LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH THÁNH
Lm. Phaolô Ngô Đình Sĩ
--------------------------------
DẪN NHẬP
Vào thế kỷ thứ 5, thánh giáo phụ Gio-an Chrysostome, có lẽ là người đầu tiên dùng từ Hy Lạpbiblia(danh từ số nhiều) để chỉ các bản văn thánh thiêng. Từ này có nghĩa là: sách hoặc cuộn sách. Giáo hội Latinh lấy lại từ này để đặt tên cho Kinh thánh của chúng ta. Khi viết bằng chữ đầu tiên in hoa, Từ chỉ định từ đó các bản văn thánh thiêng của Kitô giáo và Do Thái giáo, và khi viết với chữ thường ở đầu, từbibliachỉ một tác phẩm quan trọng. Do đó, theo nguyên từ học,Bibliahàm ý chỉ rằng đây là một bộ sách tuyệt diệu. Thật vậy,Bibliatrình bày những điểm cá biệt làm cho sách mang tính độc đáo.
Sau đây là các điểm đặc trưng của Kinh Thánh.
Kinh thánh là một tác phẩm tập thể
Vì là một tác phẩm tập thể và đa dạng, Kinh thánh là một thư viện sách soạn thảo bởi nhiều tác giả qua nhiều thời kỳ khác nhau. Nói chính xác hơn, Kinh thánh đã được hơn 40 tác giả không quen biết nhau soạn thảo trong khoảng thời gian 1500 năm. Hơn 40 thế hệ đã liên tục đóng góp vào cuốn sách này, điều này cho chúng ta thấy đây là một phép lạ không thể phủ nhận.
Kinh thánh là một tác phẩm đồng nhất
Toàn bộ các sách này là những lời chứng rất đa dạng và bổ sung đề cập đến những vấn đề tâm linh lớn: Thiên Chúa là ai? Con người là ai? Có thể có một quan hệ giữa Thiên Chúa và con người không và như thế nào? Đây chính là chủ đề của toàn bộ Kinh thánh.
Trong Kinh Thánh, chúng ta có nhiều thể loại văn chương dành cho các chủ đề: thơ ca, bài giảng, văn bản ngôn sứ, giáo huấn, v.v. cũng như thể loại chủ đề: lịch sử, thần học, triết học, thiên nhiên, vũ trụ.
Kinh thánh là bộ sách thời sự
Những cuốn sách này có nguồn gốc trong quốc gia nhỏ, Pa-lét-tin, là một phần của các tác phẩm lâu đời nhất của nhân loại. Tuy nhiên, các sách trong Kinh Thánh vẫn tiếp tục đặt vấn đề cho nhân loại ngày hôm nay. Mỗi thế hệ đã tìm thấy trong đó một lợi ích đích thực: Kinh Thánh vẫn là cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại.
Kinh thánh là một tác phẩm kỷ lục
Trước tiên, Kinh Thánh được dịch nhiều thứ tiếng nhất (2200 bản dịch phần bộ - 400 bản dịch hoàn toàn). Đây là cuốn sách được in đầu tiên: Bản Vulgata xuất bản năm 1456 gồm 2 tập. Kinh Thánh là tác phẩm được phân phối rộng rãi nhất với hơn 2 tỷ cuốn sách - 50 triệu bản mỗi năm. Đây là cuốn sách được sao chép nhiều nhất: 3000 năm sao chép bằng tay. Như thế, chúng ta hiện có nhiều bản thảo nhất, toàn bộ hay một phần Kinh Thánh.
Kinh thánh là một tác phẩm văn học và đạo đức
Nhiều phần của Kinh Thánh là những áng văn chương trong văn học. Soạn thảo trong bối cảnh văn hóa của thời đại, Kinh Thánh luôn đề xuất một nền đạo đức quan trọng và nhấn mạnh không quanh co những thủ đoạn bí mật và đáng trách của động cơ con người. Trước những quan sát sáng suốt này, Kinh Thánh biểu lộ ân sủng thiêng liêng. Nhiều người đã được biến đổi khi đọc Kinh Thánh.
Nhưng Kinh Thánh là một cuốn sách bị tấn công và được bảo vệ
Qua các thời đại, Kinh Thánh đã phải chịu những cuộc tấn công bạo lực nhất. Vào năm 303, hoàng đế Diocletian, trong số những người khác, đã ra lệnh biến mất tất cả các sách vở Kitô giáo. Đó là một cuộc săn lùng có tổ chức thực sự. Các nhà lãnh đạo giáo hội giấu các sách Kinh Thánh khi chỉ giao nộp cho những người "thẩm tra”những cuốn sách ngụy thư để thỏa mãn nhiệm vụ tìm kiếm của họ. 22 năm sau, Hoàng đế Constantin hoán cải sang Ki-tô giáo buộc tội Eusèbe đã thủ tiêu 50 bản Kinh thánh toàn bộ.
