của Tân Tu từ học sinh ra ở giữa thế kỷ XX, gọi là Tu từ học những hình thái (figures).


Chúng ta quay trở lại với hệ thống Tu từ học. Đối với triết gia Hy lạp Aristote, một diễn văn Tu từ có hai phần quan trọng, đó là luận đề và luận lý. Nhưng theo Quintilien, lý thuyết gia người La mã, một diễn văn Tu từ học phải được soạn theo quy trình của 5 yếu tố cơ bản  sau đây:inventio, dispositio, elocutio, actiomemoria. Mỗi giai đoạn phải được thực hiện kỹ lưỡng theo quy trình và phương pháp.


Tronggiai đoạn đầuInventio, diễn giả phải nắm vững chủ đề, biết những hệ quả của vấn đề. Cụ thể, diễn giả khám phá dữ kiện, định nghĩa và xác định nó, đánh giá trị, và đạt câu hỏi về tính cách hợp pháp của nó, để có thể áp dụng loại diễn văn nào[122],pháp lý, thảo luận hay minh chứng?Như chúng ta đã nói ở trên, diễn giả tiếp tục chọn một trong ba lối biện luận hay còn gọi là những phương tiện để thuyết phục cho diễn văn của mình:logos, pathoshayethos[123]. Diễn giả có thể dùng hai loại dẫn chứng, loại thứ nhất, Aristote gọi làatecnai, chứng cứ ngoại tại, vàentechnai, chứng cứ nội tại. Tu từ học học dùng những từ ngữ khác để diễn đạt: những chứng cứintrinsèquesvà những chứng cứextrinsèques. Những chứng cứ ngoại tại được xếp như sau: văn bản luật pháp, chứng tá cổ điển hay hiện đại, hiệp ước hay hiệp định, những lời thú tội dưới sự tra tấn, và những lời thề. Những chứng cứ nội tại như tiểu sử nhân vật trong điếu văn, suy diễn hay tam đoạn luận. Kế đến, diễn giả, phải chú trọng đến bối cảnh và chuyên đề (lieu và topique).


Giai đoạn thứ hai,dispositio, bao gồm việc soạn thảo cấu trúc bản văn, sắp xếp các luận lý, cho phù hợp với các chuyên đề và bối cảnh của bản văn. Mục đích của giai đoạn này là làm cho bản văn sáng tỏ, rõ rằng, và dễ hiểu. Nó giúp cho diễn giả đừng quên sót những yếu tố quan trọng của diễn văn, và xét lại phương pháp của mình, trước khi thuyết trình. Dispositio có các bước tiến sau đây: Mở đầu (exorde), tường thuật (narration), ngoài đề  (disgression), kết luận (péroraison).


- Mở đầu (exorde): Diễn giả bắt đầu diễn văn bằng cách thu hút sự chú ý của cử tọa (tiếng La tinh gọi làcaptatio benevolentiae). Ông phải gây sự chú ý và mở lòng tiếp nhận những gì ông sẽ nói. Ông cũng có thể đưa thính giả vào câu chuyện của mình. Và sau đó ông sẽ trình bày chủ đề và sự kiện.


- Tường thuật (narration): trong dàn bài, diễn giả trình bày tuần tự các dữ kiện liên quan đến vấn đề đặt ra trong tinh thần khách quan. Tường thuật những câu chuyện được dùng như chất liệu cho những biện luận sau đó. Diễn giả có thể sử dụng những nguồn như lịch sử, huyền thoại hoặc tự sáng tạo lấy. Quan trọng là, phần tường thuật này phải rõ ràng, ngắn gọn, đáng tin cậy.


- Ngoài đề (disgression): để làm cho cử tọa tránh nhàm chán, diễn giả có thể làm họ thư giản bằng một câu chuyện khôi hài không liên quan trực tiếp đến lý luận của ông để chuẩn bị đi đến kết luận. Theo sáchRhétorique à Herennius(Rhetorica ad Herennium, tiếng La tinh), của một tác giả vô danh ở thế kỷ thứ I trước Đức Kitô, trong phần này, người ta có thể bày tỏ "giận dữ, thương xót, ghét bỏ, lăng mạ, hòa giải, bác bỏ những luận điệu thái quá". Nhưng chung chung, các diễn giả thường chọn cách làm khánh thính giả cười, như thế họ có thể chiếm được cảm tình của cử tọa.


- Kết luận (peroraison): Để kết, diễn giả cũng theo ba bước sau đây, 1) khuyếch đại (amplification) và gợi ý kiến cho cử tọa theo những giá trị luân lý hay tinh thần của họ. Diễn giả có thể dùng lốipathos, lấy nguồn ở các bối cảnh và chuyên đề, 2) Tình cảm (passion), gợi lòng thương xót hoặc tức giận nơi khán giả, 3) tóm lược (récapitulation), diễn giả tóm lại những luận cứ của mình và đi đến kết luận.


Chúng ta vừa đi qua giai đoạn thứ hai, thấy nhiều bước soạn thảo kỹ lưỡng của môn Tu từ học, trong giai đoạn thứ ba,Elocution, diễn giả phải ngồi xuống và viết diễn văn của mình. "Văn là người",  theo Cicéron, phần này thể hiện được khả năng của diễn giả, tài văn chương  của ông. Để viết một diễn văn hay, ông cố gắng tạo cho mình một phong văn (style), ông có thể sử dụng những hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ, thi ca, và tạo nhịp điệu giúp diễn đạt ý nghĩa diễn văn của mình. Theo sáchRhétorique à Herennius, diễn văn phải đạt được ba tiêu chuẩn sau đây: lịch lãm, ý tưởng sắp xếp gọn gàn cân đối, và đẹp. Nói tóm lại,Elocutio, dựa trên hai yếu tố cơ bản: phong văn và hình thái ẩn dụ Tu từ học (figure de rhétorique). Chúng ta có thể tóm gọn các quy luật ước định của giai đoạn thứ ba (elocutio) trong bảng sau đây:


Phong văn (styles)

Mục đích

Chứng cứ

Giai đoạn diễn văn

Cao quý (noble)

Gây xúc động (émouvoir, "movere")

pathos

Kết luận và ngoài đề (péroraison et digression)

phong cách (tenue)

giải thích (expliquer, "docere")

logos

tường thuật, xác quyết và tóm lược (narration, confirmation et récapitulation)

thư thái (medium)

Làm hài lòng (plaire, "delectare")

ethos

mở đầu và ngoài đề (exorde et digression)


Actiolà giai đoạn kế tiếp. Chính là lúc diễn giả trình bày diễn văn của mình trước công chúng. Nhiều người gọi nó làelocution, lẫn lộn với giai đoạn thứ ba chúng ta vừa mới nói trên đây. Điều quan trọng nhấy ở đây là âm giọng của diễn giả. Theo sáchRhétorique à Herennius, diễn giả phải điều khiển tiếng nói của mình lúc trầm lúc bổng, lúc to lúc nhỏ, lúc nhẹ nhàng êm dịu, lúc mạnh mẽ. Hãy nhớ đến câu chuyện của nhà hùng biện nổi tiếng Démosthène, đã vượt qua sự nói ngọng của mình, nhờ ngậm một hòn đá trong miệng và luyện tập diễn thuyết trước gầm thét của sóng biển. Kế đến, diễn giả cũng phải chú trong đến cách diễn đạt và bày tỏ thái độ qua khuôn mặt và cử chỉ thân thể và đôi tay. Hãy chú ý đến cách diễn văn của các nhà chính trị hùng biện. Họ giống như một kịch sĩ trên sân khấu, nhìn họ, cử tọa có thể bị thu hút vào những lý thuyết của họ. Nhưng để thực hiện được điều đó, các diễn giả phải soạn và nắm vững một giai đoạn khác mà các sách Tu từ học gọi làmemoria.


Trí nhớ (mémoire-memoria): giai đoạn này có tên trong tiếng Hy lạp "mnèmè" là nghệ thuật để nhớ diễn văn đã soạn thảo của mình. Diễn giả không cầm giấy để đọc diễn văn như bây giờ, nên trong Tu từ hiện đại, họ thường bỏ quên giai đoạn này, vì cho là không cần thiết. Cicéron, lý thuyết gia thời La mã cổ đại cho kỹ năng đó là thiên phú; trong khi đó, Quintilien, người cùng thời với Cicéron, nghĩ rằng, diễn giả phải tập luyện dựa trên cấu trúc của diễn văn và các phương các tạo kỹ năng trí nhớ (mnémotechnique). Aristote không nhắc đến vấn đề này trong các tác phẩm về Tu từ học của ông. Phần này có lẽ được thêm vào sau đó trong Tu từ học. Tác phẩmRhétorique à Herenniusđịnh nghĩa trí nhớ như kho tàng giữ các ý tuởng đã soạn thảo. Tác giả vô danh này phân ra làm hai loại trí nhớ: trí nhớ tự nhiên là một món quà thiên phú, và trí nhớ có được nhờ kỹ thuật tập luyện và kinh nghiệm Tu từ học của diễn giả. Diễn văn có hay cũng nhờ phần lớn vào khả năng diễn đạt của diễn giả. Như một kịch sĩ, diễn giả thuyết trình hay là nhờ thuộc và nắm rõ bản văn của mình.


Chùng ta vừa luợc qua phương pháp Tu từ học Hy lạp - La mã, tồn tại và sống lại trong nhiều môi trường hiện đại: văn hoá, nghệ thuật, xã hội, pháp lý, chính trị và tôn giáo. Vậy từ khi nào, người ta dựa vào phương pháp này để tìm hiểu các văn bản Kinh thánh, và đúng hơn là các thư của thánh Phaolô?


Chú thích:

[115] Đây cũng là một ý niệm văn chương khó dịch ra tiếng Việt Nam, tôi xin trích dẫn ra đây một đoản văn của tài liệu Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh: "3. Cách phân tích ký hiệu: Trong số các phương pháp được gọi là đồng thời gian (synchroniques), tức là những phương pháp tập trung vào việc nghiên cứu bản văn Kinh thánh như bản văn được đọc trong tình trạng chung kết, phải kể đến cách phân tích ký hiệu. Từ khoảng hai mươi năm nay, cách phân tích này đã được khai triển nhiều trong một số môi trường. Trước tiên, phương pháp này được gọi bằng một từ tổng quát là “duy cấu trúc”, coi nhà ngữ học người Thuỵ sĩ Ferdinand de Saussure là ông tổ. Đầu thế kỷ này, Ferdinand đã khai triển một lý thuyết cho rằng mỗi ngôn ngữ là một hệ thống những tương quan. hệ thống này tuân theo những qui luật nhất định. Nhiều nhà ngữ học và văn chương đã có một ảnh hưởng đáng kể trong quá trình chuyển biến của phương pháp này. Đa số các nhà Kinh thánh sử dụng phương pháp ký hiệu để nghiên cứu Kinh thánh lại cho Algirdas J. Greimas và Ecole de Paris mà ông là người sáng lập là đơn vị chủ xướng lý thuyết này. Những cách tiếp cận và những phương pháp tương tự, đặt căn bản trên khoa ngữ học hiện đại, được khai triển ở những chỗ khác. Ở đây chúng tôi xin trình bày và phân tích vắn tắt phương pháp của Greimas.  Phương pháp ký hiệu dựa trên ba nguyên tắc hoặc ba giả thuyết chính:  Nguyên tắc nội tại: Mỗi một bản văn tạo nên một toàn thể nghĩa. Phân tích là xem xét toàn thể bản văn, nhưng chỉ bản văn mà thôi, chứ không nại vào những dữ kiện “ngoại tại” như tác giả, độc giả, những biến cố được kể lại, lịch sử việc biên soạn. Nguyên tắc cấu trúc của ý nghĩa: Chỉ có ý nghĩa qua và trong mối tương quan, đặc biệt là tương quan dị biệt. Như thế, phân tích một bản văn là thiết lập hệ thống những tương quan (đối nghịch, chuẩn nhận...) giữa những yếu tố với nhau, khởi từ đó mà kiến tạo ý nghĩa của bản văn. Nguyên tắc ngữ pháp của bản văn: Mỗi bản văn liên quan đến một ngữ pháp, nghĩa là một số những qui luật hoặc cấu trúc nào đó. Trong một toàn bộ những câu được gọi là bài văn (discours), có những cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ lại có ngữ pháp riêng". NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 19/12/2014.

[116] Association Catholique Française pour l'Étude de la Bible.

[117] http://fr.wikipedia.org/wiki/Rh%C3%A9torique_s%C3%A9mitique ; tham khảo ngày 19/12/2014.

[118] Roland MENEY, "L’ANALYSE RHÉTORIQUE, Une nouvelle méthode pour comprendre la Bible", http://www.retoricabiblicaesemitica.org/Articolo/francese_080121.pdf, tham khảo ngày 19/12/2014.

[119] Roland MEYNET,  Lire la Bible, Paris, Flammarion, 2003.

[120] Chaïm PERELMAN, Lucie OLBRECHTS-TYTECA, Traité de l’argumentation,..., éditions  de l’Université de Bruxelles, 6ème éd., 2008.

[121] Tác giả này đã đưa ra cho chúng ta một giản đồ giao tiếp truyền thông có giá trị căn bản:


                                                   bối cảnh

Người phát biểu       (gởi, phát)      - thông tin -                            người nghe (tiếp nhận)

                                                  Kênh (phương tiện)

                                                   Mã


[122] Nhưng đối với Perelman, việc phận biệt các loại diễn văn này không quan trọng. Chúng ta phải phân biệt từ loại diễn văn Pháp lý, Biện luận hay Minh chứng không phải là những thể văn như tiểu thuyết, thi ca, hay kịch bản,... Nói đúng hơn, là các diễn văn này nhắm đến ba loại cử tọa khác nhau : thẩm phán, cộng đoàn, khán giả.

[123] Aristote gọi đó là những chứng cứ (preuves).


Tu từ học Hy lạp La mã và Kinh thánh


Sau các nghiên cứu của chuyên gia Kinh thánh G. A. KENNEDY[124], nhiều nhà chú giải trên thế giới bắt đầu chú ý đến phương pháp Tu từ học để chú giải các thư của thánh Phaolô. Các thư của ngài cho chúng ta thấy kỹ năng thuyết phục và minh chứng về sự thật thần học của ngài, nhất là hai lá thư bàn về sự công chính hóa không do lề luật và do chính Thiên Chúa qua con đường của Đức Kitô, con Thiên Chúa. Ở đây để nắm được việc áp dụng phương pháp này, chúng ta cho một ví dụ tổng quát cách đọc Thư gởi tín hữu Roma theo phương pháp Tu từ học.


Như chúng ta đã biết, thánh Phaolô đã thành lập nhiều cộng đoàn Kitô hữu xung quanh vùng Địa Trung Hải, và để giữ liên lạc, ngài thường viết thư cho họ. Nhiều nhà chú giải cho rằng phải nghiên cứu thư của thánh Phaolô theo cách viết thư thời đó hơn là theo mô hình Tu từ học[125]. Thực ra, thánh Phaolô cũng theo các nguyên tắc viết thư vào thời đó, chẳng hạn, trong Thư gởi tín hữu Roma, ngài luôn tôn trọng cấu trúc của lá thư: phần mở đầu (giới thiệu và địa chỉ người nhận, adresse), Rm 1,1-7,  một lời chào kết thúc, phần này tiếng La tinh gọi là postscriptum Rm 15,33. Thánh Phaolô cũng viết một phân đoạn tạ ơn (Rm 1,8-15)[126]; ngài chia sẽ tin tức (Rm 15,17-32) và gởi lời chào hỏi đến những người quen biết (Rm 16). Lá thư của ngài luôn giữ một tâm tình huynh đệ với việc bày tỏ các ước muốn, những yêu cầu và khích lệ (Rm 12-15).


Tuy vậy, các nhà chú giải nhận ra rằng, thánh Phaolô cũng áp dụng kỹ năng diễn thuyết của Tu từ học Hy lạp - La mã, trong các phân đoạn khác nhau[127]. Từ thư gởi tín hữu Rôma đến thư cho Philêmôn, nội dung dài ngắn tuỳ theo độc giả và đề tài ngài đề cập. Trong hai thư gởi tín hữu Côrintô (Cr 1 et 2), có nhiều phân đoạn có tính cách diễn văn.


Hai lá thư quan trọng gởi tính hữu Galát và sau đó tín hữu La mã, với một chủ đề tương tự, chứa đựng những biện luận Tu từ học[128]. Hơn nữa chúng ta cũng biết rằng, khi thư của ngài đến cộng đoàn, người ta sẽ đọc to trước mặt các tín hữu như một diễn văn, chính ngài đã cho chúng ta biết điều này trong thư gởi tín hữu Thêxalônica:"Nhân danh Chúa, tôi yêu cầu đọc thư này cho tất cả các anh em"(1 Th 5,5,27).


Các nhà chú giải hiện nay đã nghiên cứu các thư của thánh Phaolô theo phương pháp Tu từ học, nhất là Thư gởi tín hữu Roma. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều nghiên cứu được biết đến trong cuốnThe Romans Debate: năm 1976, để trả lời cho Donfried và  Karris[129], Wilhelm Wuellner đề nghị nghiên cứu Thư gởi tín hữu Roma với Tu từ học cổ điển cũng như hiện đại (Perelman-Olbrechts-Tyteca). Ông Karris xem phân đoạn Rm 1,1-15 như làexordium, một mở đầu. Ông cũng biện luận rằng thư gởi tín hữu La mã là một loại diễn văn minh chứng[130]. Và sau đây là cấu trúc Tu từ học của lá thư theo nghiên cứu của Karris:Exordium(mở đầu), 1,1-15;Transitus(giao tiếp) 1,16-17;Confirmatio(luận cứ) 1,18-15,13;Peroratio(kết luận), 15,14-16,23. Năm 1986, đồng ý với những đề nghị của Wuellner và dựa trên nghiên cứu của Burgess[131], Robert Jewett  cho rằng Thư gởi tín hữu Roma như là một lá thư ngoại giao (an Ambassadorial Letter) thuộc loại minh chứng[132]. Năm 1991, Robert Jewett  trở lại với nghiên cứu của ông và đưa vào những từ mới liên quan đến các chứng cứ:Exordium- 1,1-12;Narratio- 1,13-15;Propositio: - 1,16-17;Probatio-1,18-15,13;Peroratio- 15,14-16,23. Ông thêm vào phân đoạnnarratiovà thay thế từconfirmatiobằng chữprobatio, một từ ngữ cổ điển mà theo ông chỉ định phần chính của diễn văn (luận đề). Còn chữconfirmatio, chính là các phân đoạn biện luận cho luận đề.[133]


Nhưng những ví dụ mà chúng ta vừa thấy, các chú giải đã quá theo sát phương pháp Tu từ học Hy lạp và La mã, rất kinh điển và cứng nhắc. Họ giới hạn các phân đoạn Tu từ học và tìm gán cho nó một trong ba thể loại Tu từ học như chúng ta đã nói trên đây: pháp lý (judiciaire), thảo luận (délibératif) và minh chứng (épidictique), và cuối cùng nghiên cứudispositiobố cục của bản văn.  Từ thời cổ đại đến nay, chứng ta ai cũng vậy, tuy học hỏi những phương pháp cách thức kinh điển ở trường lớp, nhưng mỗi áp dụng thể hiện được tự do và sáng tạo của tác giả (văn chương, hội họa hay chính trị tôn giáo). 


Chúng ta biết con người tự do của thánh Phaolô, kỹ luật nhưng không gò bó. Khi viết thư cho các cộng đoàn, điều quan tâm của ngài là truyền đạt đức tin và sự gắn kết của ngài với Tin Mừng Đức Kitô. Chính vì lòng tin mạnh mẽ đó, mà ngài dùng tất cả tự do trong phương tiện cũng như trong tư tưởng để truyền đạt. Như thế, chúng ta phải hiểu rằng, tuy các bản văn của ngài thể hiện lối Tu từ học Hy lạp và La mã, nhưng ngài cũng không sử dụng các yếu tố này một cách cứng nhắc.


Để tránh những sai lầm đáng tiếc trong khi dùng lối tiếp cận Tu từ học để nghiên cứu các thư của thánh Phaolô, Aletti[134], giáo sư dòng Tên người Pháp, học ở Pháp, nhưng được mời dạy ở Học viện Kinh thánh Roma, cũng như nhà nghiên cứu Kinh thánh người Hoa kỳ Murphy O’Connor[135]nhấn mạnh về quan trọng củapropositio, tức "luận đề" của diễn văn.


Thực vậy, Aristote, ông tổ của Tu từ học Hy lạp không đòi hỏi khác hơn là chú trọng đến hai phần chính, được tạm dịch như sau:"trong diễn văn có hai phần, vì cần thiết phải nói lên được chủ đề và minh chứng. Hệ quả là, không thể không minh chứng khi chủ đề đã được nêu ra, hoặc minh chứng trước khi chủ đề được trình bày;... Từ hai phần này, một là propositio (luận đề); một là confirmation (minh chứng), như thể là người ta phân biệt một mặt là đặt vấn đề, và mặt khác là chứng minh."[136]


Nói cách khác, trong Thư gởi tín hữu Roma, mỗi đơn vị biện chứng theo một luận đề đã được thánh Phaolô đưa ra (propositio). Và ngài phát triển những lý luận, xác định rõ tư tưởng của ngài, và giải thích các lời nói hay chỉnh huấn lại lý lẽ của ngài. Chẳng hạn, chúng ta có những biện chứng khác khau như khi thánh Phaolô đưa ra như những ví dụ Rm 7,1-4, những tam đoạn luận Rm 6,5-10 (enthymèmes), những nguyên tắc Rm 2,6. 11, hoặc các trích dẫn Kinh thánh Rm 3,10-18.


Vậy đâu là bố cục của Rm trong phương pháp phân tích Tu từ học? Các nhà chú giải hiện nay, đều đống ý rằngRm 1,16-17luận đề chínhcủa lá thư.  Aletti đã đề nghị cho chúng ta một cấu trúc của Thư gởi tín hữu Roma như sau[137]:

Thư chỉ (Adresse) 1,1-7

Ngỏ lời (Exorde) 1,8-17,

dẫn đến luận đề chính (propositio) 1,16-17

I (A)     1,18-4,25: người Do thái hay Hy lạp, được công chính hóa chỉ bởi đức tin

 (B)      5-8: đời sống mới và niềm hy vọng của những người được công chính hóa

II          9-11: Ít-ra-en và các dân tộc (tương lai củaÍtraen)

Huấn dụ (Exhortations) 12,1-15,13;

Đoạn kết (Péroraison) 15,14-21;

Tin tức và lời chào cuối 15,22-33 + 16,1-27


Trong Thư gởi tín hữu Roma, nhiều nhà chú giải phân vân việc phân đoạn giữa chương 4 và bước sang chương 5. Chương này đóng vai trò gì trong toàn bộ luận chứng của thư?[138] Theo Aletti, các  chuẩn điểm từ ngữ cũng như thần học không đủ để xác định và giới hạn chương 5[139]; nhờ cấu trúc Tu từ học chúng ta mới có thể đi đến quyết định: Rm 5 không thể là đoạn kết (peroratio) của Rm 1,18-4,25, tạo thành một khối rõ rằng và vững chắc0], vì nó quá dài so với một kết luận và không chứa đựng những tóm tắt các chủ đề vừa nói và hơn nữa, có các luận đề phục trong phân đoạn này (sub-propositiones): Rm 5,20-21. luận đề phụ này được mở ngỏ bởi Rm 5,1-11 (transition et introduction), và Rm 5,12-19 (expositio, sygkrisisAdam/Christ) trình bày so sánh tương quan giũa Adam và Đức Kitô.[141]


Như thế theo cấu trúc Tu từ học này, luận đề chínhpropositioRm 1,16-17 làm phát triển các luận chứng  trong phần Rm 1,18-15,13 (probatio). Tuy vậy, trong phần luận chứng này, chúng ta còn có nhiều luận đề điều khiển các đơn vị luận chứng tuân theo các nguyên tắc của phương pháp Tu từ học Hy lạp và La mã.


Tiếp cận xã hội học


Trong phân đoạn D, phần I, của tài liệuViệc giải thích Kinh thánh trong Giáo hội[142], chúng ta thấy có đề cập đến ba lối đọc Kinh thánh dựa trên những phương pháp đến từ các môn khoa học nhân văn: tiếp cận theo xã hội học, theo khoa nhân học văn hóa (anthropologie culturelle), và theo khoa tâm lý và phân tâm.


Ở đây, chúng ta chỉ tìm lại lịch sử và phương pháp của môn xã hội học ở Âu châu và thử xem các nhà chú giải đã áp dụng nó như thế nào vào việc đọc các bản văn Kinh thánh. Chúng ta sẽ bỏ qua tiếp cậnnhân học văn hóa, môn học chuyên khảo sát về con người trong môi trường và vị trí của họ trong xã hội, và tiếp cận tâm lý, nhưng sẽ cố gắng nói về phương pháp phân tâm, nghiên cứu con người theo khoa học chuyên khảo sát về những đặc tính trừu tượng: ý thức và vô thức.


Chúng ta có thể định nghĩa môn xã hội học như là một nhánh của khoa học nhân văn, chuyên tìm hiểu và giải thích con người dựa trên cung cách suy nghĩ và hành động của họ trong chiều kích xã hội (cách biểu hiện và cách cư xử). Người ta có thể nghiên cứu con người qua công việc, gia đình, liên hệ, giới tính, chính trị, tôn giáo của họ. Cũng như các môn học khác, chúng ta thấy có nhiều lý thuyết xã hội học khác nhau: ví dụ như trường pháiindividualisme méthodologique(phương pháp luận cá nhân) vàstructuralisme(cấu trúc luận)...


Các triết gia và sử gia thời cổ đã ý thức vần đề này từ lâu. Chúng ta có Xénophon (người Hy lạp, sinh năm 440, 426 hay 430 và chết khoảng năm 355 trước Đức Kitô) với tác phẩmEconomique(Kinh tế)[143], Platon (428/427-348/347 trước Đức Kitô) với LePolitiqueLaRépublique, Aristote (384-322 trước Đức Kitô) vớila Rhétoriquela Poétique, ...


Trong thời hiện đại, phải kể đến Francis Bacon (1561-1626) (Novum organum, La grande restauration des sciences), La Métrie (Homme machine) Issac Newton (1643-1727)... Lý thuyết xã hội đầu tiên phát xuất từ bá tước Saint Simon (1760-1825) vớiPhysiologie sociale. Auguste Compte triển khai các lý thuyết xã hội trong tác phẩmLe système de politique positive(1851-54). Alexis de Toqueville (1805-1859) cũng được xem như các tiền nhân của khoa xã hội học (L’Ancien régime de la révolution, De la démocratie en Amérique). Sau đó khoa học này càng phát triển với các cuộc cách mạng kỹ nghệ và xã hội tại Âu châu.


Ở Pháp, Emile Durkheim là người đầu tiên đạt nền tảng cho một phương pháp có tính cách khoa học để nghiên cứu xã hội. Tác phẩmLes règles de la méthode sociologique(1895) là tiếp nối cuốnDe la division du travail social(1893), luận án tiến sĩ của ông. Người đồng thời với Durkheim, ở Đức, là Max Weber (1864-1920), cũng là một trong những cha đẻ nổi tiếng của khoa học này, theo ông mục đích của xã hội học là :"(...) tìm hiểu hoạt động xã hội bằng diễn giải và từ đó giải thích có tính cách nhân quả các diễn tiến  và hệ quả của nó. Phải hiểu chữ ‘hoạt động’ như là một thái độ cư xử con người (...) Khi và ít ra là nhân tố hay các nhân tố truyền đạt cho nó một ý nghĩa chủ quan. Và bằng hoạt động xã hội, hoạt động mà theo nghĩa nhắm đến của nhân tố hay các nhân tố, liên quan đến thái độ cư xử kẻ khác, và vì điều đó, định hướng cho diễn tiến của nhân tố."[144]


Và như chúng ta đã biết, nhất là những người còn sống trong chế độ cộng sản, Karl Marx có một ảnh hưởng sâu đậm trong tư tưởng và phê phán xã hội.


Các điểm chính của tiếp cận nghiên cứu xã hội


Theo Emile Durkheim, để trở thành một môn học có tính cách khoa học, xã hội học phải tuân theo hai điểu kiện sau đây:


a) Nó là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, và để có tính cách hợp pháp, người ta phải phân biệt được nó với các môn học khác như triết học hay tâm lý học. Xã hội học là môn nghiên cứu dữ kiện xã hội (ví dụ, các trào lưu xã hội, tính dục, giáo dục, dân di trú, công việc, sinh viên, quân đội, miền quê hay tỉnh thành,...)


b) Phải có được một phương pháp với tính cách khoa học, khách quan, và nghiêm túc để nghiên cứu, gần giống như các môn khoa học chính xác, và cố gắng bỏ ra ngoài những gì có thể, những thiên kiến, chủ quan, cái nhìn hạn hẹp và đóng khung, hoặc những kinh nghiệm bình thường hay thô thiển (chẳng hạn, những công cụ mà người ta hay dùng như, bảng câu hỏi điều tra, thăm dò, quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp, phỏng vấn, đàm thoại, chuyện kể, phân tích nhóm, phân tích nội dung, phân tích thống kê, phân tích các hệ thống giao lưu, diễn giải, nghiên cứu hành vi, tác động...  Người ta có thể nghiên cứu dựa trên số lượng, phẫm lượng hoặc cả hai.


Kinh thánh theo nhãn quan tiếp cận xã hội


Phải hiểu rằng, không một ai viết ra những quy trình chú giải một bản văn Kinh thánh theo tiếp cận xã hội; nhưng chỉ có những người muôn áp dụng những kiến thức khoa học của môn xã hội học để nghiên cứu hay đọc bản văn Kinh thánh. Chẳng hạn, nữ tu Lydie GOYENETCHE, đã đọc chân dung người đàn bà Esther trong bản tiếng Do thái (texte massorétique) theo phân tích xã hội.[145]


Trong lời dẫn nhập, Lydie xác định lý do chọn sách Esther và phương pháp để đọc nó: sách này có hai văn bản khác nhau, văn bản tiếng Do thái và văn bản tiếng Hy lạp (bản 70), bà chọn đọc theo tiếp cận xã hội vì nghĩ rằng hiện nay, chúng ta ít biết về phong tục tập quán những người Do thái trong bối cảnh văn hóa thời đó giữa thế kỷ thứ III và thứ II trước Đức Kitô.


Tiếp đến là cấu trúc của bài viết của nữ tu Lydie:

ESTHER: một vài  chuẩn điểm Kinh thánh

Esther và lịch sử trong Kinh thánh

Những chứng tích lịch sử và địa lý                       

Điểm chuẩn lịch sử

Điểm chuẩn xã hội

Esther: chân dung một người đàn bà

Sự chọn lựa của Esther

Một bản ngã chấp nhận: từ "tôi" đến "chúng ta" 

Esther và ông Vua: từ vương quốc tới chủ nghĩa cứu độ


Và trong kết luận, nữ tu Lydie viết:"Đọc lịch sử Esther theo tiếp cận xã hội giúp chúng ta hiểu rõ hơn con người của Esther. Nếu không có lối phân tích như thế, người ta có thể diễn giải sai lạc việc mà người đàn bà này dấu hai lần nguồn gốc của mình, cũng như các do dự của bàn ta.


Với Esther, chúng ta hiểu rằng văn hóa và thành viên của một dân tộc không dựa trên những phong tục bên ngoài, nhưng đó làm nên một thân thể với dân tộc trong thử thách.


Cuối cùng Esther chỉ cho chúng ta thấy rõ biết bao là sức mạnh không được công nhận trong việc thống trị kẻ khác nhưng trong thử thách tin tưởng và quan hệ vô giá."


Chúng ta cũng có thể chọn phương pháp này để đọc bản văn Mt 25,14-30 liên quan đến công việc trần thế,  hoặc Mt 6,19-36 để hiểu về vật chất (Karl Marx và Engel), hoặc Mt 20,20-28 liên quan đến vấn đề lãnh đạo.


Chú thích:

[124] KENNEDY, The Art of Persuasion, 1963 ; "The Rhetoric of Advocacy", tr. 419-436 ; The Art of Rhetoric, 1972 ; Greek Rhetoric, 1983 ; New Testament Interpretation, 1984.

[125] DOTY, Letters, 1973 ; WHITE, "New Testament Epistolary Literature", 1984 ; AUNE, "Romans", 1991, tr. 278-296.

[126] MURPHY-O’CONNOR, Paul et l’art épistolaire, tr. 94.

[127] Trong The Romans Debate, (DONFRIED [éd]), nhiều nghiên cứu được làm trong viễn cảnh thư tín : STIREWALT (tr. l147-171), AUNE (tr. 278-296).

[128] ALETTI, "Paul et la Rhétorique", tr. 38.

[129] DONFRIED, "False Presuppositions", tr.  102-125 ; KARRIS, "Romans 14:1-15:13", tr. 65-84.

[130] WUELLNER, "Paul’s rhetoric", tr. 133-134.

[131] BURGESS, "Epideictic Literature", tr.  89-261.

[132] JEWETT, "Following", tr.  266.

[133] JEWETT, "Following", tr.  272-273.

[134] ALETTI, Comment Dieu est-il juste ?, tr.  34.

[135] MURPHY O’CONNOR, Paul et l’art épistolaire, tr.  126.

[136] "il n’y a dans le discours que deux parties, car il est nécessaire de dire quel est le sujet, et le démontrer. Il est, par conséquent, impossible, une fois qu’on l’a exposé, de ne pas le démontrer, ou de le démontrer sans l’avoir préalablement exposé ;... De ces deux parties, l’une est la proposition ; l’autre, la confirmation, tout comme si l’on distinguait d’une part le problème, d’autre part la démonstration" ARISTOTE, Rhétorique, III, 13, 1414a, 31-36.

[137] ALETTI, Israël et la Loi, tr.  32.

[138] Les exégètes se divisent sur la place de Rm 5 : 1) Rm 5,1-21 là đoạn kết của phân đoạn Rm 1-5 ; 2) Rm 5,1-21 khởi đầu một phân đoạn (Rm 5-8) ; 3) Rm 5,1-11 kết Rm 1-4 và Rm 5,12-21 mở Rm 6-8. ALETTI, "La présence d’un modèle rhétorique", tr.  17.

[139] ALETTI, Comment Dieu est-il juste ? tr.  38-49.

[140] ALETTI, "Rm 1,18-3,20", tr.  47-62.

[141] ALETTI, Israël et la Loi, tr.  15-28.

[142] L’interprétation de la Bible dans l’Eglise, document de la Commission Biblique Pontificale, 1993, chuyễn dịch bởi NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5/01/2015.

[143] Bản văn tiếng Hy lạp và bản dịch tiếng Pháp bởi Pierre Chantraine, Les Belles Lettres, 1949.

[144] "(…) comprendre par interprétation l'activité sociale et par là d'expliquer causalement son déroulement et ses effets. Nous entendons par "activité" un comportement humain (…) quand et pour autant que l'agent ou les agents lui communiquent un sens subjectif. Et par activité "sociale", l'activité qui, d'après son sens visé par l'agent ou les agents se rapporte au comportement d'autrui, par rapport auquel, s'oriente son déroulement." - Économie et société, Plon, 1971, tr.  4.

[145] Sr Lydie GOYENETCHE, Les femmes bibliques, Esther un chemin pour nous esther.pdf, tham khảo ngày 05/01/2015.

[145] "La lecture sociologique de l’histoire d’Esther nous aide finalement à mieux comprendre la personne d’Esther. Sans une telle analyse on aurait pu interpréter de travers le fait qu’elle cache à deux reprises ses, Fraternité du Carmel Saint Joseph, 10 décembre 2011. http://www.carmelitesdesaintjoseph.com/aventure/esther.pdf, tham khảo ngày 05/01/2015.

[146] "La lecture sociologique de l’histoire d’Esther nous aide finalement à mieux comprendre la personne d’Esther. Sans une telle analyse on aurait pu interpréter de travers le fait qu’elle cache à deux reprises ses origines, mais aussi ses hésitations.

Avec Esther nous comprenons que la culture et l’appartenance à un peuple ne repose pas sur des coutumes extérieures, mais sur un faire corps avec dans l’épreuve.

Enfin Esther nous montre combien la force ne s’affirme pas dans la domination de l’autre mais dans le risque de la confiance et de la gratuité de la relation."


Tiếp cận Kinh thánh với khoa phân tâm học

Phân tâm học


Khi muốn đọc một bản văn Kinh thánh dưới lăng kính của khoa Phân tâm học, chúng ta phải hiểu nguồn gốc và cơ bản của khoa này.


Theo lịch sử,Sigmund Freud[147], người Đức, gốc Do thái, - khi áp dụng phương pháp gọi là "cure carthatique" hay còn gọi là phương pháp "carthatique", (tẩy, thanh lọc), phát triển bởi bác sĩ Joseph Brauer người Áo,- phương pháp làm mất đi những rào cản tâm lý và ý thức của bệnh nhân qua việc thôi miên để đánh thức dậy những thương tổn tâm hồn chôn dấu trong tiềm thức, những thương tổn này nhân các rối loạn tâm thần hay thể xác của bệnh nhân, và tạo ra việc buông thả cảm xúc để giải phóng bệnh nhân, phương pháp xử dụng chính yếu lời nói và ngôn ngữ của bệnh nhân -đã khám phá ra vô thức và từ đó phát triển ra phương pháp phân tâm để chăm sóc các bệnh tâm thần, điển hình là bệnh kích động cuồng trí (hystérique).


Phân tâm học quan tâm đến việc giải thích những hành vi hay ý nghĩ trong ngôn từ tâm thần (psychique):


- Một ý tưởng hay một hành vi không ngẫu nhiên; các việc xảy ra này có một ý nghĩa liên hệ đến những gì trước đó. Phân tích hay khai thác vô thức (inconscient) cho phép đưa ra ánh sáng vấn đề. Có những hành động xem như "không cố ý", "không mạch lạc",  "phi lý"  ví dụ như những giấc mơ, việc nói lộn (lapsus), hành vi thiếu sót (acte manqué) hoặc những triệu chứng bệnh không do bởi thể lý, chẳng hạn như bệnh nổi cuồng (hystérie).


- Như thế, những hành động hay ngôn từ xem như sai lạc, nhưng thực sự là những hành động có nguyên do đến từ vô thức. Phân tâm học có thể hiểu và giải thích được diễn đạt của vô thức. Mặc dù những sự việc đó luôn ở trong vô thức, khoa phân tâm bố trí những kỹ thuật và một lý thuyết hầu mong thông hiểu các hệ luận vô thức và giúp người chịu đau khổ giải quyết được các vấn đề tâm thần của họ. Khoa phân tâm học đã trở nên một lĩnh vực rộng lớn dựa trên việc khai thác vô thức với sự cộng tác tự do của người "bệnh", làm xuất hiện những đè nén hay ức chế trong vô thức.


- Theo định nghĩa của Freud, phân tâm học là một quá trình điều tra những tiến trình tâm linh, khó nắm bắt; cũng là cách xử lý các chứng loạn thần (troubles névrotiques) hay tâm thần dựa trên phương pháp vừa nói trên (cure psychanalytique), cũng gọi là một chuỗi khái niệm có màu sắc tâm linh, đạt được nhờ phương pháp điều tra vô thức và hoà nhập với một môn học mới gọi là "siêu tâm học" (métapsychologie). Trong hai tác phẩmTopiquescủa ông,Topiquethứ nhất được viết trong những năm 1895 đến 1905 và cuốn thứ hai từ 1929 đến 1938. Freud phát triển và thay đổi một vài yếu tố của khoa phân tâm.


- Theo Freud, con người có một vô thức tâm linh, một tưởng và một ý chí tiềm ẩn, và khác với những tư tưởng và ý chí của ý thức. Trong cuốn sáchCinq leçons sur la psychanalyse(5 bài học về phân tâm) Freud cho rằng bệnh cuồng trí là hậu quả của việc không thể đè nén hoàn toàn một khát vọng không chịu được, đã hiện ra ở ý thức bàng những biểu hiện thay thế, gọi là "triệu chứng", giữ lại những ảnh hưởng bất ổn liên quan đến ước ao bị loại khỏi ý thức. Để diễn giải phân tâm, chúng ta có thể đạt ra nhiều câu hỏi sau đây: Cái gì là bản chất của các khát khao bị vứt bỏ ngoài ý thức? Đâu là bản chất của việc đè nén? Làm thế nào để dám nói mình biết những gì tự bản chất "không thể biết"?


- Trong cuốnTopiquethứ nhất, Freud nói đến "thúc năng" (pulsion) là một thành phần năng động của bộ máy tâm lý. Tác giả phân biệt "thúc năng tính dục" và "thúc năng tự tồn" (đói khát). Thôi thúc là một cơ chế giả định rằng tâm lý bị kích thích bởi nhiều tác nhân kích thích mà nguồn gốc ở nơi thân xác và biểu hiện qua tâm lý.  Trong cuốnPulsion et destins des pulsions, Freud định nghĩapulsionvới 4 yếu tố chính sau đây: 1) nguồn, kích thích thân xác đến từ đâu? Từ bộ phận nào của thân thể?, 2) Thúc đẩy, thúc năng tạo ra một căng thẳng kéo dài, nó luôn năng động, 3) Mục đích: Thúc năng muốn đạt được thỏa mãn, dưới nhiều cách khác nhau, 4) Đối vật, chính từ nơi thúc năng muốn thỏa mãn mục đích. Hệ quả là "thúc năng" có bốn đích điểm: 1) đảo vấn đề ngược lại, ví dụ như tình yêu biến thành hận thù; 2) quay chống lại chính mình, những gì bị ném bỏ ra ngoài trở lại "cái tôi" của chủ thể; 3) dồn nén, hiện trạng liên quan đến "thúc năng" trở thành vô thức; 4) thăng hoa (sublimation), vượt qua biểu chứng (symptôme) trong một đòi hỏi có thể được thỏa mãn.


Năm 1920, trong cuốnTopiquethứ hai, để giải thích các câu hỏi phát xuất trong các việc chữa bệnh, Freud định nghĩa "nơi chốn" thứ hai của phân tâm:

1) Cái gọi là "le ça" Siêu ngã, vượt ngoài giới hạn bó buộc thực tại, trụ cột "thức năng" vô thức của nhân tính, 2) "le Moi", Ngã, trách nhiệm và chịu đựng các thực tại bản thể, 3) "le Surmoi", Vượt Ngã, ghi vào nội tâm những cấm đoán. Freud dẫn vào hay ý niệm tương phản của "thúc năng" (pulsion): thúc năng của sự chết (pulsion de mort) và thúc năng của sự sống (pulsion de vie). Thúc năng sự sống bao gồm thúc năng tính dục và tự tồn, trong kkhi đó thúc năng sự chết biểu hiện qua khuynh hướng bẫm sinh muốn giảm nhẹ căng thẳng, muốn lập lại, và muốn chết. Freud nêu tên ba hiện tượng sau đây: névrose, psychose, và perversion.


- Névrose, có thể dịch là "chứng loạn thần", xuất phát từ xung đột giữa Siêu ngã (le ça) và Ngã (le moi), nghĩa là giữa thái độ muốn thỏa mãn thúc năng và thái độ xem thường thực tại, và dồn nén vào vô thức, và gây ra hệ quả là những sự xung đột tâm lý và những biểu chứng kéo theo. Phân tâm học nhắm đến việc giải thích bất khả thỏa mãn thúc năng trong thực tế, và bệnh học hiện ra như là một thỏa hiệp qua các biểu chứng. Theo Freud, ba giải pháp có thể xảy ra: 1) loại bỏ căn bệnh bằng suy nghĩ, bệnh nhân đối đầu và thắng vượt yếu đuối, ném bỏ những gì là hệ quả của thời thơ bé của bản Ngã; 2) những thúc năng tìm lại con đường bình thường của sự phát triển; 3) thăng hoa, theo Freud đó là con đường tốt nhất, cho phép cá nhân đó đầu tư năng lượng tình dục hoặc bạo lực vào trong những hoạt động không tính dục hoặc không bạo lực.


Freud cũng phân biệt các loại cuồng trí: hystérie (cuồng), névrose obsessionnelle (ám ảnh), névrose phobie (lo lắng sợ hải). Tác giả giải thích những névrose này bắt đầu bằng mặc cảm Oedipe.[148]


- Psychose (rối loạn tâm thần), khác vớinévroseđã nói trên, chứng sự xung đột tranh chấp giữa Siêu ngã và Ngã (le çale moi),Psychose, theo Freud, cái Ngã xung đột với thế giới bên ngoài, xung đột được diễn dịch ra bằng các hiện tượng "ảo giác" (hallucinations) và "mê sảng" (délires), nói cách khác là mất đi ý thức thực tại. 


- Perversion (trụy lạc), là hệ lụy giữa ý niệm "tính dục thơ ấu" và những tiến triển của nó.


Có nhiều bàn cãi và đóng góp vào phân tâm học đến sau Freud, nhưng mục đích của chúng ta là không đi sâu vào nghiên cứ tâm bệnh học theo Freud. Một đóng góp quan trọng đáng chú ý trong ngành phân tâm đến từ Jacques Lacan[149], người Pháp.


Ông đã cải cách các học thuyết phân tâm của Freud áp dụng nghiên cứu từ ngôn ngữ học để làm sáng tỏ thêm cấu trúc tâm linh của Freud, đề nghị một cấu trúc khác nhằm miêu tả bộ máy tâm trí con người: Thực (réel)(ý thức về thực tại), khác với ý thức nội tâm), Tưởng (imaginaire)(hình ảnh,...), Biểu tượng (symbolique). Ý nghĩa (sens) là tương giao giữa tưởng  và biểu tượng, hay là một sự sắp xếp các hình tượng tưởng tượng theo một trật tự nhất định sao cho nó mang một ý nghĩa.


Sự rối loạn của các hình tượng là một trong những nguyên căn của các dấu hiệu bệnh lý. Cái ý nghĩa tiếp xúc trực tiếp với cái Thực: đó là cách mà con người tiếp cận đến cái Thực khó hiểu, ngoài tầm với. Ví dụ: các tôn giáo cho cái chết một ý nghĩa nào đó. Các ngành khoa học chính xác hay lĩnh vực y khoa đào sâu nghiên cứu, đưa ra những giả thiết để tìm hiểu thế giới tự nhiên, vũ trụ, thân thể. Khi cái Thực di chuyển tự do, vòng Ảo và Biểu tượng đứt rời nhau, cái ý nghĩa bị biến mất. Nơi Thực giao với Biểu tượng được gọi là Khoái lạc phallic (jouissance phallique). Nơi Tưởng và Thực giao nhau, Lacan gọi đó là Khoái lạc Khác (jouissance Autre).[150]

                                                          Nơ Boroméên


Tiếp cận Phân tâm học và Kinh thánh


Có người tự hỏi môn này có liên quan gì đến vấn đề diễn giải Kinh thánh, mà sao chúng ta phải biết đến? Tài liệu chính thức của Giáo hội[151]đã chính thức nhắc đến như một tiếp cận mới trong việc tìm hiểu ý nghĩa Kinh thánh. Một số người Kitô hữu ở Âu châu đã dùng công cụ này như một phương pháp để đọc Kinh thánh. Bài viết "Bible et psychanalyse. Quelques éléments de réflexion"[152]của tác giả Ellian Cuvillier, giáo sư Học viện thần học Tin lành ở Montpellier, cho chúng ta một vài yếu tố để suy nghĩ và nhận định về lý thuyết tiếp cận phân tâm dùng để đọc các bản văn Kinh thánh.


- Trước tiên, theo tác giả, thử nghiệm lý thuyết đọc Kinh thánh với Phân tâm học này, không là một "công cụ" thông thường như các phương pháp khác. Vì tiếp cận này hàm chứa một chiều kích có tính cách chủ quan trực thuộc vào hệ ý tưởng liên quan đến "sự thật", chứ không phải là hệ thống tương quan đến "kiến thức". Trong phần thứ nhất, Ellian Cuvillier bắt đầu bằng việc suy nghĩ về các điều kiện cơ bản để có thể "lắng nghe theo phân tâm học" các bản văn Kinh thánh. Và trong phần kế tiếp, tác giả cố gắng, qua các ví dụ cụ thể, chỉ dẫn ra các chủ đề hay lĩnh vực mà chúng ta có thể áp dụng phương pháp này, một cách khớp nối với chú giải.


Điều kiện cơ bản


Chúng ta nên nhắc lại ở đây: phân tâm học là cách lối chữa bệnh qua việc lắng nghe diễn dạt của một người đang đau khổ vì các triệu chứng tâm bệnh, với một bác sĩ phân tâm. Khoa phân tâm học đặt niềm tin vào các yếu tố cơ bản sau đây: 1) mối tương quan của con người và nguồn gốc của họ, 2) hiện tượng đè nén là nguyên nhân phát sinh mối liên hệ phức tạp giữa ý thức và vô thức, 3) ngôn ngữ con người có một cấu trúc liên quan đến vô thức, 4) hiệu quả việc chữa trị lệ thuộc vào sự tự nguyện nối kết các "ý diễn" trong quá trình chữa bệnh.


- Như thế khi áp dụng tiếp cận phân tâm vào Kinh thánh, chúng ta phải lắng nghe các bản văn như người bác sĩ phân tâm đối với bệnh nhân của họ, có nghĩa là chúng ta phải có cùng một niềm tin và dụng các kỹ thuật lắng nghe của khoa học này. Chúng ta khôngđọc bản văn, nhưng lắng nghe bản văn. Không có điều gì trong bản văn được coi là ngẫu nhiên cả, chúng ta chú ý đến các chuyển dịch có ý nghĩa, những tình cảm, nơi chốn, từ ngữ, lối cách diễn đạt,...


- Nhà chú giải cố gắng đạt tâm trí mình vào việc lắng nghe từng chi tiết của bản văn, nghe những ý nghĩa thoát ra ngoài ý nghĩa thông thường của nó. Họ vận dụng tất cả kinh nghiệm, kiến thức và tập trung của mình để chú ý đến các yếu tố vô thức làm biến đổi một cách vô tình bản văn, cáclapsus calami, đa nghĩa của các từ (signifiants, diễn ý), các diễn đạt mơ hồ không rõ ràng hay khó khăn về văn phạm, tỏ lộ ra yếu tố kháng lại hay ước muốn của vô thức. Lắng nghe phân tâm học các bản văn cho phép nhà chú giải hiểu ra được một vài yếu tố đặc biệt của bản văn. Đi lên thượng nguồn, nhà chú giải, với phương pháp phân tâm, thấy được những gì quyết đoán tiền sử của bản văn, vô thức của việc sáng tạo bản văn. Đi xuống hạ nguồn, nhà chú giải nhận ra các yếu tố "trước mắt", hoặc trong trục "ý định" của bản văn.


- Người lắng nghe các bản văn Kinh thánh theo phân tâm học phải có kinh nghiệm thấu đáo về việc lắng nghe phân tâm. Nói một cách khác, người đã trải nghiệm qua quá trình phân tâm. Các nhà phân tâm, trước khi được công nhận là bác sĩ phân tâm bởi trường phái của họ (của Freud hoặc Lacan ở Pháp) đã có kinh nghiệm nhiều năm như một bệnh nhân diễn đạt với một bác sĩ phân tâm.


- Nói tóm lại, tiếp cận phân tâm áp dụng vào việc diễn giải Kinh thánh cho phép chúng ta biết cái gì đã cấu thành bản văn từ nguốn gốc, và những gì các bản văn đưa ra đằng trước mà "chính nó cũng không biết", những gì bản văn muốn nói. Vì phương pháp này được nhắc đến trong tài liệu củaỦy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, nên chúng ta cố gắng lược qua để biết, nhưng việc áp dụng đòi hỏi nhiều yếu tố khác mà chúng ta khó có thể đạt được (có).


Một vài bản văn có thể được áp dụng diễn giải theo lối phân tâm học.


- Lapsus calami: Dina và các anh em của cô ta (Gn 34).

- Kháng cự của bản văn: Chúa Giêsu và dân ngoại (Mt 8,5-13; Mt 15,21-28).

- Tiếp cận Phân tâm và các bản văn theo lối tường thuật huyền thoại: Vườn địa đàng.

- Tiếp cận phân tâm với các bản văn có tính cách lịch sử: Mt 4,21.

- Tiếp cận phân tâm với các diễn văn thư tín: Gc 1, 16-25.

- Tiếp cận phân tâm với việc diễn giải tôn giáo Kinh thánh: Mt 4,1-11.

- Tiếp cận phân tâm với việc diễn giải các tường thuật phép lạ: Mt 1,18-25.


Kết luận chương 3


Một quãng đường thật dài vừa đi qua, chúng ta có thể kết luận chương sách này với ba điểm đáng nhớ.


1) Ngày nay, Giáo hội đã có nhiều kinh nghiệm và biết dùng nhiều phương pháp đến từ kiến thức khoa học trong ước muốn tìm hiểu thánh ý của Thiên Chúa. Những phương pháp này tuy rất khác nhau, về bản chất cũng như lối cách, nhưng vẫn bổ túc cho nhau trong việc kiếm tìm chân lý và  ý nghĩa của lời Thiên Chúa để nuôi sống đức tin những người Kitô hữu. Một vài phương pháp được cho là thích hợp với chú giải Kinh thánh hơn là một số khác. Vấn đề này luôn là là những đề tài tranh cãi tùy theo trường phái văn hóa khác nhau.

Tài liệuViệc giải Kinh thánh trong Giáo hội, củaỦy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, xếp phương pháp sử quan lên hàng đầu và gọi các công cụ khác bằng danh từ Tiếp Cận và Phân Tích. Nhưng Giáo hội đã mở ra một con đường thật rộng khi chấp nhận hầu hết các phương pháp đến từ các khoa học nhân văn, xã hội, tâm lý và lịch sử của con người. Điều này cũng nói lên được rằng Thánh Linh không chỉ tác động trong lĩnh vực riêng biệt Kitô giáo nhưng Ngài cũng có mặt mọi nơi chốn hoạt động nhân loại. Việc kết hợp và sử dụng các phương pháp bổ túc cho nhau trong việc dẫn giải Kinh thánh là môt việc làm có ý nghĩa và giúp con người thoát ra khỏi giới hạn của lý trí con người.


2) Khi nói công cụ, là nói đến việc hiểu biết một cách thông thạo bản chất và cách sử dụng công cụ đó. Như chúng ta đã thấy, mỗi phương pháp, là một đại diện cho một khoa học của con người mà chúng ta cần vận dụng trí óc và thời gian để học biết công cụ đó. Vì thế, có những nhà chú giải chỉ chuyên tâm vào một phương pháp, và không muốn mạo hiễm vào một thế giới "công cụ" khác mà mình không nắm vững. Vả lại, có những công cụ đối nghịch với nhau, chẳng hạn như phương pháp phê phán sử quan thì dựa trên những phân tích có tích cách "lịch đại", có nghĩa là đi tìm bản văn và ý nghĩa thật của tác giả trong lịch sử, và phương pháp nghiên cứu theo lối thuật chuyện thì phân tích bản văn theo tính cách "đồng đại", có nghĩa là chấp nhận bản văn như nó đã có trước mắt của chúng ta ngày hôm nay. Nhưng các tác giả cũng đang cố gắng thuần hóa các công cụ khác nhau này trong một mục đích duy nhất là nhận ra thánh ý Thiên Chúa nói với chúng ta ngày hôm nay. Nhưng chúng ta cũng nên biết rằng cũng có những công cụ không được xem cùng một cấp độ sử dụng như các công cụ khác, công cụ đó dấn thân con người chúng ta vào lĩnh vực sự thật, như tiếp cận phân tâm. Khi không có kinh nghiệm trong khoa phân tâm học, chúng ta cũng không thể sử dụng nó.

Một phương pháp khác mà Giáo hội thường lên án, như phương pháp "nệ cổ". Việc đọc lời Thiên Chúa theo cách này rất nguy hiểm, vì lấy nghĩa đen của lời xưa áp dụng trực tiếp cho hôm nay: nhiều giáo phái Kitô giáo cứ loan báo  hằng năm và xác định ngày tận thế. Và ngược lại, cũng có những phương pháp duy lý, bác bỏ tất cả những gì thoát khỏi kiểm chứng khoa học và suy luận của lý trí.


3) Cuối cùng, công cụ cũng chỉ là những phương tiện. Lão Tử có nói:"Theo tay ta chỉ thì ngươi sẽ thấy trăng, theo lời ta nói thì ngươi sẽ thấy đạo, nhưng tay ta không phải là trăng, lời ta không phải là đạo."

Ẩn dụ tay chỉ trăng thật thú vị, vì công cụ có khoa học và phức tạp đến mấy cũng chỉ là công cụ. Điều mà chúng ta muốn và cũng là điều mà Thiên Chúa muốn cho là chính Thánh ý của Ngài. Người chú giải không nên bị dụ dỗ và quyến rũ bởi tinh tế của các khí cụ, nhưng luôn hướng tâm mình đi tìm chính yếu. Mặt khác, vì lời Thiên Chúa bao hàm ý nghĩa tự do tuyệt đối của Ngài, lời đó sẽ dẫn đưa tâm trí chúng ta thoát khỏi hạn hẹp và cố chấp của con người. Như trường hợp thánh Phaolô, các nhà chú giải luôn tranh cãi về phương pháp ngài dùng, nhưng thật ra, với đức tin và sự nối kết với Đức Kitô, ngài rất tự do khi dùng các tất cả các phương tiện ngôn ngữ và văn chương mà ngài đã học và đã biết với mục đích là làm nổi bật sự thật của Thiên Chúa. Thánh Augustinô nói:"aime et fais ce que tu veux", có nghĩa là"hãy yêu, rồi làm tất cả những gì bạn muốn". Chính mầu nhiệm tình yêu làm cho chúng ta hiểu được thánh ý.


Chú thích:

[147] Sigmund FREUD, http://fr.wikipedia.org/wiki/Sigmund_Freud, tham khảo ngày 26/03/2015.

[148] Trong thần thoại Hy lạp, Oedipus là con trai của nhà vua Laius và  hoàng hậu Jocasta thành Thebes. Từ trước khi chàng ra đời, có một lời sấm cho rằng chàng là người sẽ giết vua cha và cưới mẹ chàng. Vì vậy, Laius lo sợ và ông đã bàn với hoàng hậu là phải giết Oedipus do sợ chàng sẽ giết cha, cưới mẹ. Cuối cùng, Oedipus lại được giấu đi, và được một người khác nuôi. Khi chàng lớn lên, lúc đó xứ Thebes gặp một tai họa lớn, có một con nhân sư quái ác thường ra một câu đố oái oăm, ai không trả lời được thì nó xé xác. Vua Laius nghe tin, ông đi tới trả lời câu hỏi của nó, ở đây Oedipus gặp Laius, họ tranh cãi về hướng đi rồi Oedipus giết Laius mà không biết đó là cha của mình, và Creon, anh hoàng hậu Jocasta lên ngôi. Oedipus gặp nhân sư, nó hỏi: "Con gì sáng đi bằng 4 chân, trưa đi bằng 2 chân, tối đi bằng 3 chân." Oedipus liền nói: "Đó là con người". Con nhân sư biết mình đã thua, nó đổ xuống bức tường mà chết. Về hoàng hậu Jocasta nhờ mang chiếc vòng thanh xuân nên vẫn giữ lại được sự trẻ trung và nhan sắc của mình. Sau đó Oedipus đã gặp và cưới Jocasta mà không hay biết đó là mẹ chàng rồi lên ngôi vua Thebes. Lời nguyền về việc Oedipus giết cha, cưới mẹ hoàn tất mà chàng không hay biết.

Ngày kia, có một hầu cận già của vua Laius đã cho biết Oedipus là kẻ giết vua cha, ông đau khổ, khi đó hoàng hậu Jocasta tự tử. Oedipus lấy cái trâm trên đầu hoàng hậu mà chọc đui mù mắt ông và bỏ đi. Oedipus sống trong sự đau khổ đến khi ông chết.

Sigmun Freud mượn huyền thoại Hy lạp Oedipus để giải thích căn tính của các triệu chứng phân tâm học. Khi còn trẻ thơ, đứa bé gắn bó với mẹ, và không muốn ai chiếm đoạt mẹ mình, đứa trẻ trai xem người cha như đối thủ của mình. Introduction à la psychanalyse, trad. fr., Paris, Payot, 1966, tr.  190-191.

[149] Jacques LACAN, http://fr.wikipedia.org/wiki/Jacques_Lacan, tham khảo ngày 26/03/2015.

[150] Philippe JULIEN, Pour lire Jacques Lacan : le retour à Freud, Essai, Paris, Seuil, 1995.

[151] L’interprétation de la Bible dans l’Eglise, document de la Commission Biblique Pontificale, 1993, chuyễn dịch bởi NGUYỄN Tất Trung, dòng Đa Minh, http ://catechesis.net/news/VAN-KIEN-GIAO-HOI-62/VIEC-GIAI-THICH-KINH-THANH-TRONG-HOI-THANH-Phan-1-275/, tham khảo ngày 5/01/2015.

[152] Etudes Théologiques et Religieuses, Tome 82, 2007/2, tr. 159-177.


4. Học hỏi Kinh thánh

Trong chương thứ nhất, chúng ta trình bày một ít về lịch sử. Chương thứ hai đã đề cập đến vấn đề ý nghĩa. Con cái của Ngài, những người đã tin theo Ngài, hay ngay cả những người đang còn tìm hiểu về Ngài, luôn đi tìm cho mình ý nghĩa lời Thiên Chúa. Khi nói đến tìm kiếm, chúng ta nói đến các phương tiện và công cụ, đó cũng chính là đề tài của chương thứ ba mà chúng ta vừa bàn tới.


Nhưng vẫn còn có những câu hỏi thích đáng khác. Với sự cổ võ của Giáo hội Công giáo ngày nay, tôi muốn đọc và tìm hiểu sâu xa hơn về Kinh thánh, một bộ sách bao gồm nhiều tác phẩm, tôi phải bắt đầu như thế nào, và làm sao để sử dụng đứng đắn các công cụ trợ giúp?


Những người khác, các sinh viên thần học hay những người nhận lãnh hay dấn thân vào các công việc mục vụ hay giáo lý, cũng cần biết phải nghiên cứu và soạn thảo các luận văn kết quả của việc đọc và nghiên cứu Kinh thánh, họ cũng tự hỏi phải làm thế nào, phải chọn làm sao các bản văn Kinh thánh và những công cụ phương pháp nào?


Và hơn thế nữa, có những người có bổn phận giảng dạy lời Thiên Chúa, họ đã từng học biết một cách nào đó các lối cách nghiên cứu một bản văn Kinh thánh, nhưng họ cũng luôn mong muốn tìm học thêm, vì kiến thức trong lĩnh vực này thì phong phú và vô tận. Trong chương bốn này, chúng ta cố gắng trả lời một cách nào đó cho các câu hỏi vừa nêu. Và dĩ nhiên, đó cũng chỉ là những đề nghị theo tính cách chủ quan, chứ không phải là những lý thuyết nến tảng có tính cách phổ quát khách quan. Ai cũng có thể tạo cho mình một con đường học hỏi Kinh thánh.


Chúng ta cũng nên nhớ rằng đọc các bản văn Kinh thánh không có nghĩa là dùng các phương pháp phân tích như một công thức nấu ăn để có được bữa ăn ngon miệng. Kinh thánh đáng được tôn trọng như chính lời nói ra từ môi miệng Thiên Chúa. Ngài muốn con người hiểu được Thánh ý của Ngài, muốn nhân loại nhận ra tình yêu và con đường của Ngài, và mời gọi họ bước vào các giao ước loan báo trong Kinh thánh.


Nghiên cứu Kinh thánh đưa chúng ta tới gần Thiên Chúa hơn là khi nghe hoặc đọc một vài đoạn văn của Tin Mừng, cầu nguyện với một vài Thánh vịnh. Những người học hỏi Kinh thánh luôn nhớ rằng lời thiêng như đoản kiếm sắc bén đã nói trong thư Êphêsô"hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa"(Ep 6,17) và thư gửi tín hữu Do thái:"Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người."(Dt 4:12). Như thế, việc mài sắc kiến thức Kinh thánh sẽ giúp chúng ta tiếp cận hơn với Thiên Chúa và dẫn dắt chúng ta trên con đường sống đức tin Kitô hữu.