Vào thời trung cổ, Giáo hội cấm dịch Kinh thánh sang tiếng bản xứ. Những ai thực hiện việc chuyển ngữ này có nguy cơ đánh mất mạng sống của họ. Kinh thánh đã hoàn toàn xa lạ với dân thường. Luther đã phải đợi đến tuổi trưởng thành để sở hữu một cuốn Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh được bảo vệ bởi một số ít giáo sĩ, họ đã sao chép Kinh Thánh một cách cẩn thận. Chúng ta có thể hiểu tại sao có cuộc bùng nổ của giáo hội Cải Cách.
Vào thế kỷ 18, Voltaire, cố gắng làm mất tính thiêng liêng của Kinh thánh, đã nghĩ rằng một thế kỷ sau ông, Kinh thánh sẽ trở thành một cuốn sách của viện bảo tàng. 26 năm sau khi ông qua đời năm 1778, một "Tổ chức hội Kinh thánh”đầu tiên được thành lập nhằm mục đích truyền bá Kinh thánh trên toàn thế giới với giá cả phải chăng.
Dân đời thường chỉ có thể công nhận những sự thật này. Người tín hữu dành cho Kinh thánh một chiều kích khác, đó là Lời của Thiên Chúa. Thần Trí của Ngài đã thổi bùng sứ điệp thiêng liêng đến cho những con người khác nhau.
I. TẦM QUAN TRỌNG
1. Một Lời
Toàn bộ Kinh thánh là một cuộc trao đổi giữa Thiên Chúa với con người và một lời hứa cứu chuộc. Trong 1 Sm 15,22, ngôn sứ Samuen tuyên bố: "ĐỨC CHÚA có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời ĐỨC CHÚA không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu,”tương ứng với lời kêu gọi lập lại nhiều lần trong Cựu Ước "vâng lời tốt hơn là hy lễ". Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đưa ra nhận xét này:"Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”(Ga 14,21).
Các tôn giáo nhân loại dựa trên những việc phải làm, các nghi thức để hoàn thành, Kinh Thánh là một Lời để lắng nghe và để sống.
2. Một Cuốn sách
Từ đó, cần thiết phải ghi lại giao tiếp giữa Thiên Chúa với con người và nhân rộng trong không gian và thời gian. Điều này giải thích tầm quan trọng mấu chốt của Kinh thánh như một chứng nhân khách quan cho các tư tưởng của Thiên Chúa dành cho con người. Chúa nói trong Tin Mừng:"Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”(Mc 13,31). Thật vậy, cuốn sách này không những chỉ chứa đựng các mệnh lệnh của Thiên Chúa, nhưng cũng là giao ước của Ngài với dân của Ngài và trong Tân Ước, thông điệp phổ quát về sự cứu chuộc và nơi chốn đón tiếp các tín hữu: Giáo Hội.
3. Các tác giả Kinh Thánh
a. Cựu Ước
Một số sách sưu tập các truyền thốngtruyền khẩu hoặc trích dẫn từ tài liệu lưu trữ quốc gia:
Các sách Samuel và Các Vua thuật lại câu chuyện hoàng gia của vương quốc Giu-đa và Ít-ra-en theo cái nhìn truyền thống "thánh thiêng”
Các sách Sử Biên Niên kể cùng một câu chuyện, nhưng với cái nhìn của một truyền thống khác, một truyền thống mang tính "hành chính”hơn.
Một số sách được soạn thảo bởi nhiều tác giả.
Ví dụ, các bản văn của sách I-sa-i-a, trải dài từ năm 740 đến năm 520 trước Công nguyên, và người ta gọi I-sa-i-a "thứ nhất", I-sa-i-a "thứ hai”và I-sa-i-a "thứ ba". Nhiều tác giả, nhưng chỉ có một tư tưởng và cùng một trường phái: trường phái ngôn sứ I-sa-i-a. Vì vậy, một cách nào đó, chúng ta có thể nói, thông qua các môn đệ của mình, sách hoàn toàn lấy cảm hứng từ ngôn sứ I-sa-i-a.
Một ngôn sứ như Giê-rê-mi-a có một thư ký: Ba-rúc.
Các sách Khôn Ngoan ghi rõ ràng tên tác giả của sách: Ben Sirac là tác giả sách Huấn Ca; Ba-rúc soạn thảo sách ngôn sứ Ba-rúc; vv.