Chúng tôi muốn giúp những người yêu mến đọc Kinh thánh, dù học viên hay giảng viên, đọc, đào sâu, và suy nghĩ và trao đổi nhận thức cùng nhau trên các bản văn Kinh thánh. Chúng ta đã biết qua một vài công cụ phương pháp, nhưng ở đây, trong chương này, là một trong những con đường hay những bước đi cụ thể để đến và lắng nghe lời Thiên Chúa. Chúng tôi đã chọn những bước đi theo lối quy nạp để đi đến những kết luận và những áp dụng cho chính mình. Lối đi này ngược với cách thức suy diễn (déductive), bắt đầu bằng một ý tưởng hay một câu hỏi và sau đó tìm kiếm các biện chứng trong các bản văn. Phương pháp suy diễn này thường được dùng trong các bài giảng và suy niệm.


Đọc Kinh thánh như một người tín hữu yêu mến Lời Thiên Chúa bao gồm việc  chuẩn bị khởi đầu cho việc học Lời Ngài. Chúng ta không thể đến với Lời Ngài khi thiếu kính trọng và yêu mến. Sự kính trọng và yêu mến được bày tỏ qua việc  chuẩn bị nghiêm túc tâm hồn, tài liệu và lòng khiêm tốn. Vì đọc hay học hỏi Kinh thánh là một cầu nguyện.


Nghiên cứu các bản văn Kinh thánh đòi hỏi nhiều cố gắng hơn để diễn giải đúng đắn lời thiêng. Trên quãng đường này, chúng ta có thể gọi đó là diễn giải Kinh thánh. Ba quá trình quan trọng được diễn tả qua ba cụm từ sau đây: tìm hiểu bản văn, nắm bắt chủ đề chính yếu, áp dụng hay cập nhật hóa. Trong giai đoạn này, chúng ta đi tìm các ý nghĩa lời của Thiên Chúa.  Bản văn nói gì? Ý nghĩa thần học như thế nào? Ngài muốn nói gì qua các bản văn này cho chúng ta ngày hôm nay?


Giảng dạy có lẽ là phần quan trọng và khó khăn nhất, vì những gì ta đọc đã trở nên sống động và phải nuôi sống chúng ta và để chúng ta có thể  truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm của mình cho các anh em khác.


Giảng viên Kinh thánh đón nhận những câu hỏi và góp ý của các học viên. Học viên đón nhận một cách năng động trong tinh thần lắng nghe, suy nghĩ và bày tỏ ý kiến.


Khi đọc và học hỏi Kinh thánh, giảng viên chắc chắn đã soạn thảo trên giấy mực, thì khi học hỏi, học viên cũng phải trải qua những thử thách này trong việc ghi diễn tả lại ý nghĩ của mình trên giấy viết. Viết là một quá trình thách đố của sự thật, vì khi viết ra được chúng ta mới biết được đâu là những gì mình đã nắm bắt được.


Đọc Kinh thánh

Nơi chốn và thời gian


Lời Thiên Chúa đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa, gần sự linh thánh. Do đó, việc đầu tiên mà chúng ta phải làm, làchọn một nơi và một giờ trong tuần, hoặc trong thángđể đọc và học hỏi Kinh thánh. Kế đến, hãy  chuẩn bị một chương trình và một lịch trình để xác định rõ những gì mình sẽ làm với Kinh thánh.


Ai cũng tưởng việc này là bình thường, nhưng khi chúng ta tìm kiếm và xác định được nơi chốn làm việc và trung thành với ngày giờ đã chọn, việc đó nói lên niềm xác tín, lòng yêu mến, và sự kính trọng đối với Kinh thánh. Chúng ta không đọc Kinh thánh vì bắt buộc hay vì bổn phận phải soạn thảo một bài dạy hay làm một bài giảng, nhưng những người có nhiệm vụ làm các công việc này, phải cố gắng tạo thói quen gặp gỡ với lời Thiên Chúa. Như thế chúng ta mới có thể nhận ra rằng chính lời đó nuôi chúng ta sống, và khi chia sẻ với các anh em khác, lời đó mới thực sự có ý nghĩa. Nếu một linh mục chỉ giảng những lời mình ghi nhận vì bổn phận và máy móc, hoặc một giảng viên Kinh thánh chỉ dạy những gì nghiên cứu qua sách vở, thì những lời giảng dạy đó trở nên vô bổ và thiếu tinh thần thiêng liêng, đôi khi đó cũng là dấu chỉ không tôn trọng lời Thiên Chúa.


Như chúng ta đã có nói trên đạy,đọc Kinh thánh chính là cầu nguyện. Hoặc nói một cách khác hơn, những ai nghiên cứu Kinh thánh cũng phải tự đặt mình vào trạng thái cầu nguyện. Vì chúng ta đang ở trước nhan thánh Chúa.


Hãy kêu cầu Thánh Thần Thiên Chúa đến giúp chúng ta như Ngài đã linh hứng các tác giả trước đây. Tự hạ mình khiêm tốn, để cầu xin Thiên Chúa soi sáng cho tâm trí mình đi vào nhiệm ý thiêng liêng, để hiểu lời của Ngài. Và nên khắc ghi lời nguyện cầu của Đức Kitô:"Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại Mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.’’(Mt 11,25-26)


Như thế, ngay cả những nhà nghiên cứu và chú giải Kinh thánh, là những người biết nhiều ngôn ngữ và hiểu biết nhiều môn khoa học nhân văn có liên quan đến Kinh thánh, họ cũng cần có tinh thần khiêm tốn và cầu nguyện xin Thánh Thần giúp họ hiểu biết.


Khi không muốn đọc tìm hiểu Kinh thánh một mình, cũng rất hay khi chúng ta tìm kiếm những người yêu mến Kinh thánh để cùng nhau tìm hiểu Lời Thiên Chúa. Lời Ngài là quà tặng cho mọi người, nhưng không phải ai cũng tiếp cận dễ dàng và hiểu được. Chúng ta nếu có thể nên nhờ đến sự trợ giúp của một hướng dẫn có kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực này. Hơn nữa, ngoài vấn đề sư phạm học hỏi, một nhóm nghiên cứu là một nơi lý tưởng để chia sẻ, nâng đỡ, và hỗ trợ cho nhau trong đức tin và trong tình huynh đệ.“Ông Ba-na-ba trẩy đi Tác-xô tìm ông Sao-lô. Tìm được rồi, ông đưa ông Sao-lô đến An-ti-ô-khi-a. Hai ông cùng làm việc trong Hội Thánh ấy suốt một năm và giảng dạy cho rất nhiều người. Chính tại An-ti-ô-khi-a mà lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Ki-tô hữu"Cv 11,25-26.


Tư liệu cơ bản


Cuốn sách đầu tiên mà chúng ta phải có là cuốn Kinh thánh. Chúng ta cũng có thể gặp trường hợp các học viên, khi phải làm một bài viết về Kinh thánh, đã không cố gắng, đọc trực tiếp bản văn nhiều lần để suy nghĩ, và trong khi đó, họ đọc những tác phẩm nói về bản văn hay sách thánh đó. Một sai lầm nghiêm trọng từ phương pháp đến tinh thần tu đức!


Tuy chúng ta có rất nhiều tác phẩm rất hay, chú giải chi tiết từng câu trong Kinh thánh, nhưng các sách bàn về Kinh thánh không thể thay thế được lời Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta phải đọc trực tiếp lời của Thiên Chúa, các tư liệu khác là những "công cụ", tuy được soạn thảo bởi các chuyên gia uyên bác, nhưng chỉ được sử dụng trong những lúc ta cần đến, và chúng sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ một vài vấn đề  khoa học, văn chương hay lịch sử liên quan đến Kinh thánh. Một người Kitô hữu trưởng thành trong đức tin phải biết đánh giá đúng giá trị  của những tư liệu trợ giúp này, và loại bỏ ra ngoài những tư liệu chi phối hoặc ngăn cản Thần khí Thiên Chúa đến giúp chúng ta hiểu biết thánh ý Thiên Chúa.


Ở Việt Nam, chúng ta chưa có nhiều bản dịch Kinh thánh để học hỏi và nghiên cứu. Chúng ta hiện nay có Kinh thánh của linh mục Nguyễn Thế Thuấn, dòng Chúa Cứu Thế và một vài ấn bản của Nhóm Phiên dịch các Giờ kinh Phụng vụ, dịch từ các bản văn Hy lạp và Do thái. Nếu được, chúng ta cũng nên có, sách Kinh thánh bằng tiếng Do thái và Tân ước bằng tiếng Hy lạp (Nouveau Testament interlinéaire grec-français, Maurice Carrez, 1993) hoặc trên mạng internet (www.sefarim.fr, toàn bộ Kinh thánh Do thái, được các giáo sĩ Do thái dịch qua tiếng Anh và Pháp, và được diễn giải bởi Rachi). Trong tiếng Pháp, người ta thường đọc bảnBible de Jérusalem  hay bản TOB (traduction oecuménique de la Bible, bản dịch Đại kết). Trong Giáo hội Tin lành, có ba văn bản Anh ngữ rất gần với các bản gốc: la New American Standard Bible (NASB), la Holman Christian Standard Bible (HCSB) et New King James Version (NKJV)(bản dịch tiếng Pháp: la Bible du roi Jacques).


- Một "concordance biblique", tạm dịch là "tự điển từ ngữ tương ứng Kinh thánh"  - chính là tự điển liệt kê các từ Kinh thánh, trong đó, chúng ta sẽ đọc được nghĩa thứ nhất của chữ, nguồn gốc của chữ, và các đoạn văn Kinh thánh đã dùng những từ ngữ đó. Nếu đọc được Anh ngữ, chúng ta nên có một trong hai cuốn sách sau đây: "l’Exhaustive Concordance" của Strong[153]hoặc "Analytical Concordance" của Young.[154]

- Một cuốn tự điển Kinh thánh. Các tự điển Kinh thánh giải thích cho chúng ta các từ ngữ trong bối cảnh của chúng[155].  Trong đó, có những bài viết cho chúng ta biết các nơi chốn, các dân tộc, tiền bạc, các đơn vị đo lường của thời đó được nói đến trong Kinh thánh. Ngày nay, chúng ta có thể đọc tham khảo được các tự điển này ở mạng internet, nhưng với điều kiện là chúng ta phải truy tầm được nguồn gốc và sự nghiêm túc khoa học của chúng.

- Các sách dẫn nhập về Kinh thánh. Chẳng hạn, trong ngôn ngữ Pháp, chúng ta có "Introduction à l’Ancien Testament", ấn hành bởi Thomas Römer, Jean Daniel Macchi et Christophe Nihan, Labor et Fides, 2005.

- Một vài cuốn sách "commentaires", tức là sách chú giải về một đoạn văn hay một cuốn sách Kinh thánh. Các sách này có rất nhiều, ở các nước Tây Phương, và nhất là trong các thư viện của những đại học Thiên Chúa giáo.

- Một cuốn sách nói về lịch sử dân Thiên Chúa, về Do thái giáo và những lễ lạc và phụng vụ của họ.

- Các nguyệt san hoặc định kỳ chuyên về các đề tài Kinh thánh, nhưCahier Evangile, trong tiếng Pháp.

- Một cuốn vở, để ghi chép lại những tìm kiếm và suy nghĩ (đến) từ việc đọc Kinh thánh.


Lựa chọn


Trong các đại chủng viện, chương trình  học Kinh thánh được trải dài qua 6 hay 7 năm học. Trong chu kỳ thường gọi là triết học, chủng sinh bắt đầu với các các sách căn bản của Cựu ước, Ngũ thư, Ngôn sứ, và Tin Mừng Nhất Lãm, khi bước qua chu kỳ thần học, họ học Sách Khôn ngoan, Thánh vịnh, rồi đến sách Công vụ Tông đồ, các thư thánh Phaolô, Tin Mừng theo thánh Gioan, sách Khải Huyền,...


Đối với người Kitô hữu, nên bắt đầu bằng Tân ước. Vì khi đọc Tân ước chúng ta cũng phải tham khảo sách Cựu ước, như đã nói, chính Cực ước đã chứa đựng mặc khải mầu nhiệm cứu độ, và Tân ước sẽ soi sáng cho chúng ta hiểu Cựu ước và ngược lại. Chúng ta có thể bắt đầu bằng Tin Mừng Nhất Lãm. Hoặc chúng ta đọc lần lượt trước tiên là Tin Mừng theo thánh Maccô, kế đến Matthêô, và thánh Luca, hoặc chúng ta đọc cả ba cùng một lúc và chọn những đoạn văn hay những phần quan trọng trong ba Tin Mừng này.


Sau đó, chúng ta có thể đọc sách Công vụ Tông đồ, Tin Mừng theo thánh Gioan, sách Khải huyền, và cuối cùng là các thư của các Tông đồ.


Đối với Cựu ước, trước khi thiết lập cho riêng mình quá trình đọc và nghiên cứu, chúng ta có thể đọc các sách theo thứ tự của thư quy Công giáo hoặc theo những nhóm sách được xếp vào cùng một phạm trù văn loại.


Chú thích:

[153] James STRONG, The New Strong's Expanded Exhaustive Concordance of the Bible, Hardcover, 2010.

[154] Robert YOUNG, Young's Analytical Concordance to the Bible, Hendrickson Publishers, Hardcover, 2011.

[155] Xavier LÉON-DUFOUR, Dictionnaire du Nouveau Testament, Paris, Seuil, 2010.

Biểu đồ sau đây sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng quát và sự sắp xếp khác nhau giữa thư quy Công giáo và thư quy Do thái.


THƯ QUY DO THÁI

Khoảng Năm

I. TORAH: Ngũ kinh

1. Bereshit (Sáng Thế Ký)

2. Shemot (Xuất Hành)

3. Vayiqra (Lêvi)

4. Bamidbar (Dân Số)

5. Devarim (Đệ Nhị Luật)

IX-V

X-V

VI-V

VI-V

VII-VI

II . Neviim: Ngôn Sứ

a. Neviim rishonim (Tiền Ngôn Sứ)

b. Neviim aharonim (Hậu Ngôn Sứ)

Trei Assar (12 ngôn Sứ)

1. Hoshéa (Hôsê)

2. Yoël (Giôen)

3. Amos (Amốt)

4. Ovadia (Ôvadia)

5. Yona (Giôna)

6. Mikha (Mikha)

7. Nahoum (Nakhum)

8.Havaqouq(Khabarúc)

9. Tsephania (Xôphônia)
10. Haggaï (Khácgai)

11. Zekharia (Đacaria)

12. Malakhi (Malakhi)

1. Yehoshoua (Giôsuê)

2. Shoftim (Thủ Lãnh)

3. Shemouel (I và II Samuen)

4. Melakhim (I và II Các Vua)

5. Yeshayahou (Isaia)

6. Yrmeyahou (Giêmêria) 

7. Yehezqel (Edêkien)

VI

VI

X-VI

X-VI

VIII-V

600-500

600-500

VIII-V

III. Ketouvim: các sách khác

1. Tehilim (Thánh Vịnh)

2. Mishlei (Châm Ngôn)

3. Iyov (Gióp)

4. Shir Hashirim (Diễm Ca)

5. Routh (Rút)

6. Eikha (Ai Ca)

7. Qohelet (Giảng Viên)

8. Esther (Étte)

9. Daniel (Danien)

10. Ezra – Nekhem’ya (Ét Ra -Nơkhemia)

11. Divrei Hayamim (I-II Sử Biên)

IX-III

XI-I

V

Đầu thế kỷ VI

VI

VI

VI

II

II

IV, Cuối IV

VI-II

THƯ QUY CÔNG GIÁO

I. Ngũ kinh

Sáng thế (St),

Xuất hành (Xh)

Lêvi (Lv),

Dân số (Ds),

Ðệ nhị luật (Dnl)



 II. Sử và Truyện

Giôsuê  (Gs), Thủ lãnh (Tl)

Rút (R), 1 và 2 Samuen (1 và 2Sm),1 và 2 Các Vua (1V và 2V)

1 và 2 Sử biên niên (1Sb và 2Sb), Ét Ra (Er), Nơkhemia (Nkm)

Tôbia  (Tb)

Giuđitha (Gdt)

Étte (Et)

1 Macabê (1Mcb)

2 Macabê (2Mcb)


III-II

II

II-I

134-63

103-76

III. Các sách Thi ca và Khôn ngoan

Gióp (G),Thánh vịnh (Tv), Châm ngôn (Cn), Giảng viên (Gv), Diễm ca (Dc)

Khôn ngoan (Kn)

Huấn ca (Hc)


I

II-I

IV. Các sách Ngôn Sứ

Isaia (Is), Giêmêria (Gr), Aica (Ac),Barúc (Br); Edêkien (Ed), Danien  (Ðn) , Hôsê (Hs),Giôen (Ge), Amốt (Am), Ôvadia (Ov), Giôna (Gn), Mikha (Mk), Nakhum (Nk),Khabarúc (Kb), Xôphônia (Xp), Khácgiai (Kg), Ðacaria  (Dcr), Malakhi (Ml)



I. Các Tin Mừng

Mátthêu (Mt),

Máccô (Mc),

Luca (Lc),

Gioan (Ga)



II. Sách Công Vụ

Công vụ  Tông đồ (Cv)



III. Các Thư Thánh Phaolô

Rôma (Rm), 1 và 2 Côrinthô (1 và 2Cr), Galata (Gl), Êphêsô (Ep), Philiphê (Pl), Côlossê (Cl)

1 và 2 Thessalonica (1 và 2Tx)

1 và 2 Timôthêu (1 và 2Tm), Titô (Tt)



IV. Các Thư "Công giáo"

Philêmon (Plm), Do thái (Dt), Giacôbê (Gc), 1 và 2 Phêrô (1, 2Pr), 1,2 và 3 Gioan (1, 2, 3Ga), Giuđa (Gđ)



V. Sách "Ngôn sứ"

Khải huyền (Kh)








Khi đọc các sách Cựu ước, chúng ta theo tiến trình sắp xếp của thư quy Công giáo. Hãy bắt đầu bằng Ngũ thư và với sách Sáng thế. Sách mặc khải cho chúng ta việc tạo dựng và những tương quan đầu tiên giữa Thiên Chúa và con người. Sau đó, chúng ta đọc từ sách Xuất hành đến Đệ nhị luật. Đó là các sách về Luật, có liên quan đến việc cứu độ và hành trình lịch sử của dân Thiên Chúa. Kế đến, chúng ta có thể đọc các sách lịch sử từ sách Giôsuê đến sách Esther.


Sau phần lịch sử, chúng ta có các sách Khôn Ngoan.


Sách ông Gióp, được xem như là một sách xa xưa nhất, sẽ cho chúng ta thấy mầu nhiệm của sự đau khổ, và liên quan đức tin của con người đối với Thiên Chúa.


Thánh vịnh là những thi ca được viết bởi các vua dân Do thái, nhất là vị vua nổi tiếng David. Chúng ta cũng có những bài ca của vua Salomon, được viết dưới tên là sách Diệu Ca hay Diễm Tình Ca.


Sau các sách Khôn ngoan và Thi ca, chúng ta nên đọc các sách Ngôn sứ. Trước tiên, khởi đầu bằng 5 Ngôn sứ lớn như Isaia, Giêrêmia, Aica, và Đaniên, kế đến, 12 Ngôn sứ nhỏ như Hôsê, Giôen, Amốt, Ôvadia, Giôna, Mikkha, Nakhum (Nahum), Khabarúc (Habacuc), Xôphônia (Sôphônia), Khácgiai (Haggai), Dacaria (Zacaria), Malakhi (Malaki).


Theo một chủ đề


Nghiên cứu một chủ đề Kinh thánh là một cách thức khác so với lối học hỏi một cuốn sách, một chương của một cuốn sách hay một đoạn văn được chọn. Thường thấy trong phần phụ lục của các sách Kinh thánh, có một danh sách dài về các chủ đề. Chúng ta lựa chọn ra một vài đoạn văn chính có liên quan đến chủ đề, có những chủ đề liên quan đến thần học tín lý và những chủ đề khác có tính cách đời sống đức tin. Một ví dụ nhỏ để cho chúng có một khái niệm về các chủ đề Kinh thánh.


- Tiếp đón (accueillir): Lc 23, 13-35 (khách lạ, sự đổi mới); St 13, Lc 1, 26-28 (ơn gọi Thiên Chúa) Lc 1, 39 (tiếp đón nhau), Lc 6, 27-35, Lc 19, 1-10 (yêu mến kẻ thù) Lc 9, 46-48 (trong tinh thần con trẻ)

- Lều trại (camp): St 28, 1-15 (định cư), 2Sm 7, 1-15, 2Sm 8, 1-16 (rất tốt đóng trại ở đây) Is 54,2 (nối dài các dây thừng).

- Vui mừng (joie): Lc 1, 46-48

- Bình an (paix): Mt 5, 24-25; Lc 2, 1-20; Is 9, 1-6, Is 10, 6-9.

- Chia sẻ (partage): Mt 26, 17-19, Ga 6, 1-15 (chia sẻ bánh) Mt 6,1-4 (không chờ đợi gì); Cv 2, 42-47 (chia sẻ của cải), Đnl 24, 19-22 (chia sẻ với người nghèo khó).

- Hoà giải (réconciliation): Lc 15, 11-32 (cầu xin tha thứ) Mt 5, 20-25 (tha thứ); Tv 50 (cầu nguyện nhận biết tội lỗi); Is 10, 3-5, Is 55 , Ed 17 (thay đổi).

- Gió (vent): Ga 3,8; Lc 8, 22-25; Cv 2, 1-4; 1V 19, 10-14.


Chúng ta ai cũng có thể soạn thảo cho mình những chủ đề để tìm kiếm ý nghĩa trong Kinh thánh. Một vài tác giả đã soạn thảo các chủ đề theo một danh sách từ khóa.


-Quarante mots clés pour entrer dans la Bible[156](40 từ khoá để bước vào Kinh thánh), viết bởi nhiều tác giả, xuất bản năm 1993, dành cho những người mới bắt đầu. Thực ra, đó là một cuốn tự điển nhỏ tuyển lựa ra 40 từ ngữ quan trọng của Kinh thánh. Các từ này được sắp xếp tương quan với nhau để làm nổi bật tính đồng nhất của sứ điệp Thiên Chúa.


- Một sách khác khó hơn,Les mots clefs de la Bible[157], là một tác phẩm nghiên cứu Kinh thánh theo ngữ nghĩa. Tự điển này tuyển chọn những từ ngữ rất có ý nghĩa, hội tụ vào các yếu tố chính yếu của Mặc khải, các chủ đề nền tảng đã phát sinh tư tưởng Do thái giáo và Kitô giáo.


- Ngoài ra trên mạng lưới Internet ngày nay, hiện hữu nhiều trang web chất chứa nhiều từ ngữ Kinh thánh cơ bản. Một trong những trang web ở Pháp, thích hợp cho việc tìm kiếm từ ngữ Kinh thánh là: KT42.[158]


Thực hành: Lắng nghe lời Chúa


Chúng ta quen nói là đọc Kinh thánh, nhưng thực ra là chúng ta nên lắng nghe Thiên Chúa muốn nói gì. Như thế, khi mở sách thánh và chọn một bản văn hay một chủ đề, việc cần thiết là chúng ta phải đọc đi đọc lại nhiều lần bản văn đó, và chậm rãi như một việc cầu nguyện, cho dù bản văn dài hay ngắn. Thỉnh thoảng dừng lại trong im lặng để suy nghĩ.


Chúng ta có thể đọc một hai bản dịch khác nhau, suy nghĩ và diễn đạt riêng biệt của mỗi tác giả sẽ tạo ra cho chúng ta những câu hỏi. Nếu được, chúng ta cũng có thể đọc đoạn văn chúng ta chọn trong ngôn ngữ gốc, Hy lạp hoặc Do thái.


Một trong những câu hỏi thường đến với chúng bắt đầu bằng cụm từ tại sao?  Chúng ta cũng nên biết rằng, cụm từ này mang tính cách sư phạm của Thiên Chúa trong Kinh thánh, vì nó được dùng hơn 400 lần trong Kinh thánh. Thiên Chúa thường dùng cụm từ "tại sao" để thúc đẩy người nghe phải suy nghĩ. Và sau đó cũng có nhiều câu hỏi cũng thường đến với những người quen đọc và suy nghĩ Kinh thánh:


Ai? Ở đâu? Khi nào? Cái gì vậy? Chuyện gì đã xảy ra?


Chúng ta cũng nên chú ý đến những biến cố, dữ kiện, ý tưởng, hệ quả, ...?


Quan sát và ghi chép các mệnh lệnh, khuyên bảo, khuyến cáo, tiên báo?


Nếu thời gian cho phép, chúng ta cũng đừng vội vã bước đi quá nhanh khi chưa lắng nghe thực sự. Hãy để lời Ngài làm việc âm ỉ trong lòng chúng ta và khép sách lại bằng một lời cầu nguyện.


Tìm các giới hạn bản văn


Khi trở lại với bản văn chúng ta nên cố gắng đi tìm hiểu sâu xa hơn về cấu trúc, văn loại và phong thái văn chương và các bối cảnh của bản văn ta đã chọn.


Trước tiên, chúng ta phải giải thích, nhờ theo các dấu chỉ văn học, tại sao bản văn bắt đầu ở đó và kết thúc ở đó? Cái gì đã nói trước và cái gì đến sau bản văn chúng ta đọc?


Phân đoạn Kinh thánh và tìm bố cục hay cấu trúc của bẳn văn một cách đúng đắn và chính xác là một bước tiến rất quan trọng, khi tìm được nó chúng ta đã nhận thấy một con đường dẫn đến ý nghĩa rồi. Nói cách khác, là người đọc phải tìm giới hạn được đơn vị chủ thể của bản văn có tính cách nhất quán, một phân đoạn được giới hạn trong một tổng thể rộng hơn, được gọi trong ngôn ngữ văn học Kinh thánh là  Phân đoạn, "péricope", đến từ chữ "cắt đoạn" trong tiếng Hy lạp.


Một cách chung chung, cách bản dịch Kinh thánh đã làm trước cho chúng ta những phân đoạn này và đặt cho chúng những tựa đề: ví dụ,Ông Môsê qua đời(Dt 34),Con suối đến từ đền thờ chảy ra(Ed 47 phân đoạn và tựa đề này khộng có ở bản văn nguyên thủy, bản gốc. Việc đánh số các câu và phân thành từng chương đoạn trong Kinh thánh là một công trình đến sau này. Như thế, không nên để các phân đoạn và tựa đền này ảnh hưởng đến suy nghĩ của chúng ta). Hoặc trong phần đầu bản dịch Tin Mừng theo thánh Maccô của nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ:Sứ vụ của Đức Kitô, 1. Loan báo nhiệm cục mới, A. Tuần lễ Khai mạc...


Chúng ta nên nhớ rằng, những đoạn và tựa đề cũng là một diễn giải của một tác giả nào đó.


Đi tìm bối cảnh


Các dữ kiện có liên hệ mắt xích và được sắp xếp có chủ ý trong một bản văn, nếu chúng ta cô lập chúng ngoài bối cảnh thì rất thiếu sót và thường nguy hiểm, có thể đến xuyên tạc hay làm sai lạc bản văn. Khi giới hạn một bản văn, chúng ta phải biết trước đó tác giả nói gì và tiếp theo sau đoạn đó tác giả đã nói đến điều gì?


Cấu trúc tổng thể đã chất chứa ý nghĩa rồi.


Ngoại trừ sách Châm ngôn đã thu thập các câu phương châm và khôn ngoan từng cặp đôi một xếp trong những sưu tập xác định, các phân đoạn nằm trong một bối cảnh văn chương có ý nghĩa.


Chẳng hạn, khi chúng ta đọc câu văn này của thánh Tông đồ Giacôbê:"Hãy cảm cho thấu nỗi khốn cùng của anh em, hãy khóc lóc than van. Chớ gì tiếng cười của anh em biến thành tiếng khóc, niềm vui của anh em đổi ra nỗi buồn"(Gc 4,9), chúng ta phải đọc những câu trước và sau của bản văn trong bối cảnh, thánh Tông đồ Giacôbê đang nói về tự hối cải tâm hồn chứ không phải là một tuyên bố nguyền rủa niềm vui Tin Mừng.


Khi đặt bản văn trong bối cảnh giúp chúng ta biết được tác giả muốn nói điều đó cho đối tượng người nghe nào, và từ đó chúng mới hiểu đúng được thông điệp của lời Chúa.


Khi hiểu được bối cảnh gần, chúng ta cũng phải để ý đếnbối cảnh xa hơn của bản văn.Bối cảnh này thể hiện qua việc tìm hiểu những đặc tính chung của cuốn sách trong đó có bản văn của chúng ta. Nói một cách dể hiểu hơn, chúng ta đặt những câu hỏi sau đây:


- Ai là tác giả? Đời sống ông thế nào? Văn hoá ra sao? Có khiếu văn chương như thế nào?

- Đâu là mục đích của cuốn sách? Tại sao tác giả đã viết nó? Ông viết trong thời kỳ nào và viết cho ai?

- Cấu trúc của sách như thế nào? Có những phân đoạn chính nào?

- Tác giả dùng những văn loại nào: lối thuật chuyện, dụ ngôn, thi ca, diễn văn, ngôn sứ, cầu nguyện, tranh cãi,  lề luật, độc thoại,...?

- Đâu là phong văn của tác giả: Tu từ học, so sánh, nhân cách hoá, ẩn dụ, trào phúng, châm biếm,...?

- Tác giả thường dùng những cấu trúc văn phạm nào: câu hỏi, khẳng định, tuyên bố,... hay dùng động từ hay danh từ để diễn đạt, và có nhiều những liên từ nối kết hay không: đối lập, đồng thuận, bác bỏ,...?

- Tác giả dùng nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay nghĩa đen? Phần này rất quan trọng, vì Kinh thánh dùng rất nhiều những cụm từ đối lập (antithèse), đối xứng, song song, ...


Nói tóm lại, người đọc phải cố gắng bỏ thời gian để mổ xẻ tường tận bản văn. Khi đọc bản văn Kinh thánh, chúng ta nên chịu khó học hỏi ngôn ngữ và văn hóa của bản nguyên thủy. Các sinh viên học Thần học và Kinh thánh, phải học thêm tiếng cổ ngữ dạy trong đại chủng viện hay trong các đại học Công giáo. Việc có thể đọc bản văn trong ngôn ngữ gốc, tiếng Hêbrơ hay tiếng Hy lạp, rất quan trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa Kinh thánh.


Chú thích:

[153] James STRONG, The New Strong's Expanded Exhaustive Concordance of the Bible, Hardcover, 2010.

[154] Robert YOUNG, Young's Analytical Concordance to the Bible, Hendrickson Publishers, Hardcover, 2011.

[155] Xavier LÉON-DUFOUR, Dictionnaire du Nouveau Testament, Paris, Seuil, 2010.

[156] Quarante mots clés..., Coll. Carnets Fêtes et Saisons, Edistions du Cerf, Paris, 1993.

[157] Pierre MIQUEL, Agnès EGRON, Paula PICARD, Les mots-clés... Les Classiques Bibliques, Beauchesne, Paris, 1992.

[158] http://www.kt42.fr/mots-cles-les-mots-de-la-bible-a78665249, tham khảo ngày 3/3/2015.


Ngôn ngữ Kinh thánh


Ai cũng biết, Kinh thánh không được viết trong ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng ta, đa số các bản văn Cựu ước được soạn thảo trong ngôn ngữ Hêbrơ (tiếng Do thái cổ). Vua David, Salomon, hay ngay cả ngôn sứ Edêkien đã nói và viết trong ngôn ngữ này, ngôn ngữ của dân Thiên Chúa cho đến thời kỳ lưu đày bên Babylon vào năm 586 trước Đức Kitô. Trong lưu đày, dân Do thái bắt đầu từ bỏ dần dần ngôn ngữ ông bà để nói tiếng Aram (Araméen), một tiếng nói gần giống tiếng Hêbrơ, nhưng có nguồn gốc từ xứ (sở) Syria, ngày xưa gọi là xứ Aram. Tiếng Aram được truyền tải bởi các người lưu đày và thương lái trong toàn lãnh địa Trung Đông. Đến thế kỷ thứ V trước kỷ nguyên chúng ta, tiếng Aram đã trở thành ngôn ngữ hành chánh trong đế quốc Ba Tư. Một vài sách Kinh thánh Cựu ước được viết trong tiếng Aram.


Kể từ khi Trung Đông lọt vào tay đại đế Alexandre (356-323), tiếng Hy lạp đã trở thành ngôn ngữ thông dụng trong toàn lãnh địa. Các tỉnh thành và đô thị cai quản bởi các tướng lãnh Hy lạp. Do đó, ngôn ngữ này thay thế tiếng Aram trong thương mại và hành chánh. Nhưng tiếng Hy lạp sử dụng thời này khá đơn giản và bình dân so với ngôn ngữ văn chương cổ điển Hy lạp. Triết gia Platon đã gọi nó là koinê, ngôn ngữ chung. Các tác giả sách Tân ước viết bằng ngôn ngữ này.


Vào thời đó, các thợ thủ công, các thương (lái buôn) gia, có lẽ thương lượng giá cả và công việc của họ trong ngôn ngữ Hy lạp, nhưng dầu vậy, tiếng Aram vẫn còn phổ biến trong giới bình dân. Đức Giêsu Kitô và các môn đệ của Ngài nói tiếng Aram. Trong Tân ước, chúng ta một vài câu nói của Đức Giêsu Kitô trong tiếng Aram:"Êli, Êli, lêmasabácthani"(Mt 27,46).


Trong Tân ước, chúng ta thấy xuất hiện một vài từ La tinh[159], được viết trên bảng nhỏ gắn trên thập giá Đức Kitô "Đây là vua người Do thái" . Nhưng đó chỉ là ngôn ngữ hành chánh và luật pháp của đế quốc La mã, có lẽ rất ít dân chúng biết nói tiếng La Tinh. Đức Giêsu Kitô, vì Ngài là con của Thánh thợ mộc Giuse, sống trên một tuyến đường qua lại quan trọng, có lẽ Ngài cũng có thể nói được tiếng Hy lạp (vì Ngài không cần thông dịch viên khi Ngài ở trong vụ kiện), và tiếng Hêbrơ (tiếng Do thái cổ), vì nhiều lần Ngài vào trong hội đường Do thái và đọc Kinh thánh trước cộng đoàn cầu nguyện.


Ngữ nghĩa[160]


Việc nghiên cứu  từ ngữ là một bước cần thiết trong quá trình diễn giải Kinh thánh. Khi nói đến nghiên cứu, chúng ta phải từ bỏ hẳn thói quen xấu, thiếu nghiêm túc về trí thức, là dùng dụng cụ dịch thuật của các tự điển kỹ thuật số trên mạng Internet, chẳng hạn như google, có nghĩa là chúng ta lấy một chữ được dịch ra và cho đó là đúng mà không cố gắng làm một phê bình và phán đoán trên ngữ nghĩa đó.  Chúng ta lười biếng và không cố gắng tìm xem những chữ mà tác giả đã dùng có ý nghĩa gì vào thời kỳ đó và đã tiến triển trong ngữ nghĩa như thế nào qua nhiều thế kỷ. Nếu đọc vội vàng nhiều lúc chúng lại hiểu ngược lại những gì mà tác giả muốn nói qua từ ngữ đó.


Sau đây là năm yếu tố cơ bản trong việc nghiên cứu ngữ nghĩa:

a) nghiên cứu ngữ nghĩa bắt đầu bằng việc tìm hiểu và quan sát một từ ở trong nhiều cấp độ khác nhau, và nhất là cố gắng suy xét và biện luận để hiểu các ý nhị của từ đó và ý nghĩa xác thực của nó trong bối cảnh bản văn.


- Trước tiên, từ ngữ được xem xét trong bối cảnh trực tiếp, bối cảnh đó là câu văn, đoạn văn, mạch văn. Đây là một chú ý quan trọng của ngành ngôn ngữ học. Vì nếu một chữ có nhiều nghĩa, muốn xác định nghĩa đó, chỉ trông cậy vào bối cảnh trực tiếp của bản văn.


- Nghiên cứu ngữ nguyên học (étymologie), tức là xem xét ý nghĩa gốc của từ ngữ, và tiến trình phát triển của nó, cũng rất hay, nhưng chúng ta phải nắm vững nguyên tắc vừa nêu trên của ngôn ngữ học. Vì khi tìm thấy ngữ nghĩa gốc, chúng ta có khuynh hướng cho đó là nghĩa đúng trong mọi trường hợp.


- Chúng ta không dừng lại ở hai điểm trên, nhưng còn phải tiếp tục phân tích từ đó đưọc xử dụng như thế nào trong cùng một cuốn sách, cùng một tác giả, và so sánh với cách sách và các tác giả khác. Trong việc này, chúng ta cần dùng đến tự điển "từ ngữ tương liên" (concordance).


b) nghiên cứu ngữ nghĩa vận dụng khả năng phân tích và phán đoán đểxác định rõ ý nghĩa, ví dụ khi ta đọc chữ "ézèr kenègedô", nói về bà Evà trong sách Sáng thế, nhóm Các Giờ Kinh Phụng vụ (CGKPV) dịch như sau:"Ta sẽ làm cho nó mộttrợ tátương xứng với nó"(St 2,18). Cũng như nhóm CGKPV, hầu hết các bản dịch chọn ý niệm trợ giúp ẩn chứa ý nghĩa đẳng cấp, kẻ trên người dưới. Nhưng khi làm một nghiên cứu ngữ nghĩa, chúng ta thấy từ ézèr có hai nghĩa thực sự sau đây:


- Từ ngữ diễn tả một hợp tác với một người yếu sức. Và từ này thường có nghĩa là "nâng đỡ, cứu giúp, cứu độ". Hơn nữa, trong hầu hết các xử dụng trong Cựu ước, từ ngữ áp dụng cho Thiên Chúa.


- Khi nó là động từ, từ ngữ có nghĩa làgiao tiếp bằng lời nói, thông báo, thuật chuyện.Thể động từ ézèr trong câu này (St 2,18) có nghĩa là đối diện, hữu thể ngôi lời.


Như thế khi suy nghĩ kỹ hơn, chúng ta thấy là người đàn bà được dựng nên không hẳn ở trong vai tròtrợ tánhư đa số các bản dịch thường hiểu, nhưng trước tiên và sâu thẳm, họ là người đồng loại, đồng đẳng, hỗ tương, người đối diện biết nói mà Ađam cần có để hoàn thiện và phát triển.


c) Nghiên cứu ngữ nghĩa giúp tatránh lạc nghĩa. Chẳng hạn khi các tác giả Kinh thánh nói dùng chữ "quả tim" của một ai đó trong Kinh thánh, từ đó không có nghĩa tình cảm như chúng ta hiểu ngày hôm nay: "xé nát con tim, hay trái tim ngục tù", nhưng nó có nghĩa thật sự là "ý chí, trí nhớ, óc não". Như thế ta sẽ hiểu tại sao bản dịch tiếng Việt không dùng chữ "trái tim" như trong nguyên bản mà thay thế bằng ý niệm "lòng dạ":"Vì tựlòngphát xuất những ý định gian tà"(Mt 15,19) hoặc"Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại tronglòng"(Lc 2,19). Nghiên cứu ngữ nghĩa cho phép chúng ta định được tổng thể những ý nghĩa có thể có nơi một từ. Trong Đn 7,13-14, ngôn sứ dùng lối nói "Con Người" (fils de l’homme) để chỉ Đấng Thiên sai. Như thế, khi thánh Gioan dùng lối nói này trong Tin Mừng của ngài, chúng ta phải hiểu ngài muốn diễn tả thiên tính của Đức Kitô, chứ không phải là nhân tính của Ngài. Ngược lại, lối nói "Con của các thần thánh" (fil de dieux) để chỉ các hoàng tử phàm trần.


d) Nghiên cứu ngữ nghĩa cũng liên quan đến việc chú ý đến các lối diễn đạt riêng biệt của ngôn ngữ đó, và không có ở ngôn ngữ khác. Chúng ta sẽ thấy trong Kinh thánh có những cụm từ rất Do thái (hébraisme), ví dụ như khi một cô gái nói"tôi có đường đi đàn bà", có nghĩa họ đang có kinh nguyệt, rất Hy lạp (hellénisme) như "ceignez les reins de votre entendement", mà bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã chọn một diễn dịch rất khác:"anh em hãy chuẩn bị lòng trí, hãy tỉnh thức" (1 Pr 1,13), thực sự có nghĩa là "hãy sẵn sàng phục vụ". Và chúng ta cũng không quên quan tâm đến các lối chơi chữ, châm biếm, trào phúng,...


e) Khi nới đến nghiên cứu từ ngữ, cũng phải nhắc đến những dấu chỉ và cấu trúc văn phạm: các thì của động từ, các dấu chấm, phẩy,...

Người Việt ít chú đến thời gian trong câu nói, họ chỉ nêu lên dữ kiện như đang xảy ra, nhưng các ngôn ngữ Tây phương, các thì quá khứ, hiện tại, hay tương lai, diễn đạt một ý nghĩa rất khác nhau. Trong văn phạm tiếng Do thái, nghiên cứu động từ cho phép trả lời được nhiều câu hỏi quan trọng. Tiếng Do thái không phân biệt (như ngôn ngữ Hy lạp) quá khứ, hiện tại, hay tương lai. Động từ của ngôn ngữ Do thái dùng để chỉ trạng thái của sự việc: một trạng thái hoàn thành (accomplie) hay một trạng thái chưa hoàn thành (inaccomplie). Khi dịch thuật, trạng thái chưa hoàn thành có thể dùng khi thì tương lai, khi thì quá khứ, hay hiện tại. Như thế, khi hành động chưa hoàn thành hay chưa xảy ra, không hàm chứa mệnh lệnh.


Chẳng hạn, trong St 3,16:"Với người đàn bà, Chúa phán: Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi".Trongbản gốc Do thái, các động từ của câu này ở trạng thái chưa hoàn thành (inaccomplie), nên câu nói không thể hiểu trong mệnh lệnh cách. Thiên Chúa không nguyền rủa hay chúc dữ cho con người dù họ phạm tội, Ngài chỉ tiên báo để ngăn ngừa và cảnh cáo.


Chúng ta cũng nên biết rằng, những chấm phẩy, đặt số câu và phân đoạn do những người đọc và nghiên cứu sau này. Các bản thảo gốc không chấm câu cũng không xuống hàng. Vì thế, khi đọc Kinh thánh, dời chỗ một dấu chấm hay một dấu phẩy làm thay đổi ý nghĩa.


Chẳng hạn, trong Ga 1,3:"Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành."Ở đây, chúng ta lại thấy có một diễn dịch muốn đơn giản hóa ý nghĩa -Không gì được tạo dựng không có Ngài,những gìđã được tạo dựng có sự sống trong Ngài.


Hoặc:

- Không cónhững gìđược tạo dựng đã được làm không có Ngài; trong Ngài là sự sống.

Và nếu chúng ta đọc Kinh thánh trong ngôn ngữ nguyên thủy, chúng ta sẽ gặp nhiều trường hợp tương tự.


Bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị, và lịch sử


Sách Kinh thánh, cũng như các tác phẩm khác của con người, được soạn thảo và viết trong một môi trường xã hội, văn hoá, chính trị và tôn giáo rất khác với đất nước con người và xã hội của Việt Nam, tuy chúng ta cũng như Đức Kitô đều là người Á châu. Chúng ta cũng có lẽ cảm thấy xa lạ khi nghe đến những từ ngữ như tộc trưởng, chế độ đa thê, các hy tế trên đồi cao hay trong đền thánh, hoặc những lễ lạc hội hè tôn giáo như lễ lều,yomKippour(ngày đại xá), và các đồngdrachme, đơn vị tiền tệ thời đó của dân Thiên Chúa.


Trong Kinh thánh, nhất là Cựu ước cũng chính là sách lịch sử Do thái, chúng ta đi vào một chiều dày lịch sử trải dài qua nhiều thế hệ dân tộc, các vương quốc, đế quốc, những nền văn minh lớn, khác biệt và phong phú như Ba tư (Perses), Babylon, Ai cập, Sirya, Hy lạp và La mã.


Như thế, muốn hiểu rõ ý nghĩa Kinh thánh, chúng ta được mời gọi và làm quen với đất nước và dân tộc Thiên Chúa. Công việc này cũng nói lên được tình yêu của chúng ta dành cho lời của Thiên Chúa. Học biết những dữ kiện văn hóa và lịch sử này cũng giống như học một ngôn ngữ ngoại quốc, cần có lòng yêu mến, tôn trọng và nhiều cố gắng.


Việc đầu tiên là chúng ta cần biết là địa lý và lịch sử. Chúng ta không thể đọc và hiểu những sấm ngôn của ngôn sứ Giêrêmia hay của Edêkiên nếu trước mắt chúng ta không hiện ra tấm bản đồ của miền Cận Đông thời cổ và hiểu biết về các dân tộc hay bộ tộc Nếu chúng ta mở Kinh thánh, mà xem thường việc học hỏi lịch sử và văn hóa này, chúng ta sẽ chạm trán và sẽ có những nhận thức sai trái về lời của Thiên Chúa. Văn hóa là sự kết tụ, diễn đạt và tổng hợp của con người thể hiện qua lời nói, văn chương, phong tục tập quán và nghi lễ tôn giáo liên quan đến cuộc sống thường ngày. Học biết những dữ kiện này được nói đến trong Kinh thánh như Assyria, Mô áp, hoặc Ê đôm.


Hiểu biếtmôi trường sống Kinh thánhmang lại cho chúng ta nhiều lợi điểm và tránh những diễn giải sai lạc Kinh thánh.

-Soi sángcho chúng ta về những thực tại nhắc đến trong các bản văn Kinh thánh, và đưa trí óc chúng ta ra khỏi u tối và thiển cận khi thiếu hiểu biết.

Chẳng hạn, trong đoạn văn:"Bà Ra khen và Lêa trả lời ông rằng: ‘Nào chúng tôi còn được chung phần và hưởngcơ nghiệptrong nhà cha chúng tôi nữa đâu? Chúng tôi chẳng bị cha coi là người xa lạ đó sao? Vì cha đãbán chúng tôi đi, lại cònnuốt ngon tiền bạccủachúng tôi. Vâng, tất cả tài sản Thiên Chúa đã lấy của cha chúng tôi thì thuộc về chúng ta và con cái chúng ta.Giờ đây mọi điều Thiên Chúa đã phán với ông, ông cứ làm’"(St  31,14-16).


Muốn hiểu thông suốt đoạn văn này, chúng ta cần biết tục lệ trao của hồi môn trong phong tục và lề luật Do thái (tục này cũng có trong nhiều dân tộc khác, với những tập quán cá biệt). Cha của cô dâu tương lai không giữ trọn của hồi môn được trao bởi nhà trai qua tay chàng rể tương lai, và sau đó ông cho lại con gái mình một phần hay trọn vẹn lúc đám cưới. Của hồi môn được trao cho cha của cô dâu, nhưng thực ra là để dành cho cô dâu trong lúc gặp hoạn nạn, chẳng hạn như chồng mất, không có gì để sống. Chính vì lý do này mà hai cô Ra khen và Lêa đã trách cha mình là ông La bân, đã không tuân thủ theo phong tục và lề luật truyền thống và đã nuốt trọn của hồi môn trao bởi Gia cóp. Như thế, các cô này sẽ không còn gì khi lâm hoạn nạn.


- Chúng ta có một diễn giải tinh tế và thông minh hơn.


Chẳng hạn, trong các bản văn Mt 25,14-30 và Lc 19,12-27, dụ ngôn những yến bạc (talents), nếu không biết về tiền bạc và kinh tế thời đó làm sao hình dung được sự quảng đại to lớn và sự tín cẩn của Thiên Chúa đối với con người?

Một ví dụ khác, trong phép lạ làm sống lại ông Lazarô (Ga 11,1-46), chúng ta sẽ không hiểu tại sao Đức Kitô phải chờ đến bốn ngày mới đi đến Betania để cứu sống ông Lazarô. Vì trong phong tục dân Do thái, phải chờ ba ngày mới xác định được người đó chết thật.


- Giúp chúng ta tránh sai lạc ngược nghĩa.


Chẳng hạn khi đọc"Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa"(Lc 18,25), có nhiều giải thích sai lầm (để lên cả trên mạng Internet) cho rằnglỗ kimlà tên gọi của một cửa thành Giêrusalem, quá nhỏ và thấp đến nỗi lạc đà khó mà chui qua lọt. Nhưng trên thực tế, đến bây giờ chẳng một chuyên gia khảo cổ nào đã chứng minh được tên gọi đó. Chỉ là một suy đoán theo trí tuệ. Nhưng nếu chúng ta biết cách nói ngoa ngữ của văn hóa bình dân và ca dao khôn ngoan thời đó, lối nói ngoa ngữ này có tác dụng làm rõ hơn sự thật khó nắm bắt của Thiên Chúa. Có những chuyện mà con người nghĩ không tới, vì một phần sự thật là người bám theo sự giàu sang và của cải thì làm sao đến với kho tàng nước trời, nhưng theo tình yêu và lòng tin cậy của Thiên Chúa, thì tất cả đểu có thể xảy ra. Vả lại, Đức Kitô cũng đã nói sau đó:"Những gì không thể được đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa"(Lc 18,27, hoặc 1,37).


Như đã nhắc đến nhiều lần, Cựu ước là lịch sử dân Thiên Chúa, vì thế khi đọc các bản văn Kinh thánh chúng ta nên tìm lồng nó vào trongbối cảnh lịch sửthực thụ. Chúng ta sẽ không nắm bắt rõ những câu chuyện của các vị phán quan, chiến thắng Đavít chống lại Gôliát hay sự khôn ngoan của Salomon, nếu thiếu hiểu biết về lịch sử của đất nước này.


Trong Tân ước, nhiều nhân vật có liên quan trực tiếp đến lịch sử như hoàng đế Cêza, vua Hêrôdê, quan toàn quyền La mã Philatô,...


Nếu chúng ta hiểu được các chế độ phong kiến thời đó, chúng ta sẽ hiểu tinh tế hơn về các bài giảng của Đức Kitô về cung điện Thiên Chúa, về vương quốc nước Trời,...


Khao khảo cổ học cũng góp phần vào việc xác định một vài điểm liên quan đến lịch sử. Với những xác định đó, chúng ta có thể biết đúng hơn về bản văn gốc và tại sao trong truyền thống, một vài yếu tố bị sửa đổi.


Trong lời chào của thánh Phaolô trong thư ngài gởi cho tín hữu Roma, có tên của một người phụ nữ, Junia, đã sửa thành Junias sau này:"Xin gởi lời chào Anđrônicô vàGiunia, đồng bào của tôi cùng là bạn tù của tôi, họ là những người trổi trang trong hàng các Tông đồ, và đã thuộc về Ðức Kitô trước tôi"(Rm 16,7). Bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã chọn đúng với tên Giunia, tên một người phụ nữ. Nhờ việc khám phá ra những tờ hợp đồng về đám cưới và những biên nhận buôn bán thời La mã, người ta nhận ra rằng không bao giờ có tên giống đực Junias như một vài bản thảo đã có. Vào thời đó, tên Junia, tên của đàn bà con gái khá phổ biến. Trong các ban viết của các thánh giáo phụ, (chẳng hạn như thánh Chrysostome, thế kỷ thứ IV), vẫn còn giữ tên Junia. Nhưng khi đến thế kỷ XIII, vì thấy có tên một người phụ nữ được thánh Phaolô gọi là Tông đồ, không hợp với quan điểm Giáo hội thời đó, nên họ đã sửa thành ông Junias.


Nói tóm lại, bỏ thời gian để tìm kiếm sách vở nói về các bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử có liên quan đến Kinh thánh không những là điều kiện thiết yếu để hiểu Kinh thánh, một lời mời gọi, nhưng đó cũng là một cơ may như một quà tặng cho chúng ta: cho chúng ta thông thái và khôn ngoan hơn để khỏi lạc lối, cho ta làm quen với dân Thiên Chúa, và nhất là cho ta thấy những nét đẹp văn hóa của loài người thời cổ đại.


Chú giải một bản văn Kinh thánh


Đọc Kinh thánh, chia sẻ với các tín hữu khác, và ghi lại những gì mà Thiên Chúa muốn nói cho riêng mình và cho thế giới đã là một lối sống đức tin tốt. Nhưng chúng ta cũng có thể đi xa hơn với lời Thiên Chúa khi sẵn sàng nghiên cứu, suy nghĩ và soạn thảo những bài viết nghiêm túc và có ý nghĩa. Đức Giáo hoàng Phanxicô khuyên các linh mục nên dành thời gian soạn thảo các bài giảng. Trong quá trình học hỏi, các sinh viên thần học phải làm vài luận văn nghiên cứu Kinh thánh, một công việc chuyên cần vất vả, cần có được nhiều hiểu biết nhưng với tấm lòng khiêm tốn, và trong tinh thần cầu nguyện với sự trợ giúp của Thánh Linh. Các giảng viên, dù rất bận bịu với nhiều công việc khác, vẫn luôn trau dồi kiến thức của mình với những bài viết có ý nghĩa.


Mỗi người, tùy hoàn cảnh và mục đích nhắm tới, chọn cho mình một đoạn văn, một câu, hay một chủ đề Kinh thánh để làm việc và soạn thảo một luận văn thích đáng.


Nên phân biệt và tránh ba nhầm lẫn nguy hại khi làm chú giải cho luận văn Kinh thánh. Chú giải không phải là một bài giảng ngày chủ nhật. Luận văn được xây dựng trên một nghiên cứu và tìm tòi khá phức tạp. Không nên chú giải bằng cách tâm lý hoá các dữ kiện và nhân vật theo tình cảm hỷ nộ ái ố của chính mình. Tránh việc lấp đầy khoảng trống bằng cách diễn tả lại những gì tác giả viết, hoặc nói nhiều nhưng thiếu ý.


Các điểm được đề cập tiếp theo sau đây không ngoài mục đích hướng dẫn một cách nào chúng ta công việc này. Nhưng nhớ rằng, các chỉ dẫn này có tính cách tương đối và dựa trên những kinh nghiệm chủ quan, lệ thuộc vào cách làm việc theo phương pháp của các tác giả Âu châu và phương cách đào tạo của một số phân khoa thần học tại Pháp.


Khách quan tính


Nguyên tắc đầu tiên trong chú giải là có trách nhiệm đối với những gì chúng ta diễn đạt và xác định. Tất cả đều dựa trên các biện luận dẫn chứng của chính mình. Một khẳng định không dẫn chứng là bằng chứng một cuộc tìm kiếm thiếu nghiêm túc và một suy đoán chủ quan, không hợp sự thật. Chúng ta nhắc lại ở đây hai khái niệm căn bản tương quan chặt chẽ với nhau:


- Khi nói đến chú giải, người ta nghĩ ngay đến phương pháp sử quan Kinh thánh, phương pháp muốn tìm đến ý nghĩa gần nhất của tác giả bản văn, nhờ việc nghiên cứu hình thức, cơ cấu, văn loại, các nguồn ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp trên bản văn, và những gì mà bản văn cho chúng ta thấy.


- Thông diễn học, như chúng ta cũng đã bàn đến trong chương ba, là đường hướng diễn giải Thần học và Kinh thánh, liên kết và phát xuất từ chú giải, có mục đích tìm hiểu tại sao và trong chiều kích nào thông điệp Kinh thánh còn có giá trị và hiệu lực đối với chúng ta và đâu là Thánh ý Thiên Chúa nói với chúng ta trong thời đại này. Và như thế chúng ta hiểu rằng, Kinh thánh đã trả lời một cách khác nhau cho mỗi thế hệ con người sống trong lịch sử, tuỳ theo các vần đề và những đợi chờ của họ trong lĩnh vực đức tin và tôn giáo.

Một chú giải Kinh thánh không chú trọng đến sứ điệp thích hợp và dễ nắm bắt sẽ trở thành một thứ khoa học "vô sinh" và "phù hoa". Ngược lại, nếu thông diễn không dựa trên nền tảng một chú giải nghiêm túc, có tính cách khoa học và khách quan, sẽ là một thứ diễn giải theo cảm nhận và tùy tiện.


Khoa học tính


Trước tiên, cố gắng đọc bản văn trong ngôn ngữ gốc, Hy lạp hay Hêbrơ và sau đó dịch thuật nó. Nếu chúng ta tuyệt đối không có khả năng đọc bản ngôn ngữ gốc, hãy cố gắng đọc và so sánh nhiều bản dịch khác nhau, có bản dịch khá trung thành với bản gốc, và cũng có những bản dịch chú trọng về sứ điệp diễn đạt trong một ngôn ngữ thích ứng với sự hiểu biết của người sống trong thời đại này. Như chúng ta đã nói, đọc Kinh thánh và cầu nguyện, hay dành thật nhiều thời gian để lời Chúa soi sáng cho chúng ta.


- Kế đến, tìm kiếm và ghi lại các yếu tố hay các dấu chỉ cần thiết cho việc nghiên cứu văn chương và các bối cảnh của bản văn như đã đề cập trên đây trong chương này.


- Cuối cùng, tìm và đặt vấn đề chính yếu của bản văn là điều kiện không thể thiếu cho việc nghiên cứu Kinh thánh. Các sinh viên nghiên cứu sinh thường ít khi hiểu thấu đáo công việc này và hay lẫn lộn việc tìm kiếm một chủ đề với việc đặt lại vấn đề chính yếu của bản văn, vấn đề Thánh ý của lời Thiên Chúa còn ẩn chứa dưới bản văn. Chúng ta không thể dừng lại ở mức độ quan sát, kể lại hay nghe theo một tác giả nào đó, nhưng phải cố gắng tìm thấy một câu hỏi có chiều sâu dẫn đưa chúng ta đến ý nghĩa mà chúng ta đang tìm.


Dĩ nhiên, nhiều lĩnh vực trong Kinh thánh đặt cho chúng ta nhiều câu hỏi: văn chương, xã hội, luân lý, chính trị, triết học, thần học. Nhưng cuối cùng là chúng ta hãy đặt câu hỏi của chúng ta trên nền tảng thần học, và vì đó là mặc khải của Thiên Chúa.


Khi tìm ra được câu hỏi chủ chốt và vấn đề thích đáng có ý nghĩa sâu sắc trong bản văn Kinh thánh, chúng ta bắt đầu tìm kiếm một thư mục tương ứng với vấn đề ta đang tìm hiểu và nghiên cứu. Hãy đọc các tác giả có tầm vóc và bàn cãi với những gì học viết và so sánh tìm hiểu tư tưởng và cách thức họ khi viết về vấn đề đó, để họ có thể soi sáng cho vấn đề ta đang tìm.


Vấn đề được đặt ra sẽ bắt chúng ta tìm những câu trả lời có biện chứng. Có nghĩa là, chúng ta phải cố gắng tìm ra các lập luận thật vững chắc, các dẫn chứng theo phương pháp, và các khẳng định không thể chối cãi được. Phải biết lập luận, vì chú giải và thông diễn chính là vấn đề lý luận.


Chú thích:

[159] Trong bản dịch  Kinh thánh của nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, không có giữ lại chú thích này.

[160] Valérie DUVAL-POUJOL, "5ème clé, le sens des mots", trong 10 clés pour comprendre la Bible, http://www.relation-aide.com/art_description.php?id=326&cat=25, tham khảo ngày 27/03/2015.


Phương cách lập luận Kinh thánh.


- Ưu tiên cho những luận chứng văn dựa trên các dấu chỉ văn học và ngôn ngữ học trong bản văn nghiên cứu hay trong một bản văn có liên quan: từ ngữ, gốc chữ, lối cách văn phạm.

- Luận chứng đến trực tiếp từ bản văn có giá trị thuyết phục rất tốt, hơn luận chứng đến từ bên ngoài. Một luận chứng lấy ra từ một bối cảnh tương ứng sẽ có giá trị thuyết phục hơn luận chứng đến từ một bối cảnh khác.

- Đơn giản và trong sáng là ưu điểm của luận chứng. Nếu phức tạp hóa vấn đề, luận chứng trở nên khó hiểu và không thuyết phục.

- Phải biết ước lượng cấp độ quan trọng và giới hạn của luận chứng mình đang dùng. Một ngạn ngữ Á châu có câu"giết gà không cần đến dao mổ trâu". Chẳng hạn, không cần những lý thuyết cao siêu, phức tạp để minh chứng cho một vấn đề cụ thể. Hoặc một luận chứng có tính cách pháp lý có ý nghĩa trong một bối cản pháp lý, nhưng trong một bối cảnh khác, ý nghĩa này không chắc chắn cho lắm.


Nói tóm lại, chúng ta cố gắng hệ thống hóa việc nghiên cứu bản văn Kinh thánh dựa trên ba từ ngữ nghi vấn sau đây: Cái gì? Thế nào? Tại sao?


Hệ thống hóa


Cái gì?Quan sát là giai đoạn thứ nhất của chú giải. Những yếu tố cơ bản của cấu trúc hình thức và nội dung của bản văn là gì? Bản chất của chúng là gì? Hãy ghi chép lại các tương đồng và đối nghịch, các yếu tố chủ thể của cấu trúc, từ ngữ ẩn dụ, ngoại lệ hay khác biệt đối với các nguyên tắc đã biết hay các ước lệ. Nói cụ thể hơn, chúng ta làm hai quan sát sau đây:


- Quan sát văn chương (đồng đại, synchronique)


* chú ý đến các dấu chỉ văn phong: từ nối kết (các liên từ), thì và thể của các động từ, các lối chơi chữ trong đại từ, sự lập lại từ ngữ hay lối diễn đạt, từ khóa hay lối diễn đạt cốt yếu, các tương song (parallélisme, alterné, concentrique, chiasme,...)


* chú ý đến các dấu chỉ kịch tính hay thi ca: các thay đổi nơi chốn, thời gian, nhân vật, cử tọa, hình ảnh, tiến trình hành động và tư tưởng... Chúng ta có thể sử dụng các phương pháp phân tích văn chương đã nói đến trong chương 3: tiếp cận thuật chuyện, tu từ học, kí hiệu học, ...)


- Quan sát lịch sử (lịch đại, diachronique)(nằm trong phương pháp phê phán sử quan)


* chúng ta cố gắng phê phán vấn đề biên soạn của bản văn. Có những căng thẳng, những điều thiếu mạch lạc, rời rạc hay chắp nối, đối ngữ (doublets), các thô thiển, làm chúng ta nghĩ rằng bản văn đã được soạn thảo hay sửa chửa nhiều lần bởi những truyền thống khác nhau.


* Văn loại của bản văn là gì? Nó được soạn thảo theo một mô thức hay dựa vào một hình thức được biết đến vào thời đó. Chúng ta có thể so sánh chúng với những bản văn Kinh thánh khác?


* Có thể so sánh các bản văn Kinh thánh với các bản văn cổ điển miền Cận Đông (dành cho Cựu ước) hoặc với văn chương Hy lạp-La mã (dành cho Tân ước)?


* Khi phân biệt đến thời gian của bản văn và thời gian của tác giả, làm thế nào để có thể định vị tác bản văn trong lịch sử? Chúng ta rút ra được tình huống gì hay diễn biến gì của dân Ítraen hay của Kitô giáo ở thế kỷ thứ nhất?


Thế nào?Sắp xếp, tổ chức và hệ thống các dữ kiện là giai đoạn thứ hai của chú giải. Suy nghĩ và quyết định các quy tắc tổ chức các dữ kiện có hệ thống theo lối cách thuyết phục của riêng mình. Các dữ kiện phải tuân theo một quy luật sắp xếp rõ ràng, mạch lạc và có thể kiểm chứng được. Chúng ta cũng có thể theo hệ thống tổ chức của tác giả.


Tại sao?Tiêu hóa các luận chứng tìm thấy và tổng hợp hóa chúng thành tư duy của mình là giai đoạn thứ ba(synthétiser, từ cơ bản của luận văn). Điều quan trọng là trả lời được câu hỏi hay giả thuyết thần học của chúng ta qua bản văn. Sứ điệp chính của bản văn? Thánh ý của Thiên Chúa? Và nhất là phải tập từ bỏ ý tường là mình sẽ nói hết hay đề cập đến tất cả mọi vấn đề của bản văn. Lựa chọn một con đường tư duy đúng đắn cho chính mình là một học hỏi lớn trong việc chú giải Kinh thánh.


Cập nhật hóa

Vấn đề này  tương quan chặt chẽ với Thông diễn học.