Những sách khác không có tên của tác giả, nhưng tên của nhân vật anh hùng chính. Đây là, ví dụ, sách của Giô-na, Rút, Ét-te, Gióp, Tô-bi-a, v.v. Những sách này nhằm mục đích xây dựng độc giả của họ. Nội dung thường là hư cấu, nhưng tình tiết cốt truyện là nguồn linh hứng thiêng liêng đích thực, xứng đáng là một phần của Kinh thánh như Lời của THIÊN CHÚA. Đó là các sách của Ét-ra, của Nơ-khê-mi-a ... tất cả các sách ngôn sứ nhỏ: Hô-sê, A-mốt, Mi-kha, Giô-ên, Ô-va-đi-a, v.v.
Cuối cùng Kinh thánh chứa đựng nhiều bài thơ và các vở kịch trữ tình. Các sách thi ca tuyệt diệu nhất là các Thánh Vịnh. Người ta nói rằng tác giả của các Thánh Vịnh là Vua Đa-vít. Nhưng một số thánh vịnh ra đời từ thời lưu đày, 500 năm sau đó. Dù sao đi nữa, Đa-vít David là cha các thánh vịnh mà ông đã hát nhân danh dân tộc Ít-ra-en. Không ai phủ nhận tính phụ tử này của vua Đa-vít.
Một cuốn sách đầy chất thơ khác, không có tác giả, là sách Diễm Ca, ca tụng con đường tình yêu của một vị vua (THIÊN CHÚA?) và người đẹp hôn thê của ông (Ít-ra-en?).
b. Giản đồ minh họa
c. Tân Ước
Đối với Tân Ước, chúng ta biết các tác giả. Đó là lý do tại sao chúng ta có "Tin mừng theo thánh Mát-thêu", hay "theo thánh Mác-cô", v.v.
Hầu hết các thư mang tên chính tác giả. Như những bức thư của Thánh Phao-lô. Riêng các thư công giáo, chắc chắn không phải do chính tác giả có tên đã soạn thảo, nhưng có lẽ các môn đệ của họ dùng thẩm quyền của các bậc Tông đồ và lấy lại những điểm chính của giáo lý của các vị này.
Lá thư duy nhất mà chúng ta không biết rõ ai đã viết, đó là thư gửi cho các tín hữu Híp-ri, không mang đặc tính của một lá thư, vì giống như một bài giảng!
II. KỸ THUẬT VIẾT VÀO THỜI ĐẠI KINH THÁNH
1. Chữ viết miền Cận đông
Khi chúng ta nghiên cứu việc truyền tải các bản văn Cựu Ước, soạn thảo trong ngôn ngữ Híp-ri và phát triển theo dòng thời gian. Lãnh vực chữ viết Kinh Thánh nằm trong bối cảnh rộng hơn, bối cảnh chữ viết trong miền Cận Đông. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhìn qua vài chữ viết trong các nền văn minh chính trong miền Cận Đông.
a. Chữ viết Sumê (Sumerian Writting)
Lịch sử chữ viết trong miền Cận Đông bắt đầu với xứ Su-mê khoảng cuối thiên niên kỷ thứ IV trước CN. Dân Sumê, không thuộc nhóm Sê-mít đã sáng tạo chữ viết hay thu thập hệ thống chữ viết từ một dân tộc khác. Hệ thống chữ viết Su-mê, vào thời sớm nhất, là chữ viết tượng hình (pictographic).
Những khám phá khảo cổ học quan trọng nhất tại Sumê là một số lượng lớn các bảng đất sét với các chữ hình nêm. Chữ viết của Sumer là ví dụ cổ nhất về chữ viết trên trái đất. Dù những bức tranh – có nghĩa là chữ tượng hình – được dùng đầu tiên, những biểu tượng sau này đã được lập ra để biểu hiện các âm tiết. Các đoạn sậy hình tam giác hay hình nêm được dùng để viết trên những tấm bảng đất sét ẩm. Một lượng lớn lên tới hàng trăm nghìn văn bản bằng tiếng Sumer vẫn còn tồn tại, như những bức thư cá nhân hay thư giao dịch thương mại, hóa đơn, các danh sách từ vựng, luật pháp, thánh ca, lời cầu nguyện, các câu chuyện, những ghi chép hàng ngày, và thậm chí cả những thư viên đầy những tấm bảng đất sét. Những ghi chép tại các đền đài và những văn bản trên các vật thể khác nhau như những bức tượng hay các viên gạch cũng rất phổ biến. Nhiều văn bản vẫn còn nhiều bản sao bởi chúng được sao chép liên tục bởi những người chép thuê trong quá trình học nghề. Tiếng Sumer tiếp tục là ngôn ngữ của tôn giáo và pháp luật ở Lưỡng Hà một thời gian dài sau khi những người nói tiếng Semitic đã ở vị thế thống trị. Ngôn ngữ Sumer nói chung được coi như một ngôn ngữ cô lập trong ngôn ngữ học bởi nó không thuộc một ngữ hệ nào từng biết; tiếng Akkad, trái lại thuộc nhánh Semit của ngữ hệ Phi-Á. Đã có nhiều nỗ lực bất thành để liên kết tiếng Sumer với các nhóm ngôn ngữ khác. Nó là một ngôn ngữ chấp dính; nói cách khác, các hình vị ("đơn vị nghĩa") được thêm vào nhau để tạo ra các từ, không giống như các ngôn ngữ phân tích trong đó các hình vị chỉ hoàn toàn được thêm vào với nhau để tạo ra câu.