- Nếu Kinh thánh chính là lời của Thiên Chúa nuôi sống và hướng dẫn đời sống chúng ta, làm sao để xác định một cách cụ thể và chính xác những gì mà Thiên Chúa muốn nói cho chúng ta? Việc cập nhật hóa một cách kính trọng ý nghĩa tìm thấy trong các bản văn Kinh thánh trên phương diện cá nhân sẽ đưa chúng ta đến một đức tin nhất quán hơn trong con người, cuộc sống và hành động, để chúng ta cũng có được một tình yêu lành mạnh và quân bình đối với Thiên Chúa và các anh em đồng loại khác. Và trên phương diện cộng đoàn, luật Kinh thánh giúp Giáo hội đi con đường Tin Mừng của Đức Kitô đã đi trước.


- Vì chưa có một phương pháp cụ thể dành cho việc cập nhật hóa đáng tin cậy, việc đầu tiên là tránh những "khẩu hiệu" (slogan, relativisme) như nguyên tắc điều khiển cuộc sống Kitô hữu, thiếu kiểm nghiệm và không biết các ý nghĩa đó có thực sự hòa hợp và đúng với tư tưởng của Đấng Sáng tạo và Đấng Cứu chuộc của chúng ta là Chúa Giêsu. Nguyên tắc đầu tiên của việc cập nhật hóa lời Thiên Chúa chính là sự thích ứng với đời sống Tin Mừng.


- Việc cập nhật hóa ý nghĩa Kinh thánh trong đời sống tuy là cần thiết nhưng không phải là một vấn đề đơn giản và dễ dàng. Chúng ta thường gặp ba khó khăn sau đây:


* Sự cách biệt văn hóa và xã hội giữa bản văn Kinh thánh và chúng ta là một trong những khó khăn lớn cho người đọc hôm nay. Philippe hỏi người quan chức ethiôpi đang đọc Kinh thánh, trong sách Công Vụ Tông Đồ rằng: "Ngài có hiểu điều ngài đọc không?" Và người quan chức trả lời:"Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải?"(Cv 8,30-31). Đương nhiên chúng ta có những người đi trước, những nhà chú giải và diễn giải, đã giúp cho chúng ta, nhưng động từodêgeôHy lạp, có nghĩa là dẫn dắt, hỗ trợ một ai đó để cung cấp cho họ những thông tin còn thiếu, được áp dụng cho hành động của Thánh Thần Thiên Chúa. Như thế, người hướng dẫn chúng ta trong việc cập nhật hóa lời thiêng chính là Ngôi Ba. Thánh Gioan nói:"Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn, Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng nghe gì, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ đến"(Ga 16,13).


 * Những khó khăn thứ hai phát xuất bởi cái nhìn thiếu khách quan của chúng ta. Khoa Thông diễn học hiện đại sẽ giúp chúng ta vượt qua khó khăn này. Chúng ta phải ý thức rằng, thế giới quan và thiên kiến chúng ta sẽ ảnh hưởng đến việc diễn giải Kinh thánh. Nhưng chính Kinh thánh sẽ đến chất vấn chúng ta trong cách chúng ta nhìn và hiểu thế giới, và đưa chúng ta đến một cái nhìn mới của bản văn và cứ như thế tiếp diễn. Việc đối thoại qua lại tạo thành quỹ đạo của Thông diễn học.


* Những khó khăn thứ ba là không có các quy luật phổ  quát cập nhật lời Thiên Chúa. Một đôi khi, chúng ta thấy một vài tác giả Kinh thánh bắt lấy cho mình một vài bản văn, lề luật, sấm truyền đã có trước, và áp dụng và đọc lại trong bối cảnh của họ, nhưng chúng ta cũng chẳng rút tỉa ra được phuơng pháp nào cả.


- Tuy khó, nhưng nếu chúng ta thực sự muốn lời Thiên Chúa nuôi sống chúng ta, hãy cố gắng tìm thánh ý của Ngài cho hiện tại qua 3 tiêu  chuẩn gợi ý sau đây:


* Động lực cốt yếu chính là tình yêu: quy tắc cập nhật mà chúng ta đề nghị trong khi đọc Kinh thánh không bao giờ trái ngược với quy luật tình yêu của Đức Kitô và sự tự do tuyệt đối của Ngài. Điều chúng ta rút tỉa từ lời Thiên Chúa cho hôm nay có đúng với ý nghĩa tình yêu tuyệt đối của Đức Kitô hay không? Việc cập nhật hóa có giúp chúng ta thăng tiến trong tình yêu dành cho Thiên Chúa, cho anh em và cho cả chính chúng ta hay không?


* Hoàn cảnh và tình huống chính là tiêu  chuẩn chính của việc cập nhật hóa lời Thiên Chúa. Đâu là chiều kích sâu thẳm ẩn chứa dưới văn hóa xã hội Kinh thánh, cũng là nền tảng cho thế giới chúng ta ngày hôm nay? Cái gì là đặc tính của nền văn hóa chúng ta? Điều gì lời Thiên Chúa có thể mang lại sự sống và điều thiện hảo trong thế giới hiện đại này? Bản văn Kinh thánh, như là những bản nhạc của Thiên Chúa, các ngôn sứ, Đức Kitô, các tông đồ, và những kẻ đã tin vào Ngài, chính là những nghệ sĩ diễn đạt bản "tình ca" thánh đó.


* Tiêu  chuẩn thứ ba của việc cập nhật hóa lời Thiên Chúa là việc ước đoán và đo lường các hệ quả có thể xảy ra. Điều chúng ta diễn giải không tổn hại đến con người, không là nguyên nhân trực tiếp của bạo lực và uy quyền, và cũng khống cổ võ cho các tư tưởng thoái hóa.

Nói tóm lại, vấn đề cập nhật hóa Kinh thánh chính là ước muốn đem sự thật lời Thiên Chúa nhập thể trong cuộc sống.


Giảng dạy Kinh thánh


Mỗi người trong chúng ta ai cũng có thể đọc Kinh thánh, nhưng muốn nghiên cứu sâu hơn về lời Thiên Chúa chúng ta cần đến các  giảng viên, những người được Giáo hội sai họ học hỏi chuyên sâu hơn trong lĩnh vực thần học và khoa Kinh thánh, để có thể phục vụ Giáo hội trong việc đào tạo các linh mục tương lai, các giảng viên giáo lý, các giáo dân dấn thân tích cực vào các chương trình mục vụ của Giáo hội.


Mỗi giảng viên hay giáo sư Kinh thánh, tự tìm lấy và soạn thảo giáo trình nội dung, và nhất là chọn cho chính mình một con đường sư phạm thích nghi với các học viên của mình.


Nói như thế, để hiểu rằng, những gì được viết trong phân đoạn này không nhằm mục đích cho bài học về cách giảng dạy Kinh thánh, nhưng chỉ là những nguyên tắc tổng quát và khách quan của việc giảng dạy Kinh thánh.


Trong lĩnh vực giảng dạy, giảng viên, còn được gọi là "thầy", là người dẫn dắt một cách tiệm tiến các "học viên" đạt đến ý nghĩa lời của Thiên Chúa, và luôn theo dỏi khả năng tiếp nhận và hiểu biết của họ trong quá trình học tập. Giảng dạy không có nghĩa là điều khiển và ảnh hưởng học viên theo ý mình, nhưng hãy nhường chỗ cho tác động của Thánh Linh. Người giảng dạy được ví như một "mục tử" (berger) dẫn dắt đoàn chiên của mình đến đồng cỏ tươi mát và trù phú, theo bước chân của mục tử tối cao, chính là đức Giêsu Kitô, trong sự trung thành tuyệt đối vào mặc khải của Chúa Cha.


Thế nào là giảng dạy theo Kinh thánh?


Động từ Hy lạp "didaskw", có nghĩa là "giảng dạy" được dùng khoảng 192 lần trong Kinh thánh, và chủ từ thường là người được Thiên Chúa sai đi giảng dạy cho dân chúng hoặc chính Thiên Chúa trong Cựu ước  và  chúa Giêsu trong Tân ước. Ví dụ:


"Giờ đây, hỡi Ítraen, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôidạycho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em"( Đnl 4,1).


"Lạy Chúa, trái đất tràn đầy tình thương Chúa, thánh chỉ Ngài, xindạycho con" (Tv 119/118, 64).


"Ban ngày, Ðức Giêsugiảng dạytrong Ðền Thờ; nhưng đến tối, Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Ôliu.  Sáng sớm, toàn dân đến với Người trong Ðền Thờ để nghe Ngườigiảng dạy" (Lc 21,37-38).


Khi nói đến việc giảng dạy, chúng ta nên phân biệt với việc rao giảng hay tuyên bố Tin Mừng, việc với tính cách "ngôn sứ", chức năng của những người được sai đi mang lời Thiên Chúa chất vấn con người về đức tin, công lý và hành vi của họ. Hãy so sánh các đoạn văn sau đây, chúng ta sẽ dể dàng nhận ra sự khác biệt giữa việc "học hỏi và nghiên cứu" Kinh thánh và việc "rao giảng Tin Mừng" (Cv 8,30-39 và Cv 2,14-36; Lc 24,27. 32 và Lc 4,16-21; Gr 7,2-4 và Gl 3,6-11).


Trong Tân ước, ngoài động từ giảng dạy, còn có những động từ khác diễn tả việc giảng dạy và học hỏi Kinh thánh. Đức Giêsu Kitô, suốt cuộc đời của Ngài dành cho việc đào tạo các môn đệ, và nhất là trong việc hiểu được lời của Thiên Chúa.


"Bấy giờ, Ðức Giêsu bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: ‘Xin Thầygiải nghĩadụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe’"(Mt 13,36). Động từ  dùng ở đây "diasafew", có nghĩa là giải thích, nói rõ chi tiết, cũng được thấy nơi Lc 24,27, trong bối cảnh hai môn đệ trên đường Emmau"Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh."


Chúng ta cũng đã có dịp nhắc đến câu chuyện giữa Philípphê với người quan thái giám người Ethiôpi: Philípphê"hỏi: "Ngài có hiểu điều ngài đọc không?" Ông quan đáp: "Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có ngườidẫn giải?" Rồi ông mời ông Philípphê lên ngồi với mình"(Cv 8,31).


Đương nhiên vẫn còn thật nhiều ví dụ khác trong Kinh thánh, nói lên vai trò quan trọng của giảng dạy Kinh thánh. Trong sách Công vụ Tông đồ, khi thánh Luca diễn tả bốn điều kiên trì, siêng năng chăm chỉ nói lên đặc tính của những Kitô hữu, ngài đặt lên hàng đầu việc học hỏi Kinh thánh:


"Họ chuyên cần nghe các Tông Ðồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Ðồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Ðền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ"(Cv 2,42-47).


Chuẩn bị tâm hồn, trí thức và soạn thảo


Các giáo sư đều phải cống hiến thời gian cho việc soạn thảo giáo trình. Ở Âu châu, giảng dạy một giờ ở đại học, đòi hỏi 20 giờ  chuẩn bị. Giảng dạy Kinh thánh cần nhiều thời gian hơn thế nữa, vì không chỉ soạn thảo giáo trình mà còn phải  chuẩn bị chính con người của mình để lắng nghe lời Thiên Chúa. Nếu không, lời giảng dạy sẽ sớm bị nhận ra là hời hợt và thiếu ý nghĩa.


-Khiêm tốn trong tâm hồn:trước tiên hãy ý thức rằng, những gì ta sẽ học, khám phá và sẽ truyền đạt cho các học viên, có thể gắn liền với những suy tư chủ quan phát xuất từ lý luận con người của chúng ta. Nhà ngôn ngữ học Eugène Nida[161]kể lại nhiều trường hợp vì có những thiên kiến ý thức hay vô thức, có thể đưa người giảng giải đến những chú giải đi rất xa với những gì đã muốn diễn đạt. Ví dụtrong một trường học ở Phi Châu, người hiệu trưởng được báo cáo rằng học sinh thường thúc khuya và trở nên mệt mỏi trong các buổi học. Ban chấp hành quyết định cúp tất cả đèn điện sau 22 giờ. Các học sinh trung học trú cho rằng, vì nhà trường muốn tiết kiệm năng lượng nên cúp điện và mỗi người tự sắm lấy cho mình một đèn bão để tiếp tục đọc sách và không đi ngủ.Qua câu chuyện này, chúng ta thấy, nếu khống cố gắng tìm hiểu một cách khách quan và thiện chí, chúng ta có thể có những diễn giải rất sai.


Chúng ta hãy dành lấy thời gian, tự đặt (lấy) mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh để suy nghĩ và xem xét một vấn đề trước khi chú giải.


- Thứ đến chúng ta hãy học hỏi các nguyên tắc Thông diễn học và cố gắng vận dụng ý thức khách quan hơn là vô thức và cảm tính để chú giải Kinh thánh. Sau đây là 7 chìa khóa giúp ta giữ vững một cách nào đó tính khách quan của Kinh thánh:


1) Tôn trọng thẩm quyền và sự trong sáng của Kinh thánh.

2) Dùng Kinh thánh giải thích Kinh thánh.

3) Học biết tính cách lịch sử và văn phạm của bản văn.

4) Nắm vững các tiếp cận "đồng đại" (synchronique).

5) Ý thức tính cách tiệm tiến và lịch sử của mặc khải.

6) Chú ý tính cách Kitô học của Kinh thánh.

7) Nên dùng nguyên tắc loại suy đức tin.


-Lương thiện trong tư duy: là một chứng tá trong việc  chuẩn bị tri thức. Vì chúng ta biết rằng, đó chính là nơi tác động và thể hiện của Thánh Thần, là suối nguồn của sự thật. Khi chúng ta ý thức được rằng mình đang sống trong một xã hội, chuộng hình thức, vật chất bên ngoài, và  không mấy tôn trọng bản quyền tri thức của tác giả, chúng ta thường bị cám dỗ bởi việc sao và chép lại cho mình các tài liệu trong mạng lưới internet. Ai cũng có quyền đọc và trích dẫn, trông nhờ sự giúp đỡ của một tác giả qua tác phẩm họ viết, nhưng đừng bao giờ quên nhắc đến họ theo nhiều cách, trong các ghi chú ở cuối trang, hoặc ngay trong cách dẫn chứng và bàn cãi trong bài chú giải của mình. Sau đây có thể gọi là ba tiêu  chuẩn của tư duy Kinh thánh:

- Ước muốn đi tìm sự thật của lời Thiên Chúa.

- Ý thức và chấp nhận giới hạn của lý trí mình.

- Đối thoại với tư tưởng người khác.

 Một minh chứng sự lương thiện tri thức nằm trong việc soạn thảo mà kết quả là giáo trình trước khi giảng dạy.

- Nghiêm túc soạn thảo: các đề nghị đưa ra ở đây không mang tính cách phương pháp kinh điển dành cho việc chú giải Kinh thánh. Giảng viên nào, sau khi nắm bắt và làm chủ được một vài công cụ chú giải Kinh thánh, cũng có khả năng tìm cho mình một phương án làm việc thích hợp và có hiệu quả cho chính mình. 7 giai đoạn đề nghị sau đây chỉ có tính cách chia sẻ một kinh nghiệm và gợi ý.


1) Đọc và làm quen với các tác giả của bản văn và ý thức vai trò của Thánh Linh.

2) Minh chứng giới hạn của bản văn và vai trò của nó trong bối cảnh.

3) Tìm cấu trúc của bản văn và tìm hiểu văn loại của nó.

4) Xác định các từ khóa và vai trò của chúng.

5) Đặt bản văn trong bối cảnh xã hội và văn hóa.

6) Xác định các bản văn song song hoặc tương quan.

7) Soạn thảo bố cục bài chú giải theo các câu hỏi gợi ý sau đây: sứ điệp của tác giả dành cho các người nghe thời đó? Chúng ta biết gì về Thiên Chúa qua bản văn, về con người, về đức tin? Có một trật tự hay hệ thống trong ý nghĩa? Chú giải của chúng ta có tương đồng với mặc khải, với truyền thống, với Giáo hội ngày nay, và với các chú giải khác?


Bài soạn thảo của giảng viên không những có ích cho việc giảng dạy trong một lớp học, nhưng đó cũng là một kiến thức tốt cho lối học hỏi Kinh thánh theo nhóm.


Chú thích:

[161] Eugène A. NIDA, Coutumes et cultures, Anthropologie pour Missions Chrétiennes, Groupes Missionnaires, 1978, tr. 17-43.


Hội thảo theo nhóm (atelier hay séminaire)


Ngày nay, trong các đại học, hiện có một hình thức học hỏi và nghiên cứu theo nhóm hội thảo gọi là "atelier" dành cho các sinh viên cấp cử nhân, và "séminaire", cho các sinh viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh tiến sĩ.


Từ "séminaire", đến từ la ngữseminarium, bao hàm ý nghĩa nơi ương mầm, hạt giống, hay mầm sống. Trong Giáo hội Công giáo, từ ngữ được dịch khá sát nghĩa "chủng viện", nơi ươm trồng và đào tạo linh mục. Giới đại học dùng từ ngữ này mới đây để chỉ phương pháp học hỏi theo cách đối thoại kiểu Socrate. Một nhóm sinh viên từ 8 đến 12 người, được dẫn dắt bởi giáo sư của mình hay một giảng viên khác, chuyên môn về vấn đề hội thảo, gặp nhau hai tuần một lần, để bàn thảo và nghiên cứu với mục đích  chuẩn bị cho các luận văn tương lai của họ.


Mục đích đầu tiên của hội thảo theo nhóm làm cho các sinh viên làm quen với các phương pháp thích ứng cho chủ đề nghiên cứu của họ và tập cho họ tranh luận với các tư tưởng khác nhau được chia sẻ trong quá trình hội thảo. Giáo sư hướng dẫn cho họ trước những bản văn, bài báo hay sách có liên quan đến vấn đề, để các sinh viên đọc và suy nghĩ trước, sau đó họ sẽ đem ý tưởng của họ, ý tưởng có luận chứng, đến trao đổi và bàn bạc trong nhóm. Học hỏi theo lối hội thảo tương đối không theo một hình thức quy định trong giáo dục đại học so với hệ thống giáo trình hay các diễn thuyết đại học (conférence).


Đối với việc học hỏi Kinh thánh, hình thức "atelier" hay "séminaire" giúp các sinh viên học hỏi và thực hành trực tiếp các phương cách chú giải và diễn giải một bản văn Kinh thánh.


Giảng viên hay một chuyên gia Kinh thánh, suy nghĩ và đề nghị một chủ đề, tuỳ theo cấp độ học viên: họ có thể nhắm tới một vấn đề trong một cuốn sách thánh, hoặc qua một bản văn Kinh thánh, họ muốn các học viên tập làm quen với một phương pháp chú giải thích ứng. Họ cố gắng chọn một thư mục bao gồm một hay hai bài viết cơ bản và quan trọng, hoặc một chương đoạn trong một cuốn sách mà các học viên cần phải đọc, suy nghĩ và ghi lại trên giấy các tư tưởng, biện chứng và giả thiết trả lời của họ.


Trong buổi hội thảo, giảng viên là người quan sát, lắng nghe và dẫn dắt cuộc hội thoại theo trúng con đường sư phạm mong muốn và tránh đi lạc vấn đề.


Giảng viên là người luôn để ý nối kết tổng hợp các ý tưởng và những khám phá trong một hệ thống khá mạch lạc và ghi lại các câu hỏi còn lại, hệ quả của hội thoại.


Một trong những thành viên của hội thảo sẽ được giảng viên chỉ định ghi chép diễn tiến tư tưởng bàn cải, góp ý và soạn thảo thành một đúc kết cho lần hội thảo kế tiếp.


Trước khi kết luận, chúng ta có một phân biệt nhỏ giữ "atelier" (nơi chế tạo và sản xuất) và "séminaire". Trong các học nhóm theo phương pháp "atelier", chủ đề, mức độ tư duy thấp hơn lối hội thảo trong các "séminaire". Giảng viên sẽ hướng dẫn và dành nhiều thời gian giảng giải cho học viên, khác với việc bàn cãi tích cực đòi hỏi các sinh viên thạc sĩ hay nghiên cứu sinh tiến sĩ. Họ phải tập nắm lấy phần chủ động.


Nói một cách ngắn gọn, chúng ta có thể tóm tắt việc làm của giảng viên hay chuyên gia, người điều khiển và hướng dẫn các "séminaires" theo 7 lối diễn đạt sau đây:


1)  Chuẩn bị chủ đề và phương pháp sư phạm theo cấp độ học viên.

2) Tìm kiếm một bản văn Kinh thánh, cho một chủ đề thích ứng với việc học hỏi, và đưa ra một thư mục thích hợp.

3) Định và giới hạn các mục tiêu nhắm đến của nhóm hội thảo: chức năng định hướng và chức năng học tập.

4)  Chuẩn bị và tiên đoán trước các vấn đề và câu hỏi mà các học viên có thể gặp phải, các vấn đề gây sốc và nhạy cảm.

5) Soạn thảo một chương trình rõ ràng chi tiết, tiến triển và có lôgic của học hỏi.

6) Ghi chép chi tiết các bàn cãi và hiểu biết của việc hội thảo, cũng như các câu hỏi, và các nhận xét về mặt phương pháp và sư phạm.

7) Cuối cùng luôn làm tổng kết và kiểm điểm xem chúng ta đã đạt được mục đích và các mục tiêu nhắm đến hay không.


Thay lời kết, phương pháp học hỏi và nghiên cứu Kinh thánh theo lối cách hội thảo trong các "séminaire" có ít nhất ba lợi điễm sau đây:


- Về phương diện đức tin và ý nghĩa Kinh thánh, tư tưởng rất hay của thánh Augustinô, mà chúng ta cũng đã nhắc đến trong chương đầu -"Tôi ước ao có tất cả những dữ liệu đúng tìm ra bởi mỗi người vang vọng trong những gì tôi nói, hơn là ngồi đó với một ý nghĩa thật khi loại trừ những nghĩa khác, không có gì sai lạc để gây sốc cho tôi cả"[162]- sẽ là một chứng tá cho việc chia sẻ những khám phá ý nghĩa lời Thiên Chúa trong hội thảo theo nhóm. Học viên cũng có thể tìm thấy được ý nghĩa mà đôi khi giảng viên cũng không nghĩ đến. Và giảng viên sẽ đón nhận nó như một giàu có và sống động của lời thiêng, lời thật sự linh hứng bởi Thiên Chúa.


- Về phương diện tri thức, đó cũng chính là phương pháp học tập làm phát triển khả năng suy luận và rèn luyện trí óc chúng ta trước những đối lập hoặc lối nhìn khác trên một vấn đề. Cái nhìn và câu hỏi của người khác bắt trí óc mình phải suy nghi và sửa đổi và mở rộng quan điểm. Mỗi người chúng ta nhận ra được hạn hẹp của chính mình và tập đón nhận cái mới trong tư tưởng người khác. Ý tưởng của hai người thì thông minh hơn quan điểm một cá thể và đến gần hơn với sự thật.


- Về phương diện xã hội, người ta cần có những con người biết làm việc theo nhóm và mang lợi ích chung. Lời Thiên Chúa sẽ sống động và có ý nghĩa hơn khi được bàn thảo qua các con cái của Ngài. Lời đó qua hội thảo sẽ nối kết và nuôi sống chúng ta trong tình huynh đệ thực thụ, vì ý kiến đến từ người anh em của mình cũng là lời được Thánh Thần tác động và soi sáng.


Chúng ta ai cũng biết câu chuyện của vị tướng ngoại giáo Naaman, người đã được chữa lành bệnh cùi, nhờ tắm 7 lần trên sông suối thuộc nước dân Thiên Chúa. Nhưng điều đáng nhớ ở đây, là vị tướng này đã giận dữ và không nghe theo lời ngôn sứ Elisê, nhưng tâm hồn ông đã tỉnh thức nhờ lời khuyên của các đầy tớ của ông (2V 5,11-14).


Kết luận chương 4


1) Với một chương đoạn khá dài, gần 40 trang, chúng ta vừa trình bày trong quá trình suy nghĩ và đề nghị các giai đoạn sẽ phải đi qua trong việc học hỏi và giảng dạy Kinh thánh. Không dễ khi đứng trước một bản văn Kinh thánh: những người tín hữu Kitô giáo yêu mến tìm hiểu sâu xa hơn về Kinh thánh, các chủng sinh và sinh viên khao thần học, các nghiên cứu sinh khoa Kinh thánh, các giảng viên, giáo sư, chuyên gia...


Trong hầu hết các phân khoa thần học ở Âu châu, các giáo sư ít khi dạy trực tiếp các phương pháp. Đối với các sinh viên trong những năm cử nhân, các giáo sư đề cập đến các phương pháp chú giải qua thực hành trong các hội thảo theo nhóm (atelier). Đối với các nghiên cứu sinh, chính họ phải đọc nhiều sách vở và tìm ra cho mình các công cụ và phương pháp để chú giải Kinh thánh. Và đối với các giáo sư ở các trường đại học, không phải là với bằng cấp tiến sĩ chuyên môn về Kinh thánh, là mình có tất cả khả năng để hiểu hết Kinh thánh. Nghiên cứu Kinh thánh là quá trình của một đời người, và đến khi nhắm mắt, ước muốn của họ là gặp được Thiên Chúa để hỏi cho ra lẽ các điều còn huyền bí trong các bản văn.


Nói như thế, để hiểu rằng, những gì được viết ra nơi đây là một liều lĩnh, và sẽ có nhiều phê phán, về phần nội dung cũng như hình thức, nhưng nếu không có những sự liều lĩnh này, chúng ta vẫn nghe thấy một điệp khúc: hãy bày cho tôi một hay nhiều phương pháp để học hỏi và nghiên cứu Kinh thánh?


2) Đối với các giảng viên Kinh thánh, đào tạo, nhất là đào tạo trong Kinh thánh là một công việc đầy thú vị, hứng khởi, vì chúng ta truyền đạt những gì quý báu nhất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta: lời của Ngài. Hơn nữa, khi làm việc này, chúng ta luôn ý thức rằng rất may mắn có Thiên Chúa đồng hành, cố vấn và nâng đỡ chúng ta.


Nhưng công việc này cũng là một trách nhiệm quan trọng và lớn lao đối với đầu óc nhỏ hẹp của chúng ta. Thật là một trọng trách khi phải truyền tải và giải thích một cách đích thực và trung thành lời của Đấng Tối Cao, sáng tạo vũ trụ và cứu độ con người và là Cha của chúng ta.


Như chúng ta đã nói, giảng dạy không phải là một thuyết giảng tự phát, các giảng viên tự huấn luyện học hỏi và đào tạo mình trước đã, sau đó mới có thể truyền đạt cho học viên. Trong Kinh thánh, Thiên Chúa không cần học vị tiến sĩ, nhưng Ngài cần các con cái chuyên cần và siêng năng lắng nghe lời Ngài dạy bảo. Chúa Giêsu nói với Matta:"Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi"(Lc 10,42). Tuy không quan trọng học vị tiến sĩ, các giảng viên đừng bao giờ sao nhãng  việc trau dồi và mài chuốt các khí cụ để đọc Kinh thánh. Thánh Phaolô đã nói với ông Timôthê:"Hãy cố gắng ra trước mặt Thiên Chúa như một người đã được thử luyện, một người thợ không có gì phải xấu hổ, một người thẳng thắn dạy lời chân lý"(2Tm 2,15).


3) Nghe Chúa Giêsu nói như thế, chúng ta nghĩ ngay đến các anh chị em tín hữu Kitô giáo, họ cũng có quyền lắng nghe lời Cha mình. Các tín hữu Tin lành đọc trực tiếp hằng ngày Kinh thánh, còn đối với người Công giáo, các mục tử chỉ mới bắt đầu cổ võ việc đọc lời Thiên Chúa hăng ngày mà thôi. Và khoảng 50 năm trước đây, các mục tử Công giáo còn khuyên các tín hữu không nên tự đọc Kinh thánh, vì sợ họ hiểu sai đường lạc hướng. Thật là sốc khi nghe thấy điều này. Chúng ta nên nhớ rằng, chính lời Thiên Chúa dạy dỗ và mặc khải cho chúng ta, chứ không phải là chính chúng ta lấy lời Ngài để dạy cho người khác:"Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi"(Mt 10,24-25a). Nhưng Thiên Chúa đã lo liệu tất cả cho dân Ngài. Vì Lời thiêng không nằm im lặng trong sách nhưng còn được rao giảng sống động trong phụng vụ bí tích, cầu nguyện, hay linh hướng. Đó cũng chính là đề tài mà chúng ta sẽ bàn tới trong chương cuối của sách này.


Chú thích:

[162] "l’un défend une idée, un autre une autre idée ; pourquoi pas l’une et l’autre, si elles sont vraies, et pourquoi pas une troisième, une quatrième et tout autre si on peut les apercevoir ; pourquoi ne pas croire que Moïse les a toutes perçues … j’aimerais que toute donnée vraie saisie par chacun eut un écho dans mes paroles, plutôt que d’asseoir une seule idée vraie en excluant les autres où rien de faux ne me choquerait (theo cuốn  XII, 31/42).


5. Những nơi Lời Thiên Chúa thể hiện


"Kinh thánh trong cộng đoàn phụng vụ, như một con cá bơi trong nước"[163], câu nói thật có ý nghĩa của Marie Louis CHAUVET, mở đầu cho việc tìm hiểu Lời Thiên Chúa thể hiện và tác động thế nào trong cộng đoàn con cái Ngài. Philippe BÉGUERIE còn dám nói và lý luận minh chứng rằng "Kinh thánh được sinh ra từ Phụng vụ".[164]Như thế, tìm hiểu vai trò Kinh thánh trong phụng vụ là một điều cần thiết để nhận thấy vai trò sống động của Lời Thiên Chúa.


Nhưng lời của Ngài không chỉ được thể hiện qua phụng vụ mà thôi, tất cả đời sống Kitô hữu đã có cơ may được đồng hành và nâng đỡ bởi Kinh thánh. Trong những gặp gỡ linh hướng, linh mục và người được hướng dẫn thiêng liêng luôn bắt đầu bằng việc lắng nghe lời của Cha mình.


Có những cách thức cầu nguyện hoàn toàn với Kinh thánh, dưới hình thức Lectio divina. Ngôn từ này là một diễn đạt tiếng La tinh, dùng để chỉ một phương pháp cầu nguyện đã được phát triển trong các tu viện Đông phương.


Và ngày hôm nay, các Giáo hội Công giáo hoàn cầu đã tìm cách đưa Kinh thánh, như một thành phần cốt yếu của giáo lý. Dầu vậy, ai cũng công nhận là mối tương quan chặt chẽ này, nhưng chẳng ai có thể làm sáng tỏ liên hệ giữa Kinh thánh và giáo lý.


Đó cũng chính là cấu trúc của chương này với các phân đoạn theo các chủ đề vừa nêu.


Kinh thánh và phụng vụ

Kinh thánh sinh ra từ Phụng vụ[165]


Philippe Béguerie, năm 1976, trong tờLa Maison-Dieu, số 126, đã viết một bài báo diễn tả việc tương quan chặt chẽ giữa Kinh thánh và Phụng vụ, trong thời Cựu ước cũng như Tân ước. Chính Công đồng Vaticanô II đã đưa phụng vụ về với Kinh thánh, mà ngày nay người tín hữu dễ dàng nhận ra điều đó trong các nghi lễ và bí tích. Nhưng điều quan trọng mà tác giả muốn nói ở đây, là Kinh thánh, không được xem như là một bộ sưu tập lời Thiên Chúa, một yếu tố quan trọng của phụng vụ, nhưng là sự thể hiện và Mặc khải lời Thiên Chúa qua phương tiện các nghi lễ phụng tự. Như vậy, chúng  cũng có thể nói rằng Phụng vụ sinh ra với Kinh thánh. Cả hai như một giao ước, một gặp gỡ giữa Thần Linh con người.


Ba chiều kích minh chứng tương quan sâu thẳm giữa Lời Thiên Chúa và Phụng vụ, trước tiên là lịch sử, thứ đến là tư tưởng khôn ngoan và hiền triết trong Kinh thánh, và sau cùng là Truyền thống qua việc tiếp nhận và lựa chọn của dân Thiên Chúa.


1) Kinh thánh và Phụng vụ đều có chung một khởi điểm. Biến cố nền tảng Xuất hành của Cựu ước, nếu không được cử hành trong một nghi lễ đối thoại giữa con người và Thiên Chúa, thì có lẽ nó sẽ bị đi vào quên lãng, hay như là một tưởng nhớ quá khứ. Truyền thống phụng vụ đã làm cho biến cố sống động như một hiện tại qua phụng vụ, và hơn nữa, trong soạn thảo cũng như trong việc hội tập cộng đồng của bản văn Kinh thánh, các lời nói, đối thoại, hình ảnh biểu tượng, đến từ những thói quen phụng vụ.


Và trong Tân ước, biến cố nền tảng bí tích thánh thể, kể lại cũng theo một nguyên tắc gần giống như thời Cựu ước. Nhiều trang sách Tin Mừng đã mang lấy dấu vết của cộng đoàn, họ tụ họp để cử hành tiệc thánh. Dân Thiên Chúa tập hợp không chỉ để cử hành một biến cố quá khứ, nhưng để sống lại tác động Thiên Chúa trong lịch sử. Lời Thiên Chúa được đưa vào như một hiện diện của Thiên Chúa. Các bản văn Cựu ước và các thư mục vụ các tông đồ được đưa vào trong sách Thánh, trước tiên là sách của cộng đoàn dân Cha, và được sử dụng trong phụng vụ.


Như thế, chúng ta nói rằng, Phụng vụ, chính là ngôi nhà, một cư ngụ của Kinh thánh. Khi một nhóm người, một trường phái muốn liên kết với tư tưởng của thủ lãnh của họ, họ sẽ lấy văn bản của người đó ra đọc. Nhưng đối với các Kitô hữu, thái độ của họ thật khác lạ. Không những họ không có bản viết từ tay Đức Kitô, mà thay vào từ ngữ "bản viết", họ thích, chọn và dùng chữ "lời". Hành động diễn đạt qua từ "lời" sẽ hoàn toàn khác với hành động đến từ chữ "bản viết" và hành động lắng nghe một lời nói không thể giống như hành động nghe đọc một bản văn. Phụng vụ Công giáo là nơi mà sách trở thành lời.


2) Chúng ta thấy Kinh thánh không là một bộ sưu tập lời thiêng sử dụng trong phụng vụ. Chính là Đấng Khôn Ngoan ở trong ngôi nhà của mình. Hay nói đúng hơn, nhờ phụng vụ, Kinh thánh đã xây một ngôi nhà để mời chúng ta đến cư ngụ. Có người xem ngôi nhà này như một mê cung, tất cả có thể xa lạ với những ai không thường xuyên đến. Phải đến cư ngụ ngôi nhà đó để ngôi nhà đó bao bọc chính mình.


Nói về Kinh thánh, có lẽ chúng ta có thói quen muốn áp dụng ngay những Lời nghe thấy mà không muốn để Lời đó ngự trị trong tâm hồn mình. Ước muốn tiêu thụ và áp dụng này cũng có thể so sánh với việc mà thánh Phaolô hằng chiến đấu và mời gọi tín hữu suy nghĩ: "Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống" (2Cr 3,6c). Thật đáng buồn khi thấy não trạng của một số Kitô hữu, ảnh hưởng bởi các bài giảng thiếu tính cách Tin mừng và đầy kết án tôi lỗi, đã làm cho Kinh thánh như những lời răn dạy đến từ bên ngoài, mà không là lời Thiên Chúa ngự trị tâm hồn từ bên trong.


Trong Kinh thánh, có một bộ sách luôn đóng một vai trò độc nhất trong phụng vụ: đó là các Thánh vịnh. Thánh vịnh là lời của Thiên Chúa, nhưng luôn được đọc hoặc hát bởi chúng ta. Thánh vịnh, lời Thiên Chúa, nhưng mang những câu hỏi và trả lời của con người. Sự hiện diện của bộ Thánh vịnh trong Kinh thánh và trong phụng vụ, tạo thành một đối thoại tuyệt vời giữa con người với Thiên Chúa. Lời Thiêng đến trên miệng của chúng ta, và mang những từ ngữ và hình ảnh của sự trả lời của Thiên Chúa.


3) Kinh thánh sử dụng trong phụng vụ sẽ không có ý nghĩa khi chúng ta không tiếp nhận đó là lời Thiên Chúa. Chúng ta đón nhận lời đó vì chúng ta đã biết Lời đó đến từ môi miệng Thiên Chúa.


Vấn đề khó khăn của các Kitô hữu ngày nay là các bản văn Kinh thánh đến với tai chúng ta như những lời quá mới, khó hiểu và đôi khi kỳ lạ. Các mục tử cũng đôi khi sai lầm và lẫn lộn giữa "bài giảng" và "giáo trình" Kinh thánh, khi muốn làm một chú giải, với các giải thích thông thái...


Phụng vụ mời gọi chúng ta kiên nhẫn theo một quá trình làm quen với lời Thiên Chúa trong nhiều năm tháng. Có nhiều người đàn ông hay nói khôi hài rằng, đàn bà để yêu, chứ không phải để hiểu. Hãy yêu mến lời Thiên Chúa trước và Ngài sẽ dạy chúng ta hiểu. Hơn nữa chúng ta luôn luôn khám phá Thánh ý  mới  của Thiên Chúa trong một bản văn mà chúng ta có thể đã nghe hàng trăm lần.


Khi nói lời Thiên Chúa là một bản văn chúng ta đón nhận thì không sai, nhưng đúng hơn phải nói, lời Thiên Chúa đến trước mặt chúng ta để chúng ta nhận biết và yêu mến.


Những suy nghĩ trên đây dẫn chúng ta đến một đổi thay trong cách chúng ta lựa chọn các bản văn Kinh thánh trong phụng vụ.


- Nên suy nghĩ và từ bỏ khuynh hướng dùng Kinh thánh cho chủ đích trần thế và con người của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta lựa chọn các bản văn Kinh thánh với mục đích tuyên truyền và thuyết phục trong chiến dịch phụng vụ như là lễ ơn gọi, lễ kêu gọi giúp đỡ việc xây cất,... Lời Thiên Chúa dẫn chúng ta vào mầu nhiệm của Ngài và làm hoán cải tâm hồn chúng ta trong bác ái xã hội. Không được xem lời của Ngài như một thư viện để chúng ta lấy ra từ đó những "slogans" (khẩu hiệu) có (thẩm) uy quyền phục vụ cho hành động của chúng ta.


- Tránh những cập nhật quá thơ ngây và đơn giản. Lời Thiên Chúa cũng không là một thần chú bùa phép làm biến mất các vấn đề con người của chúng ta. Lời Ngài có tính cách hoàn thiện hóa (accomplir), chính là một lời mời trong tự do và tôn trọng, một đối thoại yêu thương với chúng ta, chứ không phải là một diễn đạt của ý chí chúng ta.


- Trong các bài giảng phụng vụ, một số mục tử có khuynh hướng luân lý hóa lời Thiên Chúa, và dùng Kinh thánh như là một công cụ giảng dạy luân thường đạo lý. Làm như thế chúng ta có thể đi tới một sai lầm quan trọng, là quên mất rằng lời Thiên Chúa trong phụng vụ là thời gian mời gọi con người khám phá và ngạc nhiên trước tình yêu bao la của Ngài. Các bài đọc Kinh thánh, chính là sự hiển linh, hiện diện mặc khải của Ngài, và có ý nghĩa đưa dẫn chúng ta tới Người đã nói và mời gọi chúng ta. Khi thật sự gặp Ngài trong tình yêu con người sẽ hoán cải và thay đổi trong chiều hướng bác ái, như trong câu chuyện của người thủ lãnh thu thuế trong Tin Mừng theo thánh Luca: "... Còn ông Dakêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng:"Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn"»(Lc 19,1-10).  


Hơn là những quy luật của luân lý, lời Thiên Chúa là nguốn mạch của sự sống, nguồn mạch một sự sống khác với sự sống hiện có của chúng ta và biến đổi lối sống của chúng ta.


Bài viết của Philippe Béguerie đã cho chúng ta một cái nhìn rất hay về Kinh thánh và phụng vụ. Giáo hội Công giáo cũng như các Giáo hội Kitô giáo vẫn luôn tìm hiểu hơn nữa sự hiên diện và vai trò của lời Thiên Chúa trong phụng vụ.


Vai trò của Kinh thánh trong phụng vụ


Năm 2004, phân khoa thần học Thụy sĩ nói tiếng Pháp (Fribourg, Genève, Lausanne, Neuchatel) đã tổ chức cho các nghiên cứu sinh ngành tiến sĩ năm khóa hội thảo với chủ đề " La présence et le rôle de la Bible dans la liturgie", và kết quả hội thảo nghiên cứu được xuất bản hai năm sau đó.[166]


- Khóa hội thảo thứ nhất đề cập đến Kinh thánh trong phụng vụ Do thái giáo và phụng vụ Kitô giáo ở thế kỷ thứ nhất, và cho chúng ta thấy có ảnh hưởng tương quan giữa phụng vụ và thư quy Kitô giáo.


- Khóa hội thảo thứ hai nói về bộ Thánh vịnh, dùng trong phụng vụ Do thái giáo đã trở nên bộ sách cầu nguyện trong Kitô giáo.


- Khóa thứ ba đưa ra các chiều kích lịch sử và việc hệ thống hóa các mối tương quan giữa Kinh thánh và phụng vụ.


- Khóa hội thảo thứ tư dành cho việc khảo sát bộ sách bài đọc Kinh thánh dành cho phụng vụ ngày nay.


- Và cuối cùng, hội thảo đã bàn về vấn đề tuyên bố Lời Thiên Chúa trong phụng vụ.


Chúng ta sẽ không viết lại ở đây nội dung của các hội thảo này, nhưng chỉ quan tâm đến bài viết của Martin KLÖCKENER[167], ông đã tổng kết các hội thảo và trình bày 12 viễn cảnh của Kinh thánh và phụng vụ, trong quan điểm của một nhà ngôn ngữ học và một giảng viên đại học, chứ không phải là một nhà chú giải, một sử gia, hay một mục tử. Ông viết với tư cách là một thần học gia Công giáo, nhưng luôn trong tinh thần hiệp thông với các Giáo hội Kitô giáo khác, và quan tâm đến các quan điểm của họ.[168]


1)Tương quan giữa việc công bố lời Chúa Kitô giáo và việc đọc Kinh thánh Do thái giáo. Hai tôn giáo của mặc khải đều có nền tảng là Kinh thánh, tuy họ diễn giải khác nhau về tác động của Thiên Chúa duy nhất trong lịch sử. Nhưng cả hai đều công nhận sự linh hứng của Thiên Chúa trong các tác phẩm soạn thảo bởi con người. Và cả hai có bổn phận làm cho dân Thiên Chúa nghe được mặc khải này và giúp họ bám rễ trong đức tin và trong thực tế của cuộc sống. Cả hai đều tuyên bố và làm sống động lịch sử cứu độ trong cộng đoàn của Giao ước. Như thế, sự hiện diện của Kinh thánh trong phụng vu Do thái giáo cũng như Công giáo hay Kitô giáo là một sự thật nền tảng cho đức tin.


2)Chức năng quy phạmcủa Kinh thánh trong phụng vụ, ở thời kỳ giao điểm giữa Do thái giáo đến muộn của Giao ước đầu tiên và Kitô giáo tiên khởi. Chúng ta thấy có những khác biệt việc sử dụng Kinh thánh Cựu ước bởi người Do thái và những người Kitô hữu tiên khởi.


Tác giả Himbaza[169]và Erich Zenger[170]đã minh chứng rằng các bài đọc và Thánh vịnh đã là những yếu tố cố định của phụng vụ trong đền thánh Giêrusalem với các nghi lễ hy tế. Chính những người Biệt phái khởi xướng việc đọc Kinh thánh thường xuyên trong các hy lễ. Như thế, một khuynh hướng rõ ràng cho việc Kinh thánh tuyên bố trước dân tham dự vào phụng vụ có tính cách quy  chuẩn, không những cho đời sống tôn giáo mà còn cho các chi tiết của việc hy tế, và cũng như trong các hội đường Do thái.


Chúng ta có ảnh hưởng hỗ tương giữa Kinh thánh và phụng vụ: nhờ việc sử dụng Kinh thánh trong phụng vụ, nối kết giữa con người và Thiên Chúa, Kinh thánh trở nên các quy  chuẩn cho cuộc sống.


Đối với phụng vụ Kitô hữu hay Công giáo, nhiều câu hỏi trong chiều hướng này cũng được đặt ra. Đâu là vai trò của Kinh thánh được tuyên bố trong tương quan giữalex orandi, lex credendi và lex agendi?Từ "quy luật" ở đây không dùng nghĩa pháp lý, nhưng trong ý hướng lựa chọn các ý nghĩa cơ bản cho cuộc sống.


3)Vai trò của Kinh thánh trong phụng vụ đối với việc xác định thư quy. Yves-Marie BLANCHARD, giáo sư Kinh thánh, chuyên về Gioan tại Đại học Công giáo Paris, đã suy nghĩ về vần đề này[171]. Việc đón nhận Kinh thánh trong phụng vụ là một trong những tiêu  chuẩn quyết định của thư quy. Lúc ban đầu, có nhiều bản văn được đọc trong phụng vụ mà không cần được chấp nhận như thư quy. Nhưng kể từ thế kỷ thứ tư, tất cả các Giáo hội Kitô giáo chỉ chấp nhận các bài đọc của thư quy Kinh thánh trong bí tích Thánh thể và trong các nghi lễ khác. Trong sách các giờ kinh phụng vụ, người ta có thể đọc thêm các bài giảng của các giáo phụ và chuyện các thánh.


4)Cấu trúc và tổ chức việc tuyên bố Kinh thánh.Việc các bài sắp xếp và tổ chức các đọc Kinh thánh trong phụng vụ trong lịch sử các Giáo hội, Do thái giáo cũng nhưng Kitô giáo, là một điểm mạnh. Từ thế kỷ thứ XVI, các Giáo hội Tin lành, tách rời Giáo hội Công giáo về việc này. Họ có nguyên tắc để các mục sư tự do lựa chọn các bản văn Kinh thánh[172]. Một số Giáo hội khác hiện nay vẫn còn lấy nguyên tắc dựa trên hệ thống truyền thống và hệ thống Công giáo đổi mới sau Công đồng Vaticanô II.[173]


5)Vị trí của Cựu ước trong các bài đọc phụng vụ.Nhiều tác giả trong các khóa hội thảo này đã bàn đến chỗ đứng quan trọng của Cựu ước trong phụng vụ. Khác với trước đây, sau Công đồng Vaticanô II, Ordo lectionum Missae của Giáo hội Công giáo năm 1969 và được tái bản năm 1981 đã dành cho các bài đọc Cựu ước một vị trí quan trọng trong bí tích Thánh thể. Nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi trên các nguyên tắc chọn lựa.[174]


6)Thánh Vịnh trong phụng vụ.Cũng như vấn đề các bài đọc Cựu ước, nhiều tác giả đã đề cập đến các Thánh vịnh trong phụng vụ. Nhưng các dùng đương nhiên là khác với Do thái giáo. Kitô giáo đọc các Thánh vịnh dưới quan điểm Kitô học, nhưng vẫn quan tâm để ý và luôn mở rộng đến toàn bộ lịch sử cứu độ. Truyền thống Kitô giáo luôn coi trọng và đánh giá cao Thánh Vịnh, vì chứa đựng chiều kích sâu và dày thiêng liêng. Con người luôn cần có một nguồn suối cho sự sống linh thiêng và cho việc cầu nguyện. 


7)Tính cách bí tích của việc đọc Kinh thánh trong phụng vụ, nơi các tôn giáo khác. Các tác giả thần học Công giáo đã nói đến tính cách bí tích trong việc tuyên bố các bài đọc Kinh thánh.[175]B. BÜRKI, mục sư Tin lành, cũng phát triển suy nghĩ này và mời gọi hãy chú ý vì vấn đề này cũng được đạt ra cho các Giáo hội Tin lành từ lâu, nhưng họ không phát triển và đào sâu.


Công đồng Vaticanô thứ 2 đã nhấn mạnh rằng chính Đức Kitô tự  hiện diện và nói với chúng ta khi các bản văn Kinh thánh được đọc dưới sự linh hứng.[176]

8)Sự tham dự và sẵn sàng của tín hữu khi đối với các bài đọc Kinh thánh. Giáo hội Công giáo có một hệ thống bài đọc chung cho các tín hữu tham dự phụng vụ, bao gồm các bài đọc dành cho thánh lễ chủ nhật, các thánh lễ trong tuần. Trong bộ sách Cá Giờ Kinh Phụng Vụ, với các giờ cầu nguyện khác nhau trong ngày, có rất nhiều bài đọc Kinh thánh.


Câu hỏi được đạt ra là: sách ordo lectionum nào dành cho tín hữu nào trong hoàn cảnh nào của Giáo hội và của đức tin cá thể? Có nên phát triển nhiều hệ thống bản văn Kinh thánh: ví dụ, một dành cho các tu viện và phụng vụ của họ, một bộ khác cho các giáo xứ, một bộ thứ ba nữa cho các nhóm hoặc cho các trường hợp đặc biệt? Hoặc có nên từ chối việc bó buộc phải dùng Ordo lectionum Missae và việc chọn các đoạn văn Kinh thánh trong các nghi lễ khác?... Tất cả các câu hỏi này xứng đáng được các nhà thần học, các mục tử, bàn bạc và nghiên cứu.


9)Tính cách khác biệt của việc đọc Kinh thánh tuỳ theo bản chất của nghi lễ?M. COLLIN đã gợi ra vấn đề và P. De CLERCK đã trở lại với vấn đề này. Trong Giáo hội Công giáo, trong thánh lễ, và trong bí tích rửa tội, nghi thức hướng trực tiếp đến mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, các bài đọc Tân ước được ưa chuộng, còn trong các nghi lễ khác, nhất là trong sách phụng vụ các giờ kinh, Giáo hội chú trọng hơn đến các bài đọc Cựu ước.


10) Mở rộng giáo lý Kinh thánh và đào sâu việc đọc lời Thiên Chúa[177]. Nhiều tác giả đã nói đến vấn đề này trong các khoá hội thảo. Nhưng ai cũng đồng ý rằng, việc học hỏi, nghiên cứu, và suy niệm Kinh thánh trong mục đích giúp cho tín hữu tham dự một cách ý thức và năng động vào các bài đọc Kinh thánh trong phụng vụ. Việc này xứng đáng chiếm một chỗ đứng quan trọng trong học hỏi giáo lý của tất cả các Giáo hội Kitô giáo.


11)Bài giảng Kinh thánh[178]. Khi nói đến các bài đọc Kinh thánh trong phụng vụ, chúng ta không thể bỏ qua các bài giảng. Trong Do thái giáo, sau bài đọc Kinh thánh, họ làm một diễn giải bản văn. Các bài viết kitô giáo rất xưa cũng đã nói về việc giải thích các bản văn Kinh thánh. Giáo hội Công giáo luôn có những bài giảng sau các bài đọc. Nhưng nhờ Công đồng Vaticanô II, các nội dung bài giảng chú trọng nhiều hơn đến việc giải thích Kinh thánh trong thánh lễ và trong các nghi thức phụng vụ khác. Tương quan giữa Kinh thánh và bài giảng là một vấn đề quan trọng đang còn được bàn cãi rất nhiều trên phương diện thần học và mục vụ. Đức Giáo hoàng Phanxicô của chúng ta hiện nay cũng rất chú trọng đến vấn đề này.


12)Việc tuyên bố các bài đọc Kinh thánh là một nghi thức. Nghi lễ có một đặc tính rất đặc biệt: nghi thức tạo ra ý nghĩa cho cộng đoàn phụng vụ, và cho cá nhân tham dự. Khi cử hành phụng vụ, Giáo hội chuyên tải cùng một lúc niềm tin của mình, và như thế, Giáo hội luôn quan tâm trong soạn thảo chi tiết các nghi thức liên quan đến việc tuyên bố Kinh thánh.


A. Join-Lambert đã cống hiến một bài viết cho sách các bài đọc Kinh thánh (évangéliare) và biểu tượng của sách. Theo ông, đó chính là "une mystagogie de la présence du Christ dans l’assemblée liturgique."[179]Từ mystagogie là một ý niệm khó dịch ra tiếng việt. Chúng ta thử giải thích nó như sau: theo tiếng Hy lạp, mystagogie, dịch sát, có nghĩa là hướng dẫn vở lòng vào mầu nhiệm. Giáo hội Công giáo dùng để chỉ thời gian của người tân tòng bắt đầu bước vào các mầu nhiệm của đức tin, và nhất là tham dự mầu nhiệm thánh thể. Như thế, sách các bài đọc, dẫn đưa tín hữu bước vào sự hiện diện của Đức Kitô trong cộng đoàn phụng vụ.


Kinh thánh và đời sống tâm linh


Qua các hội thảo nói trên, trong tinh thần hiệp thông giữa các Giáo hội Kitô giáo, chúng ta hiểu được phụng vụ và bí tích là nơi thuận tiện và ý nghĩa của Kinh thánh. Ngài luôn hạ xuống với chúng ta để bày tỏ, mặc khải, và mời gọi chúng ta hiểu và yêu mến Ngài. Trong tinh thần đó, người Kitô hữu may mắn còn biết được nhiều nơi chốn khác nhờ đó lời Thiên Chúa đến với chúng ta: cầu nguyện và linh hướng.


Chú thích:

[163] "La Bible est dans l’assemblée liturgique comme un poisson dans l’eau", Louis Marie CHAUVET, "La Bible dans son site liturgique", dans La Bible, parole adressée,..., Lectio Divina 183, Ed. par Jean-LouisE SOULETTI et Henry Jérôme GAGEY,  Cerf, Paris, 2001, tr.  60.

[164] Philippe BEGUERIE, "La Bible née de la liturgie", Maison Dieu, n° 126/2, 1976, tr.  108-116.

[165] Philippe BEGUERIE, "La Bible née de la liturgie", Maison Dieu, n° 126/2, 1976, tr.  108-116.

[166] Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse, 2006, tr. 6.

[167] Présence et rôle de la Bible..., tr. 387-410.

[168] Présence et rôle de la Bible..., tr. 387.

[169] Innocent HIMBAZA, "L’utilisation de l’Écriture dans le culte juif au début de l’ère chrétienne", trong Présence et rôle..., tr. 19-42.

[170] Erich ZENGER, "Les psaumes dans le culte et la piété du peuple d’Israël", trong Présence et rôle..., tr. 97-123.

[171] Yves-Marie BLANCHARD, "Interdépendance entre la formation du Canon biblique chrétienne et la lecture liturgique", Présence et rôle..., tr. 69-93.

[172] Ralph KUNZ, "La lecture biblique dans le culte des Eglises protestantes de Suisse alémanique et d’Allemagne", Présence et rôle..., tr. 262. 267.

[173] Paul De CLERK, "L’Ordo lectionum missae de l’Église romaine", Présence et rôle..., tr. 239-252.

[174] Paul De CLERK, "L’Ordo lectionum missae de l’Église romaine", Présence et rôle..., tr. 242-246.

[175] Patrick PRÉTOT, "Vatican II - nouvelle appréciation de la Parole de Dieu", Présence et rôle..., tr. 205-225.

[176] Hiến Chế về Phụng Vụ thánh (Sacrosactum Concilium), n° 7.

[177] Marc LIENHARD, "Lire, prêcher et interpréter la Bible dans le culte : les intentions des réformateurs", tr. 189-203.  Patrick PRÉTOT, "Vatican II - nouvelle appréciation de la Parole de Dieu", trong Présence et rôle..., tr. 206.

[178] Marc LIENHARD, "Lire, prêcher et interpréter la Bible dans le culte : les intentions des réformateurs", Présence et rôle..., tr. 189-203.

[179] Arnaud JOIN-LAMBERT, "L’Evangéliaire pour une mystagogie de la présence du Christ dans l’assemblée liturgique", Présence et rôle..., tr. 345-365.


Lectio Divina

Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI nói:"Thực thi lectio divina, nếu việc đó phát huy một cách hiệu quả, tôi tin chắc rằng, sẽ mang lại cho Giáo hội, một mùa xuân tu đức mới."[180]

Lection divina- thành ngữ La tinh có nghĩa sát là "đọc thánh", và chúng ta có thể hiểu rộng hơn: "đọc theo đức tin" - là cách đọc Kinh thánh thường hằng của các tín hữu Do thái giáo trong đức tin và trong tinh thần cầu nguyện. Đối với các tín hữu Do thái giáo hay Kitô giáo, họ đều muốn tìm hiểu chiều sâu của Thánh ý Thiên Chúa qua ngôn ngữ diễn đạt của con người.

Giáo phụ Origène nói:"để đọc Kinh thánh một cách có hiệu quả, chúng ta cần phải đọc một cách thường xuyên, với sự tập trung và trong tinh thần cầu nguyện". Năm 220, chính ngài là người đầu tiên đã đưa ra 4 nguyên tắc của lectio divina cho Giáo hội Kitô giáo, các nguyên tắc này dựa trên 4 ý nghĩa Kinh thánh của ngài:lịch sử, phúng dụ, ngụ ý và loại suy.


Thánh Ambrôsiô đã đưalectio divinavào Âu châu. Các thánh Pâcôm, Augustinô, Basile thành Cêzarê, Biển đức thành Nursi, đã xếplectio divina, làm việc tay chân và việc tham dự vào đời sống phụng vụ, và xem như là ba trụ cột của đời sống các tu sĩ.


Khoảng năm 1150, tu sĩ Guigues thứ 1 le Chartreux[181], đã hệ thống hóa 4 giai đoạn củalectio divinatrong tác phẩmScala claustralium(các bậc thang của tu sĩ)[182]: đọc, chiêm niệm (méditation), cầu nguyện, chiêm ngắm (contemplation). Và dần dần, phương pháp này được áp dụng cho tất các Kitô hữu, linh mục, phó tế và giáo dân. Công đồng Vatican II, trong Hiến chếDei Verbum, và sau đó Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô đệ nhị và Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã động viên những người Kitô hữu trong việc tu đức này.[183]


Chúng ta cũng nên nhắc lại ba đặc tính của lời Thiên Chúa: Mặc khải, sinh sản, và hiệp thông với Đức Kitô. Theo tinh thần này, chúng ta thực thi mỗi ngày hay hằng tuần lectio divina:


1) Đọc (lectio): chúng ta lắng nghe lời Thiên Chúa một các tập trung, vì khi lời Thiên Chúa được đọc lên, chính Ngài đã hiện diện lúc đó. Việc lắng nghe này đòi hỏi thinh lặng, sẵn sàng, tự do và chú ý.


Người đọc cũng như người nghe phải đạt mình vào trong một khung cảnh an bình, thư giản, gạt bỏ ra ngoài những suy tư lo lắng, và không vận dụng trí óc để phê phán và suy nghĩ.Lectio  là một mở ngỏ, khai tâm chứ không phải một chinh phục.


Chúng ta có thể đọc và lắng nghe một lần thứ hai hay thứ ba, để lời Thiên Chúa thấm vào hồn.


2) Chiêm niệm (méditation): sau khi lắng nghe lời Thiên Chúa trong thinh lặng, chúng ta bắt đầu chiêm niệm, suy nghĩ. Chúng ta phải tránh việc muốn lý luận và tìm tòi diễn giải bản văn và tìm các áp dụng cho đời sống. Chúng ta phải cẩn trọng trong suy niệm, đừng lấy mình làm trung tâm điểm, nhưng đưa chính mình đến Thiên Chúa. Trong giai đoạn này, chúng ta cũng lắng nghe suy niệm và chia sẻ của những người khác, lời Thiên Chúa đến qua kinh nghiệm của họ làm thức tỉnh chính mình. Khi gặp các điều khó hiểu, chúng ta dựa vào các thông tin trong các ghi chú dưới cuối trang của các sách Kinh thánh có giải thích. Và chúng ta cũng nên ghi chép lại những gì mình đã nhận được từ lời Thiên Chúa.


3) Cầu nguyện (oratio): và dần dần sau khi lắng nghe và suy niệm lời Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu làm những cầu nguyện từ các lời Kinh thánh, bằng các ngôn từ đơn giản, những câu nói ngắn gọn, nâng đỡ cho một cầu nguyện nội tâm sâu thẳm. Lời cầu nguyện nội tâm là động lực phát ra từ tâm hồn, một chiêm ngắm trước vĩ đại và sắc đẹp của mầu nhiệm mặc khải.


Lời cầu nguyện, nuôi sống bởi lời Thiên Chúa, có thể giống như các lời cầu nguyện trong Thánh Vịnh, trong sách Diễm Ca, trong Tân ước: thờ lạy, ngợi khen, tin tưởng, tạ ơn, xin ơn hoán cải và tha thứ, khẩn xin.


4) Chiêm ngắm (contemplation): trong thinh lặng Thiên Chúa, con người cảm nhận được sự sống viên mãn ban tặng cho mình. Với tâm hồn trầm tư, người cầu nguyện đi vào an bình. Cái nhìn của họ được soi sáng bởi ánh sáng vĩnh cữu và tấm lòng của họ hướng về của cải không hư mất: chính lúc này, l’oratio, lời cầu nguyện trở nên chiêm ngắm. Quả tim và tâm hồn con người gắn liền với Đấng Tạo Dựng.


Chiêm ngắm là món quà mà Thiên Chúa đã nối kết chúng ta  với Ngài, là sự nghĩ ngơi trong tình yêu tuyệt đối. Sự nghỉ ngơi này biến đổi tâm hồn của chúng ta, và cho phép chúng ta thành tất cả đối với Thiên Chúa. Chiêm ngắm là ca tụng vương quyền của Ngài, sự bao la và rộng luợng của ân huệ, và tuyên xưng rằng chúng ta thuộc về Ngài, ở trong Ngài, và nhờ Ngài.


Lectio divinalàm hiện diện các dấu chỉ Thiên Chúa trong các hành vi và lời nói của chúng ta hằng ngày.[184]


Linh thao


Linh Thao là một phương pháp cấm phòng theo tác phẩm les exercices spirituelles, bao gồm việc cầu nguyện và chiêm niệm một cách tiệm tiến, viết bởi thánh Inhã Loyola (1491-1556)[185]qua kinh nghiệm tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong đời sống của ngài. Sách được viết bằng tiếng Tây Ban Nha, sau đó được dịch ra tiếng La tinh, được phê chuẩn bởi Đức Giáo hoàng Phaolô III (31 tháng 07 năm 1548,Pastoralis Officii).


Tiếng Việt đã dịch phương pháp này với thành ngữ "linh thao": linh là thiêng liêng, là tinh thần; thao là luyện tập, thao tác; là phương thức rèn luyện nội tâm trong thinh lặng và qua cầu nguyện, dựa theo kinh nghiệm và những lời khuyên của Thánh Inhã Loyola.[186]


Thánh sáng lập dòng Tên  đã đề nghị một tiến trình cấm phòng kéo dài một tháng. Các suy niệm, chiêm ngắm và lập lại trong mỗi ngày sẽ giúp người cấm phòng thấy rõ hơn trong đời sống và hướng họ tới thánh ý Thiên Chúa. SáchLes exercices spirituelles, có thể được xem như một cuốn hướng dẫn những người linh hướng trong thời kỳ cấm phòng.


Trong tuần lễ thứ nhất, người cấm phòng nhận thức được hiện hữu của sự dữ, dối trá và tất cả những gì dẫn đến cái chết trong thế giới và trong chính họ. Người cấm phòng đối diện với sự thật và nhận ra tội lỗi của mình để trông cậy hoàn toàn vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Một cách chung, tuần lễ đầu tiên sẽ kết thúc với bí tích hòa giải.


Tuần lễ thứ hai là quãng đường đồng hành với Đức Giêsu Kitô trong đời sống của Ngài ở miền Galilê. Quãng đường khởi đầu với mầu nhiệm nhập thể và kết thúc với biến cố lễ lá. Cha hay người linh hướng có thể lựa chọn thêm một vài khung cảnh hay biến cố của đức Giêsu Kitô mà thánh Inhã không đề cập đến trong sách. Người linh hướng luôn thích nghi với các nhu cầu thiêng liêng của người cấm phòng trong các lần nói chuyện riêng với nhau. Trong các suy niệm, người cấm phòng xin một ơn huệ và một nhận biết trong nội tâm giúp dẫn dắt đời sống mới của họ. Tuần lễ này kết thúc bằng một suy nghĩ khởi đầu cho một lựa chọn trong đời sống: theo hay không theo bước Đức Kitô.


Trong suốt tuần lễ thứ ba, người cấm phòng sống với Đức Kitô mầu nhiệm khổ nạn của Ngài: từ Bethania đến đến việc mai táng trong mồ sau khi bị đóng đinh trên thập giá.


Người cấm phòng chiêm ngắm sự phục sinh của Đức Kitô trong tuần lễ thứ tư: Ngài hiện ra với Mẹ Ngài và với các môn đệ của Ngài. Đời sống họ biến đổi: họ tìm thấy trong Đức Kitô phục sinh sức mạnh để rao truyền sự hiện hữu của Thiên Chúa, sự sống và sự tự do linh thiêng của Ngài.


Tuy không đi sâu vào chi tiết, chúng ta thấy qua sự mô tả này, cầu nguyện, chiêm niệm và chiêm ngắm trong linh thao dựa trên nền tảng Kinh thánh, nhất là các sách Tin Mừng. Hơn nữa trong sách của ngài, thánh Inhã để cho các cha hoặc người linh hướng tự do lựa chọn các bản văn Kinh thánh thích nghi với những người cấm phòng.


Trong bài viết "La Bible dans l’accompagnement spirituel", nữ tu Geneviève MÉDEVIELLE, giáo sư thần học luân lý của Đại học Công giáo Paris đã quan sát tác động lời Thiên Chúa nói chung trong các linh hướng, và trong linh thao nói riêng. Và sau đây là quan điểm của nữ tu MÉDEVIELLE[187]:"Trong mọi trải nghiệm, nhận thức thiêng liêng, như việc lựa chọn ánh sáng Đức Kitô, giả định việc lắng nghe lời Thiên Chúa trong đời sống cũng như trong việc đọc cầu nguyện Kinh thánh. Lắng nghe và đáp trả Lời Thiên Chúa ở đây và bây giờ, như diễn đạt của nhận thức  trong linh thao của thánh Inhã bao gồm việc ‘tìm và thấy thánh ý của Thiên Chúa."[188]


1) Trong phần thứ nhất, nữ tu MÉDEVIELLE minh chứng rằng đọc Kinh thánh cầu nguyện (lecture priante) đã là một trong những bước linh thao. Vì nhận thức trong sự thật và đáp trả lời Thiên Chúa, theo thánh Inhã, là một kinh nghiệm phục sinh. Lời của đấng Tối Cao đòi hỏi con người hòa hợp thâm sâu vào Đức Kitô, người đã dâng hiến thân mình vì tình yêu, một nần cho tất cả trên cây thánh giá. Như thế tiếng đáp trả của người cấm phòng với Thiên Chúa giống như là lời của Đức Kitô ở trong vườn cây dầu ngày nào. Qua việc chiêm ngắm khổ nạn, Thánh Thần Thiên Chúa ban cho người cấm phòng môt sự sống mới.


- Linh thao bao gồm năng lực việc phân định, phê phán và quyết định như một quà tặng của Thánh Linh Thiên Chúa. Thánh Inhã nhận ra việc phân định nhận thức này, như tiến trình tăng trưởng trong đời sống của Thánh Thần, là sự tích hợp giữa ước muốn, tình cảm, phản ứng, và lựa chọn  trong một thái độ hiện sinh hoàn toàn gắn kết với việc bước theo Đức Kitô. Linh thao nhắm mục đích dẫn đưa người cấm phòng đến một tự do thiêng liêng trong việc phục vụ, tình yêu và ca tụng Thiên Chúa. Như thế, trong tiến trình này, hiện hữu một nối kết khá phức tạp qua các giai đoạn, sự tiến triển, và việc đọc lại các yếu tố trong đời sống có dấu vết của thánh ý Thiên Chúa. Và chính nơi này, là chỗ thích hợp đễ Lời Thiên Chúa soi sáng và biến đổi con người chúng ta qua tác động của Thánh Thần Thiên Chúa.


- Như thế, đọc Kinh thánh cầu nguyện giả định người linh thao hay trong gặp gỡ linh hướng, người Kitô hữu chấp nhận vượt qua một ngưỡng cửa: một quyết định. Vì khi cầu nguyện, người cấm phòng, mở lòng và tâm trí mình đón nhận Lời Thiên Chúa, và để Lời Ngài thẩm thấu vào trong nội tâm, nguồn gốc mọi hành vi, và nơi chốn chiến đấu thiêng liêng cho các quyết định hợp với đức tin. Vì việc đọc Kinh thánh trong cầu nguyện không phải là việc chiêm ngắm một cách thụ động một bản văn Kinh thánh, nhưng là để Lời Thiên Chúa ủi an, thúc đẩy, đánh thức, và hoà giải chiến đấu nội tâm. Paul Beauchamp, nhà thần học Kinh thánh nói:"trong Kinh thánh, không có gì khác ngoài việc thúc đẩy xáo trộn con người, để họ đi vào việc kính sợ Thiên Chúa đến lúc trở thành môn đệ."[189]


- Nhưng việc đọc Kinh thánh cầu nguyện trong linh thao được  chuẩn bị, xác định, với nhiều cẩn trọng. Các bản văn Kinh thánh được cha linh hướng hoặc tác nhân linh hướng chọn lựa theo tiến trình năng động từ mầu nhiệm nhập thể cho đến Phục sinh. Sự lựa chọn này có mục đích đưa dẫn các người cấm phòng đến việc từ bỏ các thông đồng với tội lỗi, của thế giới và của chính mình, từ bỏ mơ ước toàn năng để tìm thấy niềm vui trong giới hạn, trong nghèo khó, và trong khiêm tốn. Tuy vậy, người linh hướng cũng như người được linh hướng tránh các cạm bẩy của việc đọc Kinh thánh ngoài quy định của đức tin:

a) Phải tôn trọng và trung thành tuyệt đối với các bản văn Kinh thánh.

b) Khi đọc bản văn, phải đặt nó trong bối cảnh.

c) Người được linh hướng hay người cấm phòng chỉ đọc các bản văn lựa chọn bởi cha hay người linh hướng.


2) Trong phần hai của bài viết, nữ tu MÉDEVIELLE nói về cập nhật hóa Kinh thánh. Phương pháp chiêm ngắm trong sáchLinh Thao, tuy được nói một cách ngắn gọn, nhưng rất nghiêm nhặt.

- Phải tuân thủ ba tiến trình khai mở sau đây: a) tạo một khung cảnh tâm lý và thiêng liêng dành cho việc chiêm ngắm, b) giới hạn trí tưởng tượng với việc trình bày rõ ràng chủ điễm, c)  chuẩn bị việc tiếp nhận của ý muốn người cầu nguyện.

- Sự chiêm ngắm đòi hỏi tập trung và sự hiện hữu ba khả năng giác quan: thấy, nghe, và xem xét.

- Việc đọc Kinh thánh trong nguyện cầu phải được xác nhận qua các biến chuyển của Thánh Linh...


Việc cập nhật hóa Kinh thánh trong lối đọc cầu nguyện, đi tìm sự thật Lời Thiên Chúa cho cuộc sống, sẽ được minh chứng bởi việc phục vụ các anh em chúng ta trong tình yêu. Như trong phụng vụ, thân thể chúng ta tham dự vào một vai trò sống động trong việc hiểu biết mầu nhiệm, việc đọc Kinh thánh và cập nhật hoá trong đời sống là làm sống lại tình yêu Đức Kitô phục sinh. Theo Đức Kitô, có nghĩa là học biết và làm quen với các cử chỉ và hành vi, tinh thần và sứ điệp của Ngài. Sự chiêm ngắm trong linh thao, trong việc đọc Kinh thánh trong cầu nguyện, là một trường học giáo lý đức tin.


Kinh thánh và giáo lý


Theo truyền thống cổ điển của Giáo hội, giáo lý Công giáo nhịp nhàng theo khuôn mẫutraditio/redditio.


Từ ngữ La tinhtraditiocó nghĩa là truyền tải, chỉ việc trao cho những người dự tòng các diễn đạt nền tảng của đức tin. Truyền tải là việc tin tưởng của cộng đoàn Kitô hữu đối với những người đang  chuẩn bị nhận lãnh kho tàng căn bản của đức tin. Sự liên hệ giữa cộng đoàn Kitô hữu và các dự tòng không chỉ là một vấn đề sư phạm giáo lý.


Chính Đức Kitô là người nối kết họ với nhau:"Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai, và xác tín rằng: Người có đủ quyền năng bảo toàngiáo lýđã được giao phó cho tôi mãi cho tới Ngày đó."(2Tm 1,12)


Từ "giáo lý" ở đây được dịch từ chữ "paraqh,kh", có nghĩa là "vật ký gởi". Truyền tải, trước khi có ý nghĩa là một hành động thuyền thông, đã là một nghĩa cử đức tin tác động và đồng hành với Chúa Thánh Thần.


Giáo hội ngày xưa trao ban cho các dự tòng kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha.


Redditio, có nghĩa là "hoàn trả lại", chỉ việc người dự tòng đọc kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha trước cộng đoàn. Việc làm này chứng tỏ rằng, những gì mà cộng đoàn ký thác cho họ, đã trở thành của họ, và có thể tuyên xưng trước mặt mọi người.


Và sau đó, Giáo hội giao phó cho các giảng viên giáo lý có nhiệm vụ truyền tải đức tin qua các "biểu tượng" nền tảng như Kinh thánh - đầu tiên là các Tin Mừng - phụng vụ và các bí tích, kinh Lạy Cha và các kinh khác, các giới răn và việc bước theo Đức Kitô, đời sống trong Giáo hội, các tuyên xưng đức tin... Tất cả những điều này không chỉ có tính cách kiến thức và trí tuệ, nhưng tạo thành con đường đức tin sống động của Giáo hội


Về vấn đề "redditio" (hoàn trả), các Kitô hữu, những người đã nhận các kho tàng này, làm thế nào để trở nên chứng nhân của Đức Giêsu Kitô. Trong thực tế, giáo lý là một công việc mục vụ, một tiến trình giáo dục, nhắm đến sự trưởng thành trong đức tin của các tín hữu và cộng đồng của họ.


Trong Tông huấnCatechesi Tradendae,Dạy giáo lý trong thời đại chúng ta, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc qua một cách ngắn gọn "nguồn mạch" của giáo lý Công giáo số 27:


"Môn Giáo lý luôn múc nội dung của nó từ một nguồn hằng sống của Lời Chúa được truyền lại trong Thánh truyền vàKinh thánh, bởi vì “Thánh truyền vàKinh thánhlàm thành mộtkho tàng duy nhất của Lời Thiên Chúa, đã được trao phó cho Hội Thánh” như Công đồng Vaticanô II nhắc nhở chúng ta. Công đồng muốn rằng “thừa tác vụ Lời Chúa - mục vụ giảng dạy, dạy Giáo Lý, và tất cả các hình thức giáo huấn Kitô khác… - phải được nuôi dưỡng đầy đủ và lớn mạnh trong sự thánh thiện nhờLời Kinh thánh” ..."


Sau đó, trong một tài liệu mới hơn,Verbum Domini, của Đức Thánh cha Bênêđictô XVI. Ngài đúc kết thành quả của Khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII với chủ đề:Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Hội Thánh, diễn ra từ ngày 05 đến 26-10-2008. Các giám mục duyệt lại việc thực thi những chỉ thị của Công đồng Vatican II về Lời Chúa,Dei Verbum, đồng thời đối phó với những thách thức mới liên quan đến lĩnh vực Lời Chúa.


Trong 3 phần chính của Tông huấn: Verbum Dei (Lời Chúa),Verbum in Ecclesia(Lời Chúa trong Hội Thánh), vàVerbum Mundo(Lời Chúa cho Thế giới), chúng ta chú ý đến số 74 ở phần 2 có liên quan đến vấn đề Kinh thánh và giáo lý:


"Một phương diện quan trọng trong hoạt động mục vụ của Giáo hội, lúc mà người ta có thể khôn ngoan tái khám phá đặc tính trung tâm của Lời Thiên Chúa, là việc dạy giáo lý; việc giảng dạy giáo lý này, dưới các hình thức và theo các giai đoạn khác nhau, phải luôn luôn đồng hành với Dân Thiên Chúa...(Lc 24,13-35), theo một nghĩa nào đó, biểu thị khuôn mẫu của việc dạy giáo lý tập trung vào việc“giải thích Kinh thánh”, mà chỉ duy Chúa Kitô mới có thể ban cho (Lc 24,27-28), khi chỉ cho thấy Kinh thánh được hoàn tất nơi bản thân Người...


... Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt rằng khoagiáo lý“phải thấm nhuần và nắm vững tư tưởng, tinh thần và các thái độKinh thánh và Tin Mừngnhờ việc chuyên cần tiếp xúc với chính các bản văn; ... chúng ta phải khuyến khích một sự hiểu biết về cácnhân vật Kinh thánh, những biến cố và những diễn ngữ căn bản của bản văn thánh; muốn như vậy, cũng có thể là bổ ích nếu hiểu biết và học thuộc lòng một vài đoạn văn Kinh thánh – đặc biệt những đoạn văn nói về các Mầu nhiệm Kitô giáo. Công việc dạy giáo lý luôn luôn hàm chứa việc kết hợp Kinh thánh với đức tin và Truyền thống Giáo hội, sao cho những lời này được nhận thức là những lời hằng sống,..."


Giáo hội đã mở ra cho chúng ta các viễn cảnh quan trọng trong giáo lý khi đặt Kinh thánh làm trọng tâm của việc truyền tải đức tin. Thế giới vận chuyển không ngừng và con người đang sống trong các bối cảnh văn hóa luôn đổi mới. Việc nhấn mạng vai trò và nội dung của Kinh thánh cũng sẽ giúp cho con người tìm lại nguồn cội của tình yêu. Ngày hôm nay, với internet và các mạng xã hội, người ta có thể tiếp cận ngay đến các bản văn Kinh thánh, như thể là người ta có thể nắm bắt thông tin và sự thật ở trạng thái thô sơ không cần qua các trung gian. Việc này có thể đưa đến hai hệ quả: một cách đọc theo lối bảo thủ và nệ cổ, không lấy khoảng cách với các dữ kiện trong các bản văn, hai là lấy một cách đọc theo lối chủ quan, có khuynh hướng tương đối hóa các bản văn linh thiêng theo các diễn giải rất cá nhân.


Chính trong hoàn cảnh này, giáo lý cần phải đặt trọng tâm trên lời Thiên Chúa. Có nghĩa là chúng ta không chỉ hài lòng với việc tường thuật lại các mặc khải hay các mầu nhiệm trừu tượng. Nhưng giáo lý mời gọi con người học biết lắng nghe đức Giêsu Kitô qua lời của Ngài, và đọc thường xuyên Kinh thánh như là một lương thực nuôi sống đức tin.


Như thế,  giáo lý ngày nay phải suy nghĩ và nên tránh hai lối cách truyền tải đức tin sau đây:

- Nên tránh việc coi Kinh thánh như là một bộ tài liệu tham khảo, như là một kho dẫn chứng cho các biện luận đức tin của chúng ta.

- Không dùng Kinh thánh để giải thích và lấp đầy khoảng trống giữa đức tin và cuộc sống. Chẳng hạn như chúng ta dùng các bản văn Kinh thánh để minh chứng các chủ đề liên quan đến cuộc sống có tính cách luân lý như: tình bằng hữu, chia sẻ, kính trọng... Đó là tất cả giá trị con người, dù ở trong tôn giáo nào, chúng ta cũng phải giữ lấy.


Nhưng Kinh thánh trong giáo lý đưa chúng nhận ra sự thật của tình yêu và con đường hy sinh của đúc Kitô. Và như thế, dù đau khổ và thất bại trăm lần, niềm hạnh phúc của chúng ta vẫn chính là Thiên Chúa.[190]


Kết luận chương 5


Trong bước đường vừa mới đi qua, chúng ta biết rằng lời Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho một số người, các nhà chú giải, hay những người nghiên cứu, nhưng là Lời mà Thiên Chúa muốn bày tỏ cho tất cả, cho các những người đã tin vào Thiên Chúa, Do thái giáo, cũng như Kitô giáo nói riêng và sau đó cho thế giới nói chung.


Trong cuộc hành trình này, tuy rằng chúng ta không thể thăm viếng qua tất cả các nơi chốn thể hiện Lời Thiên Chúa, nhưng qua cộng đoàn phụng vụ, gặp gở linh hướng, hay tham dự giáo lý. Các Kitô hữu đã có may mắn và hạnh phúc gặp gỡ chính đức Giêsu Kitô, Con một của Thiên Chúa, để trở nên các nhân chứng tình yêu của Ngài trong thế giới. Chúng ta rút tỉa ra ba kết luận sau đây.


1) Tất cả mọi người đều có thể tiếp cận Lời Thiên Chúa. Vì yêu thương Thiên Chúa hạ cố đến với loài người qua Kinh thánh.[191]Công đồng Vaticanô II đã mời gọi các tín hữu một cách rõ rằng:


"Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những ai phục vụ Lời Chúa cách chính đáng, với tư cách là phó tế hoặc giảng viên giáo lý, phải gắn bó với Kinh thánh nhờ chuyên cần đọc Sách Thánh và học hỏi kỹ càng; nếu không, sẽ có người trong họ thành “kẻ rao giảng Lời Thiên Chúa bên ngoài uổng công, bởi vì họ không lắng nghe Lời đó trong lòng”, trong khi họ phải thông truyền, nhất là trong phụng vụ thánh, những kho báu vô tận của Lời Thiên Chúa cho các tín hữu đã được giao phó cho họ. Cũng vậy, thánh Công đồng nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi kitô hữu, nhất là các tu sĩ, học được “sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô” (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh .» (số 25, Dei Verbum).[192]


Chẳng hạn như một người cha, nếu ông không cúi xuống để bồng bế, thì đứa con thơ đang nằm bệt dưới đất không thể tự đứng lên và với tới người cha nó. Thiên Chúa đã đối xử với chúng ta cũng như thế qua Kinh thánh.


Mỗi người chúng ta, ai cũng có thể đón nhận món quà cao quý này của Thiên Chúa, dù ở nhà chúng ta, trong gia đình hay trong cộng đoàn Giáo hội.


2) Vai trò trung gian của Giáo hội trong việc đưa Lời Thiên Chúa đến với muôn dân. Công đồng Vaticanô II xác định:


"Giáo hội luôn tôn kính Kinh thánh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh truyền, Kinh thánh đã và đang được Giáo hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Kinh thánh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Tiên Tri cùng với các Tông Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Kinh thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn...» (Dei Verbum, số 21).[193]


Ngày nay, Giáo hội Công giáo đã ý thức nhiều hơn về sức mạnh của Lời Thiên Chúa trong tất cả hoạt động của Giáo hội. Nhờ vậy, người Công giáo cũng bắt đầu ý thức vào việc nghe đọc và học hỏi Kinh thánh trong đời sống.


3) Tương quan giữa các Kitô hữu và những người được sai loan truyền Tin Mừng. Trong chương này, chúng ta đã không bàn đến một cách kỹ lưỡng vai trò của các mục tử, các giảng viên, hay các nhà nghiên cứu Kinh thánh, chúng ta cũng không nói đến bản chất và hiệu quả của các bài giảng[194], các bài viết về Kinh thánh, nhưng chúng ta cũng nhắc đến nhiều lần tầm quan trọng của họ trong việc hiểu sâu xa hơn về lời Chúa và giúp chúng ta khỏi lạc hướng.


Công đồng Vativanô II cũng đã nói rõ ràng về điều này:"Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Kinh thánh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của lời Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành "kẻ huênh hoang rao giảng lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe lời Thiên Chúa trong lòng."[195]


Nhưng không chỉ những người có trách vụ giảng dạy, mới phải đọc và nghiên cứu Kinh thánh. Thiên Chúa mời gọi toàn dân Ngài mở tai lắng nghe lời Ngài dạy bảo. Lời nói đánh thức, cho chúng ta tự do, chữa lành, và sáng tạo con người. Thiên Chúa đã chọn phương tiện này để đàm thoại và bày tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta.  Nếu Thiên Chúa nói với chúng ta, nếu chúng ta biết lắng nghe, hiểu và trả lời. Giữa Ngài và chúng ta bắt đầu một liên hệ thực, được nuôi sống bằng lòng trung thành và bằng hữu. Chúng ta sẽ nhận ra tình yêu cao cả và chân thật của Ngài. Và chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy lời thiêng biến đổi tâm hồn và cuộc sống chúng ta.


Như thế, việc đọc Kinh thánh của những người Kitô hữu hướng về việc tuyên xưng đức tin, đức tin này dựa trên nền tảng Lời Thiên Chúa, khi đọc Kinh thánh các Kitô hữu chấp nhận tất cả những gì được viết trong các sách trong Thư Quy Công giáo, chính Lời Thiên Chúa Mặc khải cho loài người.


Chú thích:

[180] "La pratique de la lectio divina, si elle est promue de façon efficace, apportera à l'Eglise, j'en suis convaincu, un nouveau printemps spirituel". Benoît XVI, le 16 septembre 2005.

[181] G4uigues 1er Le Chartreux, http://fr.wikipedia.org/wiki/Guigues_Ier_le_Chartreux, tham khảo ngày 27/03/2015.

[182] http://de.wikipedia.org/wiki/Scala_claustralium.

[183] Lectio Divina, theo Wikipedia, http://fr.wikipedia.org/wiki/Lectio_divina, xem ngày 16/03/2015.

[184] Lectio Divina, La Parole de Dieu chaque jour, http://lectiodivina.catholique.fr/accueil/, tham khảo ngày 16/03/2015.

[185] http://fr.wikipedia.org/wiki/Ignace_de_Loyola.

[186] Chính là ý nghĩa mà Thánh Inhã  đã viết trong chú thích đầu tiên giải thích tựa đền của sách ngài : "Par ce terme d’exercices spirituels, on entend toute manière d’examiner sa conscience, de méditer, de contempler, de prier vocalement et mentalement, et d’autres opérations spirituelles, comme il sera dit plus loin. De même, en effet, que se promener, marcher et courir sont des exercices corporels, de même appelle-t-on exercices spirituels toute manière de préparer et de disposer l’âme pour écarter de soi toutes les affections désordonnées et, après les avoir écartées, pour chercher et trouver la volonté divine dans la disposition de sa vie en vue du salut de son âme".

[187] Geneviève MÉDEVIELLE, "La Bible dans l’accompagnement spirituel", trong La Bible, Parole adressée, Lectio Divina 183, Jean-Louis SOULETTI và Henri-Jérôme GAGEY, Cerf, Paris, 2001, tr. 81-93.

[188] Geneviève MÉDEVIELLE, "La Bible dans l’accompagnement...", tr. 81-82.

[189] Paul BEAUCHAMP, Parler d’Ecritures Saintes, Paris, Seuil, 1987, tr. 40. "Il ne s’agit pas d’autre chose dans la Bible, dit Paul Beauchamp, que ce bouleversement de l’homme par lequel on entre dans dans la crainte de Dieu jus’quà devenir disciple." trích dẫn bởi, G. MEDÉVIELLE, "La Bible dans l’accompagnement...", tr. 88.

[190] Pierre-Marie CARRÉ, La Parole du Seigneur (Lời Thiên Chúa), Cahier Évangile, số 163. Về Huấn dụ Verbum Domini, tr. 45-47.

[191] "Vậy trong Kinh thánh, tỏ hiện sự “hạ cố” kỳ diệu của Đức Khôn Ngoan vĩnh cửu, mà vẫn không làm tổn thương sự chân thật và thánh thiện của Thiên Chúa, “để chúng ta học biết lượng nhân từ khôn tả của Thiên Chúa và biết, do quan phòng săn sóc đến bản tính chúng ta, Ngài đã thích ứng lời nói của Ngài đến mức nào” . Quả thế, các lời của Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với lời nói loài người, cũng như khi xưa Lời của Chúa Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu đuối của loài người, đã trở nên giống như loài người" (Dei Verbum, số 13).

[192] Dei Verbum, số 25, http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/HienChe/DeiVerbum/03PhanHai.html, tham khảo ngày 19/03/2015.

[193] Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X. http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/verbum06.htm. Tham khảo ngày 19/03/2015.

[194] Đích thân Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần nói về bài giảng, nhất là trong tông huấn Evangelii gaudium ở các đoạn 135-159, trong đó ngoài những việc khác, ngài nói : "Bài giảng lễ có một giá trị đặc biệt xuất phát từ bối cảnh Thánh Thể, khiến nó vượt lên trên tất cả các bài giáo lý bởi vì nó là khoảnh khắc cao điểm nhất của sự đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Người, trước khi đi vào thông hiệp bí tích. Bài giảng tiếp nối cuộc đối thoại đã bắt đầu giữa Chúa và dân Người. Người nói bài giảng phải hiểu rõ tâm tư cộng đoàn của mình để tìm hiểu đâu là sự ước muốn Thiên Chúa cách sống động nóng bỏng nhất của họ, và ở đâu mà sự đối thoại đầy tình thương yêu này đã bị bóp nghẹn hay đã không sinh ra được hoa trái".

Một "sách phụng vụ" cho các bài giảng được trình bày với báo chí, ngày, 11/02/2015, tại Vatican, bởi bộ trưởng phụng vụ, Đức Hồng Y Robert Sarah, cùng với Đức Cha Arthur Roche thư ký và Cha Corrado Maggioni, SMM, phó thư ký. Một cuốn "sách các bài giảng lễ" như thế đã được các thượng phụ Thượng Hội Đồng giám mục năm 2008 yêu cầu về Lời Thiên Chúa và yêu cầu này đã được ĐGH Biển Đức XVI nhắc lại trong tông huấn. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, mà theo ngài thì "bài giảng không đáp ứng với Verbum Domini lôgic của các phương tiện truyền thông", đã chấp thuận văn bản cuối cùng. Mai Khôi phỏng dịch Un Directoire pour les homélies publié par le Vatican, L'homélie ne répond pas à la logique des moyens médiatiques. Trong Trang Mạng Truyền Thông Giáo Huấn Xã Hội Cống Giáo, http://www.ghxhcg.com/article.aspx?id=2944, tham khảo ngày 19/03/2015.

[195] Dei Verbum 25.


Kết luận tổng quát


Từ một câu hỏi đơn giản lúc đầu -"này người anh em, cậu có biết có một cuốn sách nào đó căn bản, viết bằng tiếng Pháp, tóm gọn và chỉ dẫn cho biết tất cả các phương pháp đọc và chú giải Kinh thánh không?"- đã dẫn dắt chúng ta vào một cuộc mạo hiểm và khám phá thế giới của Kinh thánh và Truyền thống, không những của Giáo hội Công giáo, mà của Do thái giáo và các Giáo hội Kitô giáo khác.


Từ ngữ mạo hiểm nói lên tính các liều lĩnh đi vào trong một lĩnh vực bao gồm nhiều kiến thức và chuyên môn rộng lớn, liên quan không những đến vấn đề đức tin, thần học mà còn về các khoa học nhân văn khác. Nói như thế, để hiểu rằng, những gì được viết ra nơi đây như là một bước khởi đầu khiêm tốn, hy vọng làm sáng tỏ đôi chút những khái niệm khó khăn trong lĩnh vực diễn giải Kinh thánh.


Ở các trường  thần học hay các nơi dạy đọc Kinh thánh, không ai dám đề cập đến tất cả các công cụ đến từ truyền thống trong một cuốn sách, những phương pháp rất khác nhau đến từ lĩnh vực văn học, nhân văn xã hội, cho phép bởi Giáo hội Công giáo chúng ta ngày nay[196], họ chỉ đưa ra một con đường phương pháp cụ thể, thích hợp với các học viên trong một tiến trình khá dài và qua đó các học viên làm quen với một vài phương pháp hay các tiếp cận phân tích được biết đến ngày nay, hầu mong giúp ích cho việc hiểu lời Thiên Chúa và diễn giải Kinh thánh.


Ngoại trừ một vài người, thường xuất thân từ lĩnh vực chuyên môn của họ trong đời thường, họ dùng những phương pháp nhân văn đã quen biết để làm khí cụ cho việc đọc Kinh thánh của họ. Chẳng hạn, bà Marie BALMARY, là một nhà phân tâm học, hành nghề đã hơn 30 năm, và luôn tiếp tục nghiên cứu vấn đề chuyên môn của bà. Vì yêu mến Kinh thánh, bà theo học với một nhà chú giải có tên tuổi Paul BEAUCHAMP, dòng tên, để tiếp cận với Lời Thiên Chúa.


Marie BALMARY bắt đầu với sách Sáng thế, về nguồn gốc con người, và vận dụng kiến thức phân tâm học có sẵn của mình đễ tiếp cận Lời Thánh. Năm 1986, Marie BALMARY xuất bản cuốnLe sacrifice interdit, Freud et la Bible[197], đọc về ý nghĩa một hy tế không xảy ra, hy tế của Issac. Bà ta vẫn luôn tiếp tục đọc Kinh thánh với tiếp cận phân tâm học này. Và thường như thế, những người đã có được những kiến thức nhân văn có sẵn trong quá trình học và làm việc của mình, dùng cho việc tìm hiểu sâu xa và phong phú hơn Lời của Thiên Chúa.


Chú giải Kinh thánh, một lịch sử sống động


Như chúng ta đã thấy trong lịch sử diễn giải Kinh thánh, chú giải được định nghĩa như một nghiên cứu sâu xa  và có tính cách phê phán một bản văn. Công việc này được thực hiện với tất cả các bản văn vào thời, vào thế kỷ II trước Đức Kitô. Nguời ta đã chú giải một cách nghiêm túc các bản văn của thi hào Homère. Trước khi có chú giải Kitô giáo, người Do thái  đã được thực hiện công việc này để đọc các bản văn Kinh thánh. Các giáo phụ, những nhà thần học đầu tiên của Giáo hội Kitô giáo đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm phân tích giải thích các bản văn Kinh thánh. 


Vào thế kỷ thứ XIX, các tiếp cận phân tích và phê phán các bản văn Kinh thánh nở rộ và phát triển một cách phong phú. Phương pháp phê phán sử quan đã chiếm ưu thế và chinh phục các nhà chú giải. Lúc đầu, Giáo hội Công giáo đã dè dặt với phương pháp chú trọng đến lịch sử của bản văn, sau đó đến năm 1943, như chúng ta thấy, Tông thưDivino afflante Spiritucủa Đức Giáo hoàng Piô XII, đã cởi bỏ việc kiểm duyệt gắt gao các chú giải.


Marie-Joseph LAGRANGE và Roland de VAUX, hai nhà chú giải đã có công rất lớn trong việc bắt đầu và phát triển phương pháp phê phán sử quan tại Pháp, đã gặp nhiều khó khăn lúc đầu, để thuyết phục phái bảo thủ trong Giáo hội chấp nhận phương pháp này, hay nói đúng hơn là họ phải đối đầu với việc hòa hợp lý thuyết lịch sử các bản văn với thần học linh hứng Kinh thánh.[198]


Trong thế kỷ XX, nhiều phương pháp và tiếp cận mới đã xuất hiện, phân tích thuật chuyện, Tu từ học, ký hiệu học,..., phương pháp phê phán sử quan tuy vẫn luôn chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong chú giải. Giáo hội, nhất là Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, đã khuyên các nhà chú giải nên dùng các phương pháp khác nhau để hỗ trợ cho nhau trong vấn đề nhận biết ý nghĩa Lời Thiên Chúa.


Một hiểu biết mới về ý nghĩa và sự thật


Và ngày nay, ảnh hưởng bởi các triết học đương thời, của triết gia Heidegger, Gadamer, Paul Ricoeur, người ta nhận ra rằng ý nghĩa Kinh thánh không phải đơn thuần là ngữ nghĩa chất chứa trong các bản văn, mà một gặp gỡ năng động giữa nhiều yếu tố: sách, tác giả, người đọc, và nhiều tác nhân khác. Vì thế, ý nghĩa Lời Thiên Chúa không tự áp đặt cho một độc giả thụ động. Gadamer, như chúng ta đã nhắc đến, nghĩ rằng việc hiểu biết một tác phẩm có liên hệ rất chặt chẽ với trải nghiệm hiện sinh của người đọc; trong chú giải một bản văn, ý nghĩa mở rộng về phía người đọc hơn là người viết.[199]


Như thế, phương pháp đọc tường thuật hay chuyện kể, một phân tíchđồng đại, khác với phương pháplịch đạiphê phán sử quan,  đã chú ý đến việc trao đổi thông điệp giữa tác giả và độc giả, vì người đọc chính là thành phần năng động của truyền thông giao tiếp này. Người ta khám phá ra giữa câu chuyện được viết và thế giới của nó xen lẫn vào các thao tác của việc đọc bản văn. Nhờ việc đọc, độc giả sẽ đạt đến việc xây dựng và cư ngự một thế giới mà bản văn đã đề nghị cho họ.[200]


Từ một tiếp cận chú tâm vào các quy luật soạn thảo bản văn và các dữ kiện lịch sử, người chú giải thời nay hướng phân tích của mình đến sự tiếp nhận bản văn. Nói như thông diễn học, bản văn chờ đợi những gì người đọc góp phần vào. Điều chính yếu của ý nghĩa hướng về biến cố "đọc". Phương pháp thuật chuyện đã nắm lấy các phân tích văn chương và dựa trên khoa triết học ngôn ngữ và diễn đạt. Người đọc sẽ khám phá những gì còn ẫn dấu trong bản văn, những gì không được nhắc đến một cách tỏ tường.


Việc đọc Kinh thánh là một mạo hiểm khám phá rất năng động, đòi hỏi khả năng và tâm tưởng của người đọc cũng như những gì học nắm bắt được từ tác giả. Triết gia người Pháp Paul RICOEUR đã cố gắng lý thuyết hóa sự dấn thân của người đọc bằng nhiều cách thức, khi nói rằng ý nghĩa tách ra từ bản văn được lấy lại bởi người đọc, ý nghĩa mà họ đã trải nghiệm trong cuộc sống...[201]


Những nguời chủ trương đọc Kinh thánh theo phương pháp sử quan, phương pháp muốn đi tìm bản văn gốc, hoặc cho rằng, qua bản văn họ có, họ có thể tìm thấy ý nghĩa của người viết. Như thế ý nghĩa tùy thuộc vào tác giả đã định một lần cho tất cả. Và cuộc tranh cãi giữa các nhà chú giải theo phương pháp lịch đại và những người áp dụng phương pháp đồng đại đã giảm dịu đi rất nhiều.


Thật ra các cuộc tranh cãi về ý nghĩa giữa các nhà chú giải ảnh hưởng bởi các phương pháp đọc Kinh thánh khác nhau này, xét cho cùng không hợp với Lời hằng sống của Thiên Chúa luôn muốn tỏ hiện với con người bằng nhiều cách khác nhau, như ta đã thấy qua phụng vụ, cầu nguyện, giáo lý và linh thao. Các tín hữu không cần phải trở nên thông thái để có thể đón nhận Lời Thiên Chúa, Lời nuôi sống chính đức tin của họ. Nữ tu Geneviève MEDÉVIELLE đã viết khi suy nghĩ về việc đón nhận ý nghĩa Lời Thiên Chúa trong linh thao và các gặp gỡ linh hướng:"Nhưng chúng ta cũng có thể trải nghiệm một bất ổn khi nghe một bài đọc không có tiếng vang nào trong lòng chúng ta và cho chúng ta.Công cụ phê phán sử quanđã thực sự đào sâu khoảng cách giữa người đọc và bản văn Kinh thánh, đến nỗi mà người đọc đã quên mất sự liên đới riêng biệt đức tin với những kẻ người mà đức tin của họ được đặt để trong bản văn."[202]


Nhờ tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, Ý nghĩa Lời Thiên Chúa luôn là lương thực tươi mới cho đời sống của tất cả ngững người tin vào Thiên Chúa và cho Giáo hội.


Viễn cảnh của việc đọc Kinh thánh


"Giáo hội, dân Thiên Chúa, đã ý thức được giúp đỡ bởi Chúa Thánh Thần trong việc hiểu biết và diễn giải Kinh thánh"[203]và đã chỉ cho chúng ta, những người tín hữu, thấy những viễn cảnh mới việc đọc và tiếp cận Kinh thánh:


- Trải nghiệm Lời Thiên Chúa, trong cuộc sống cộng đoàn một cách bền vững, qua việc tìm hiểu sâu xa và giải thích một các tiệm tiến Mặc khải đón nhận.


- Ý thức rằng Chúa Thánh Thần luôn tác động trong mọi tiếp cận với Lời Thiên Chúa, Ngài là Thần Khí của sự thật (Ga 16,12-13).


- Mầu nhiệm Đức Kitô luôn là trung tâm điểm của Kinh thánh (Dei Verbum, 14-16).


Từ viễn cảnh này, Giáo hội đưa ra các"kim chỉ nam"cho các nhà chú giải, cho các hoạt động mục vụ và phụng vụ, cho các tín hữu, người đọc Lời Thiên Chúa:


- Trước tiên, các nhà chú giải Công giáo, có nhiệm vụ học hỏi, nghiên cứu và giải thích Kinh thánh với mục đích đem tất cả giàu có của ý nghĩa Lời Thiên Chúa đến cho các mục tử và tín hữu. Họ chú ý đến tính cách lịch sử của Mặc khải Kinh thánh[204], nhưng không bao giờ quên rằng các bản văn viết bởi các tác giả con người chính là Lời Thiên Chúa. Họ phải luôn đặt trọng tâm chú giải vào Kitô học, vào mầu nhiệm Đức Kitô và truyền thống của Giáo hội và cũng nên chú ý đến tính cách phổ quát của Lời Thiên Chúa, có nghĩa là chú ý đến những chờ đợi nơi các tôn giáo và của thế giới hiện nay.[205]Giáo hội cũng không quên nhắc lại các nhiệm vụ chính yếu của những nhà chú giải: nghiên cứu, giảng dạy và xuất bản.[206]Tương quan giữa Kinh thánh và các môn Thần Học khác, chỉ cần nhắc lại câu xác quyết này của Giáo hội:"việc nghiên cứu Kinh thánh"có thể một cách thực thụ là"linh hồn của Thần học" (Dei Verbum, số 24).[207]


- Thứ đến, viễn cảnh cập nhật hoá Kinh thánh trong đời sống không chỉ là một cần thiết cho đức tin người Công giáo, nhưng đó cũng là việc minh chứng sự thật của Lời Thiên Chúa luôn sống động và luôn mới.


Giáo hội đưa ra trước tiên các nguyên tắc tại sao phải luôn cập nhật hóa Lời Thiên Chúa: a) sứ điệp Kinh thánh luôn tương đối hóa và làm triển nở và phong phú hóa hệ thống giá trị và các tiêu  chuẩn hành vi cư xử của mỗi thế hệ, b) sứ điệp Thiên Chúa luôn có giá trị bền vững và vượt thời gian, c) sứ điệp Tin Mừng gắn liền với tính năng động của truyền thống sống của cộng đoàn đức tin.


Từ các nguyên tắc này, Giáo hội đưa ra ba phương pháp: a) Kinh thánh giải thích Kinh thánh, b) một chú giải tuân thủ theo một con đường phương pháp nghiêm túc và khách quan, c) theo con đường của Thông diễn học.


Và Giáo hội cũng nói đến các giới hạn của việc cập nhật hóa Kinh thánh: a) tránh các cách đọc theo khuynh hướng và bè phái, b) tránh các lý thuyết chống lại các hướng đi nền tảng của Kinh thánh, c) tránh các cập nhật hóa đi ngược công lý và bác ái Kitô giáo, và chú trọng đến tinh thần của Công đồng Vaticanô II (Nostra Aetate, 4).[208]


- Viễn cảnh trong việc đọc Kinh thánh cũng nhắm vào việc hội nhập văn hóa,  trên nền tảng thần học nói rằng"Lời Thiên Chúa siêu vượt các nền văn hóa trong đó Lời Ngài đã diễn đạt và có khả năng lan truyền trong các văn hóa khác, để đạt đến tất cả con người trong bối cảnh văn hóa nơi họ sống .’’[209]Cụ thể, hội nhập văn hóa có nghĩa là - a) dịch Kinh thánh trong ngôn ngữ địa phương, - b) diễn giải sứ điệp Kinh thánh tương hợp với cách cảm nhận, suy nghĩ, và cách sống trong bối cảnh văn hóa cá biệt, c) không chỉ theo một chiều duy nhất, mà phải thấy được sự triển nở hỗ tương.[210]


Giáo hội không quên các nơi chốn quan trọng qua đó tất cả các tín hữu được nuôi sống bằng Lời Thiên Chúa, mà chúng ta đã đề cập một vài yếu tố phổ thông trong chương V, chương cuối cùng của sách này: Phụng vụ,lectio divina, công tác mục vụ, và trong hiệp thông giữa các Giáo hội Kitô giáo.[211]


Tuy sách đã dài, nhưng cũng không thể đề cập đến tất cả những gì liên quan đến việc đọc Lời Thiên Chúa. Hy vọng là các vần đề nêu ra trong đây sẽ khuyến khích và cổ võ chúng ta trong việc đi tìm gặp gỡ chính Đức Kitô qua Lời của Ngài, quà tặng vô giá ban tặng cho nhân loại.


Chú thích:

[196] L'Interprétation de la Bible dans l'Eglise : Allocution de sa Sainteté le pape Jean-Paul II et document de la Commission biblique pontificale, Broché, Paris, Cerf, 1994.

[197] Marie BALMARY, Le sacrifice interdit : Freud et la Bible, Paris, Grasset, 1986.

[198] Guy COUTURIER (giám đốc xuất bản), Les patriarches et l’histoire, Paris-Montréal, Cerf(lectio divina)-Fides, 1998.

[199] Hans Georg GADAMER, Warheit und Methode. Grundzüge einer philosophischen Hermeneutik, Türbingen, Mohr Siebeck, 1990.

[200] Anne-Laure ZWILLING, "Lire et interpréter : l’exégèse, le texte et le lecteur, trong Lire et interpréter, les religions et leurs rapports aux textes fondateurs, Genève, Labor et Fides, 2013, tr. 210.

[201] Paul RICOEUR, Temps et récit. Tomme III : Le temps raconté, Paris, Le Seuil, 1985.

[202] "Mais nous avons pu aussi expérimenter le malaise d’une lecture qui ne semble avoir aucun écho en nous et pour nous. L’outillage historico-critique a si fortement creusé la distance entre le sujet lecteur et le texte biblique, que le lecteur en est venu à oublier sa propre solidarité croyante avec ceux dont la foi s’est déposée dans ces textes". Geneviève MEDÉVIELLE, "Dans l’accompagnement spiriruel", trong La Bible, Parole adressée, xuất bản bởi Jean Louis SOULETTIE và Henri Jérôme GAGEY, Lectio Divina 183, Paris, Cerf, 20O1, tr. 83.

[203] L’Interprétation de la Bible dans l’Église, Commission Biblique Pontificale, Paris, Cerf, 1994, tr. 84.

[204] Khi nói đến tính cách lịch sử của Kinh thánh, Giáo hội luôn nhắc nhở các nhà chủ giải sử dụng phương pháp sử quan như sau : "En conséquence, les exégètes ont à se servir de la méthode historico-critique. Ils ne peuvent, toutefois, lui attribuer l’exclusivité. Toutes les méthodes pertinentes d’interprétation des textes sont habilitées à apporter leur contribution à l’exégèse de la Bible". L’Interprétation de la Bible dans l’Église, tr. 92.

[205] L’Interprétation de la Bible dans l’Église, tr. 94.

[206] L’Interprétation de la Bible dans l’Église, tr. 94-97.

[207] L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise, tr. 99.

[208] L’Interprétation de la Bible dans l’Eglise, tr. 106.

[209] "... la Parole de Dieu transcende les cultures dans lesquelles elle a été  exprimée et a la capacité de se propager dans les autres cultures, de façon à atteindre toutes les personnes humaines dans le contexte culturel  où elles vivent". L’Interprétation de la Bible dans l’Église, tr. 107.

[210] L’Interprétation de la Bible..., tr. 107-109.

[211] L’Interprétation de la Bible..., tr. 109-116.


Thư mục


Tài liệu Giáo hội


Providentissimus, Thông điệp đề nghị những quy phạm về việc nghiên cứu Kinh thánh, Đức Giáo hoàng Lêô XIII, năm 1893.

Vigilantiae, Đoản sắc Vigilantiae studiique, thành lập ủy vụ Kinh thánh có nhiệm vụ cổ động phong trào khảo sát Kinh thánh và lo cho sự học hỏi này khỏi bị sai lầm, Đức Giáo hoàng Lêô XIII, năm 1902.

Lamentabili sane exitu, Tông huấn lên án một cách cụ thể 65 đề nghị của phái Canh Tân (modernisme), năm 1907.

Pascendi Dominici gregis, Tông huấn của Đức Giáo hoàng Piô X, tố cáo các sai lầm của phái Canh tân, ban hành năm 1907.

Sacrorum antistitum, Thư của Đức Giáo hoàng Piô X, kêu gọi tuyên thệ chống Canh Tân, năm 1910.

Spiritus Paraclitus, Thông điệp mang lại nhiều khích lệ cho các nhà chú giải Kinh thánh, cổ vũ các tín hữu đọc Kinh thánh. "Sự đặc miễn hoàn toàn của Kinh thánh đối với mọi sai lầm" vẫn được duy trì, Đức Giáo hoàng Biển Đức XV, năm 1920.

Divino Afflante Spiritu, tông thư về những nghiên cứu Kinh thánh. Thông điệp này đã chính thức chấp nhận việc áp dụng các phương pháp sử học vào việc nghiên cứu Kinh thánh, tuy đã bắt đầu từ đầu thế kỷ XX với cha Joseph Lagrange khi thiết lập học viện Kinh thánh tạiJerusalem, thông điệp này cũng đã mở đường cho những nhà chú giải Công giáo, Đức Giáo hoàng Piô XII, năm 1943.

Sacrosactum Concilium,  Hiến Chế về Phụng Vụ thánh, năm 1963.

L'instruction sur la vérité historique des évangiles, Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, năm 1964.

Nostra Aetate, Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với cCác Tôn giáo ngoài Kitô giáo,  Công đồng Vaticanô  II, năm 1965.

Dei Verbum, Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa, Công đồng Vaticanô II, năm 1965.

Foi et culture à la lumière de la Bible, nhà xuất bản LDC, Turin 1981.

L'Interprétation de la Bible dans l'Eglise: Allocution de sa Sainteté le pape Jean-Paul II et document de la Commission biblique pontificale, Broché, Paris, Cerf, 1994.

Le peuple juif et ses Écritures saintes dans la Bible chrétienne, Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, năm 2001.

Bible et morale. Les racines bibliques de l'agir chrétien, Ủy Ban Giáo hoàng Kinh thánh, năm 2008.

Verbum domini, Tông huấn của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, về lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội Thánh, năm 2010.

Evangelii Gaudium, Tông huấn của Đức Giáo hoàng Phanxicô, 2013.


Sách biên khảo


ABADIE Philippe (éd), Aujourd’hui, lire la Bible. Exégèses contemporaines et recherches universitaires, Lyon, Profac, 2008.

ALETTI, Jean Noël, "Comment Paul voit la justice de Dieu en Rm – Enjeux d’une absence de définition", Bib. 73 (Biblica, Roma), 1992, p. 359-375.

ALETTI, Jean Noël, "L’autorité apostolique de Paul, Théorie et pratique", dans L’Apôtre Paul, Personnalité, style et conception du ministère, A. Vanhoye (éd), LUP (Leuven University Presse), Leuven, 1986, p. 229-246.

ALETTI, Jean Noël, "La disposition rhétorique dans les épîtres pauliniennes: proposition de méthode", NTS 38 (New Testament Studies), 1992, p. 385-401.

ALETTI, Jean Noël, "La présence d’un modèle rhétorique en Romains. Son rôle et son importance", Bib. 71 (Biblica, Roma), 1990, p. 1-24.

ALETTI, Jean Noël, "Les études sur Saint Paul", RSR 90 (Recherches de Science Religieuse), 2002, p. 325-351.

ALETTI, Jean Noël, "Paul et la rhétorique, Etat de la question et propositions", dans Paul de Tarse, LeDiv 165 (Lectio Divina), Cerf, Paris, 1996, p. 27-50.

 ALETTI, Jean Noël, "Rm 1,18-3,20: Incohérence ou cohérence de l’argumentation paulinienne?", Bib. 69 (Biblica Roma), 1988, p. 47-62.

ALETTI, Jean Noël, Comment Dieu est-il juste? Clefs pour interpréter l’épître aux Romains, Parole de Dieu, Seuil, Paris, 1991.

ALETTI, Jean Noël, Israël et la Loi dans la lettre aux Romains, LeDiv 173 (Lectio Divina), Cerf, Paris, 1998.

ARCHER, Gleason, Introduction à l’Ancien Testament, Emmaüs, 1978.

ARISTOTE, Rhétorique, I, Texte établi et traduit par M. Dufour, Quatrième tirage, BL (Les Belles Lettres), Paris, 1991 (1931).

ARISTOTE, Rhétorique, II, Texte établi et traduit par M. Dufour, Quatrième tirage, BL (Les Belles Lettres), Paris, 1991 (1938).

ARISTOTE, Rhétorique, III, Texte établi et traduit par M. Dufour (†) et André Wartelle, Troisième tirage, BL (Les Belles Lettres), Paris, 1989 (1973).

ARISTOTE, Topiques, traduit par J. Brunschwig, BL (Les Belles Lettres), Paris, 1967.

AUNE, D. E., "Romans as a logos protreptikos", dans The Romans Debate, Second edition, K. P. DONFRIED (éd), T&T Clark, Edinburgh, 1991, p. 278-296.

BALMARY, Marie,  Le sacrifice interdit: Freud et la Bible, Paris, Grasset, 1986.

BARTON, John Reading the Old Testament: Method in Biblical Study, Darton Longman et Todd, 1984.

BAUKS Michaela, NIHAN Christophe (éd), Manuel d’exégèse de l’Ancien Testament, Genève, Labors et Fides (Le Monde de la Bible 61), 2008.

BEAUCHAMP, Paul, Parler d’Ecritures Saintes, Paris, Seuil, 1987.

BEGUERIE, Philippe "La Bible née de la liturgie", Maison Dieu, n° 126/2, 1976, p. 108-116.

BLANCHARD, Yves-Marie, "Interdépendance entre la formation du Canon biblique chrétienne et la lecture liturgique", trong Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 69-93.

BRAGA, James, Etudions la Bible, Vida, 1988.

Bultmann, Rudolf, Foi et Compréhension, trad.André Malet, Paris, Seuil, 1969.

Bultmann, Rudolf, Jésus: mythologie et démythologisation, préf.Paul Ricœur, Paris, Seuil, 1968.

Bultmann, Rudolf, L'Histoire de la tradition synoptique, Paris, Seuil, 1973.

BURGESS, Th. C., "Epideictic Literature", UCSCP 3 (The University of Chicago Studies in Classical Philology), University Press, Chicago,1902, p. 89-261.

CARRÉ, Pierre-Marie, La Parole du Seigneur (Lời Thiên Chúa), Cahier Évangile, số 163. Về Tông huấn Verbum Domini, tr. 45-47.

CHAUVET, Louis Marie "La Bible dans son site liturgique", dans La Bible, parole adressée,..., Lectio Divina 183, Ed par Jean-Louis SOULETTIE et Henry Jérôme GAGEY,  Cerf, Paris, 2001, p. 60.

CHAUVIN, Constantin La Bible depuis ses origines jusqu'à nos jours. La Bible chez les Juifs, Hachette, Éd.1900, Paris. Hoặc là La Bible chez les Juifs, http://www.mediterranee-antique.fr/Auteurs/Fichiers/ABC/Chauvin_Constantin/Bible.

CHEVALLIER, Max-Alain, L’exégèse du Nouveau Testament, Labor et Fides, 1984.

CHRETIEN, Jean Louis, "Se laisser lire avec autorité par les Saintes Ecritures", RSR (Recherches de Science Religieuse), số 1, Tome 92, Paris, 2014.

COUTURIER Guy (giám đốc xuất bản), Les patriarches et l’histoire, Paris-Montréal, Cerf(lectio divina)-Fides, 1998.

DE CLERK, Paul, "L’Ordo lectionum missae de l’Église romaine", trong Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 239-252.

DE LUBAC, Henri, Exégèse médiévale. Les quatre sens de l’Ecriture, Aubier, 1959.

DE MOOR Johannes C. (éd), Synchronic or Diachronic? A Debate on Method in Old Testament Exegesis: Papers Read at the Ninth Joint Meeting of het Oudtestamentisch Werkgezeschap in Nederland en Belgie and the Society for Old Testament Study, Held at Kampen 1994, Leiden/New York/Cologne, Brill, 1994.

DE VAUX, Roland, Les institutions de l’Ancien Testament, Cerf, 1961.

DONFRIED, K. P., "False Presuppositions in the Study of Roman", CBQ 36, 1974, p. 332-358, dans The Romans Debate, K. P. Donfried (ed.), Hendrickson, Peabody, 1991, p. 102-125.

DOTY, W. G., "The Classification of Epistolary Literature", CBQ 31 (The Catholic Biblical Quarterly), 1969, p. 183-199.

DOTY, W. G., Letters in Primitive Christianity, GBSNTS (Guides to Biblical Scholarship New Testament Series), Fortress Press, Philadelphia, 1973.

DUVAL-POUJOL, Valérie, 10 clés pour comprendre la Bible, Empreinte Temps Présent, 2004.

FEE Gordon et STUART, Douglas, Un nouveau regard sur la Bible. Un guide pour comprendre la Bible, Vida, 1990.

FREUD, Sigmund, Introduction à la psychanalyse, trad. fr., Paris, Payot, 1966.

GADAMER, Hans Georg, Warheit und Methode. Grundzüge einer philosophischen Hermeneutik, Türbingen, Mohr Siebeck, 1990.

GADAMER, Hans-Georg, Vérité et méthode, éd. intégrale, Paris, Seuil, 1996.

GEFFRE, Claude, "Les enjeux actuels de l’herméneutique chrétienne", Revue de L’Institut Catholique de Paris, n° 55, 09/1995.

GIBERT Pierre, Petite histoire de l’exégèse biblique, Paris, Cerf (Lire la Bible 94), 1992.

GOYENETCHE, Lydie, Esther un chemin pour nous aujourd’hui, lecture sociologique de la figure d’Esther, Camélites de Saint Joseph, http://www.carmelitesdesaintjoseph.com/aventure/esther.html.

GRELOT, Pierre, Le sens chrétien de l’Ancien Testament, Desclée, 1962.

Guillemette Pierre et Brisebois Mireille, Introduction aux méthodes historico-critiques, Montréal, La Corporation des Editions Fides, 1987.

HARL, Marguerite "Introduction à la Philocalie", Philocalie livre 1-20, et La Lettre à Africanus sur l'histoire de Suzanne (par Origène), Des Sources Chrétiennes, 302, Cerf, Paris, mai 1983.

HIMBAZA, Innocent, "L’utilisation de l’Écriture dans le culte juif au début de l’ère chrétienne", trong Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 19-42.

JEWETT, R., "Following the Argument of Romans", dans The Romans Debate: Revised and Expanded Edition, K.P. DONFRIED (éd.), Hendrickson Publishers, Peabody, 1991, p. 265-277.

JOIN-LAMBERT, Arnaud "L’Evangéliaire pour une mystagogie de la présence du Christ dans l’assemblée liturgique", Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 345-365.

JULIEN, Philippe, Pour lire Jacques Lacan: le retour à Freud, Essai, Paris, Seuil, 1995.

KARRIS, R. J., "Romans 14:1-15:13 and the occasion of Romans", dans The Romans Debate: Revised and Expanded Edition, K.P. DONFRIED (éd.), Hendrickson Publishers, Peabody, 1991, p. 65-84.

KENNEDY, G. A., "Review of M. Winterbottom, Quintilian: Institutio Oratoria (2 Vols; OCT; University Press 1970, Oxford)", JRS, 61, 1971, p. 308-309.

KENNEDY, G. A., "The Rhetoric of Advocacy in Greece and Rome", AJP 89, 1968, p. 419-436.

KENNEDY, G. A., A new History of Classical Rhetoric, University Press, Princeton, 1994.

KENNEDY, G. A., Greek Rhetoric Under Christian Emperors, University Press, Princeton, 1983.

KENNEDY, G. A., New Testament Interpretation Through Rhetorical Criticism, University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1984.

KENNEDY, G. A., Progymnasmata, Greek Textbooks of Prose Composition and Rhetoric, SBL (Society of Biblical Literature), APB (Academic Publishers Brill), 2003.

KENNEDY, G. A., The Art of persuasion in Greek, University Press/Routledge & Kegan Paul, Princeton/London, 1963.

KENNEDY, G. A., The Art of Rhetoric in the Roman World 300 B. C. -A. D. 300, University Press, Princeton, 1972.

KUEN, Alfred, Comment interpréter la Bible, Editions Emmaüs, 1991.

KUNZ, Ralph, "La lecture biblique dans le culte des Eglises protestantes de Suisse alémanique et d’Allemagne", Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 262. 267.

LAGRANGE, Marie-Joseph, La méthode historique (série de conférences), 1904.

Laplanche, François, La Crise de l’origine. La science catholique des Évangiles et l’histoire au xxème siècle, coll. de l’humanité, Paris, Albin Michel, 2006.

LEON-DUFOUR, Xavier,  Dictionnaire du Nouveau Testament, Seuil, 1976.

LIENHARD, Marc, "Lire, prêcher et interpréter la Bible dans le culte: les intentions des réformateurs", Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006, tr. 189-203. 

LOISY, Alfred, L'Évangile et l'Église, Paris, Alphonse Picard et fils, 1902.

LUND Eric et P. NELSON, Herméneutique. Comment interpréter la Bible, Vida, 1985.

MAINVILLE Odette, La Bible au creuse de l’histoire, Coll. Sciences bibliques, Montréal, Médiaspaul, Canada, 1995.

MARGUERAT Daniel et BOURQUIN Yvan, Pour lire les récits bibliques. Initiation à l’analyse narrative, Paris, Cerf, 2009.

Matand Bulembat, Jean-Bosco, Noyau et enjeux de l'eschatologie paulinienne: de l'apocalyptique juive et de l'eschatologie hellénistique dans quelques argumentations de l'apôtre Paul, Walter de Gruyter, 1997.

MÉDEVIELLE, Geneviève, "La Bible dans l’accompagnement spirituel", trong La Bible, Parole adressée, Lectio Divina 183, Jean-Louis SOULETTI và Henri-Jérôme GAGEY, Cerf, Paris, 2001, tr. 81-93.

Meier, J.-P. Un certain Juif Jésus. Les données de l’histoire. Cuốn I: Les sources, les origines, les dates (LD), Cerf, Paris, 2005, chương vi: "Comment déterminer ce qui vient de Jésus?", p. 101-118.

MENEY, Roland "L’analyse rhétorique, Une nouvelle méthode pour comprendre la Bible", http://www.retoricabiblicaesemitica.org/Articolo/francese_080121.pdf.

MEYNET, Roland, Lire la Bible, Paris, Flammarion, 2003.

MILLARD, Alan, Des pierres qui parlent. Lumières archéologiques sur les lieux et les temps bibliques, Excelsis, 1998.

MIQUEL Pierre, EGRON Agnès, PICARD Paula, Les mots-clés... Les Classiques Bibliques, Beauchesne, Paris, 1992. http://www.kt42.fr/mots-cles-les-mots-de-la-bible-a78665249.

MONTAGNES, Bernard, Marie-Joseph LAGRANGE, une biographie critique, Histoire, Paris, Cerf, 2005.

MURPHY O’CONNOR, J., Paul et l’art épistolaire, Cerf, Paris, 1994.

NEHER, André et Renée, Histoire biblique du peuple d’Israël, Adrien Maisonneuve, 1988.

NIDA, Eugène A., Coutumes et cultures, Anthropologie pour Missions Chrétiennes, Groupes Missionnaires, 1978, tr. 17-43.

PAUL, André, "Les Écritues dans la société juive au temps de Jésus", Recherches de Science Religieuse, Tome 89, 2001/1.

PERELMAN, Chaïm et OLBRECHTS-TYTECA, Lucie, Traité de l’argumentation,..., éditions  de l’Université de Bruxelles, 6ème éd., 2008.

PERES, Jacques-Noël, "Lecture par le christianisme ancien, L’interprétation des Ecritures par les Pères de l’Eglise", ERA (Etudes et recherche d’Auteuil), Conférence du 8 décembre 2007.

Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006.

PRÉTOT, Patrick "Vatican II - nouvelle appréciation de la Parole de Dieu", trong Présence et rôle de la Bible dans la liturgie, édité par Martine Klöckerner, Bruno Bürki, Arnaud Join-Lambert, Academic Presse Fribourg, Academic Press Fribourg, Suisse 2006.

Quarante mots clés..., Coll. Carnets Fêtes et Saisons, Edistions du Cerf, Paris, 1993.

RATZINGER, Joseph, Jésus de Nazareth, Tome 1, Essai, Paris, Flammarion, 2007.

RICOEUR, Paul De l'interprétation. Essai surSigmund Freud, Le Seuil,1965.

RICOEUR, Paul, Du texte à l'action. Essais d'herméneutique II, Le Seuil, 1986.

RICOEUR, Paul, La métaphore vive, Le Seuil, 1975.

RICOEUR, Paul,Temps et récit. Tome I: L'intrigue et le récit historique, Le Seuil, 1983.

RICOEUR, Paul, Temps et récit. Tome II: La configuration dans le récit de fiction, Le Seuil, 1984.

RICOEUR, Paul, Temps et récit. Tome III: Le temps raconté, Le Seuil, 1985.

RICOEUR, Paul L’herméneutique biblique, Présentation et traduction par François-Xavier Amherdt, coll. La nuit surveillée, Paris, Cerf, 2001.

RÖMER Thomas, MACCHI Jean-Daniel, et NIHAN Christophe (éd), Introduction à l’Ancien Testament, Labors et Fides, Genève 2009.

SCHILLEBEECKX, Edward, Expérience humaine et foi en Jésus Christ, Paris, Cerf, 1981.

SIMON, Richard,  Histoire critique du Vieux Testament (1678), suivi de Lettre sur l’inspiration. Nouvelle édition annotée et introduite par Pierre Gibert, Bayard, Paris, 2008.

SKA, Jean Louis, "Richard SIMON, un pionnier sur les chantiers de la traduction", RSR (Recherches de Science Religieuse) 2009/2, Tome 97, p. 307-316.

STRONG, James, The New Strong's Expanded Exhaustive Concordance of the Bible, Hardcover, 2010.

STUART, Douglas, Old Testament Exegesis: a Primer for Students and Pastors, Westminster Press, 1980.

WELLS, Paul, Quand Dieu a parlé aux hommes, LLB (Ligue pour la Lecture de la Bible), 1985.

WÉNIN, A., Brève présentation de l’analyse narrative, http://www.segec.be/Documents/Fesec/Secteurs/religion/Outil-Breve-pres_anal-narrative.pdf.

WESTPHAL, A., Dictionnaire encyclopédique de la Bible, Empreinte, 2003.

WHITE, J. L., "Introductory Formulae in the Body of the Pauline Letter", JBL 90 (Journal of Biblical Literature), 1971, p. 91-97.

WHITE, J. L., "New Testament Epistolary Literature in the Framework of Ancient Epistolography", dans Aufstieg und Niedergang der römischen Welt, II. 25, 2, Berlin, de Gruyter, 1984, p. 1730-1756.

WUELLNER, W., "Paul’s rhetoric of argumentation in Romans: an alternative to the Donfried-Karris debate over Romans", dans The Romans Debate: Revised and Expanded Edition, K.P. DONFRIED (éd), Hendrickson Publishers, Peabody, 1991.

YOUNG, Robert, Young's Analytical Concordance to the Bible, Hendrickson Publishers, Hardcover, 2011.

ZENGER, Erich, "Les psaumes dans le culte et la piété du peuple d’Israël", trong Lire et interpréter, les religions et leurs rapports aux textes fondateurs, Genève, Labor et Fides, 2013, tr. 97-123.

ZWILLING, Anne-Laure, "Lire et interpréter: l’exégèse, le texte et le lecteur, trong Lire et interpréter, les religions et leurs rapports aux textes fondateurs, Genève, Labor et Fides, 2013.