Hiện nay việc hiểu các văn bản tiếng Sumer có thể là khó khăn thậm chí với cả các chuyên gia. Khó nhất là những văn bản thời kỳ đầu, mà trong nhiều trường hợp không có được cấu trúc ngữ pháp đầy đủ của ngôn ngữ.
Trong thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên họ đã phát triển một sự cộng sinh cấu trúc rất gần gũi giữa người Sumer và người Akkad, bao gồm cả việc phát triển rộng của tình trạng sử dụng hai ngôn ngữ. Sự ảnh hưởng của tiếng Sumer trên tiếng Akkad (và ngược lại) có bằng chứng rõ nét trong tất cả các lĩnh vực, từ việc mượn từ vựng ở cấp độ lớn, tới cú pháp, hình thái, và hội tụ âm vị. Điều này đã khiến các học giả coi tiếng Sumer và tiếng Akkad ở thiên niên kỷ 3 trước Công nguyên như mộtsprachbund(liên minh ngôn ngữ)
Tiếng Akkad dần thay thế tiếng Sumer như ngôn ngữ nói ở khoảng cuối thiên niên kỷ 3 đầu thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên, nhưng tiếng Sumer tiếp tục được sử dụng như một ngôn ngữ thần thánh, nghi lễ, văn học và khoa học tại Babylonia và Assyria cho tới thế kỷ thứ I.
b. Chữ viết Akkad
Chữ Akkad (lišānum akkadītum, ak.kADû) - hay tiếng Accad, tiếng Assyria-Babylon - là một ngôn ngữ không còn tồn tại thuộc nhóm Ngôn ngữ Semit (thuộc ngữ hệ Phi-Á) từng được con người ở vùng Lưỡng Hà cổ đại dùng để nói. Ngôn ngữ này sử dụng hệ thống chữ viết hình nêm vốn được dùng trong tiếng Sumer cổ (một ngôn ngữ biệt lập không liên quan với tiếng Akkad). Tên gọi "tiếng Akkad”bắt nguồn từ tên thành phố Akkad - một trung tâm lớn của nền văn minh Lưỡng Hà Semit trong giai đoạn Đế quốc Akkad (khoảng 2334 - 2154 trước Công nguyên), mặc dù thực tế ngôn ngữ này đã ra đời từ trước khi thành phố Akkad thành lập.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa tiếng Sumer và tiếng Akkad đã khiến các học giả xếp các ngôn ngữ này vào chung mộtvùng ngôn ngữ (sprachbund). Danh xưng riêng bằng tiếng Akkad đã được chứng thực lần đầu trong các văn bản Sumeria niên đại khoảng cuối thế kỷ XXIX trước Công nguyên. Từ nửa sau thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên (khoảng năm 2500 TCN) thì bắt đầu xuất hiện các văn bản viết hoàn toàn bằng tiếng Akkad. Tính đến nay, người ta đã khai quật được hàng trăm nghìn văn bản và mẩu văn bản viết bằng tiếng Akkad với nội dung bao quát các chủ đề như thần thoại, pháp luật, khoa học, thư từ, sự kiện chính trị và quân sự,... Trước thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, tồn tại hai dạng ngôn ngữ sử dụng ở Assyria và Babylon, lần lượt là tiếng Assyria và tiếng Babylon.
Trong hàng thế kỷ, tiếng Akkad đã là lingua franca (cụm từ chỉ một ngôn ngữ được sử dụng trong một vùng rộng lớn)của vùng Lưỡng Hà và Cận Đông cổ đại. Tuy nhiên, ngôn ngữ này bắt đầu sa sút khoảng từ thế kỷ VIII trước Công nguyên và bị tiếng Aramaic đẩy khỏi nhịp điệu phát triển xã hội trong thời Đế quốc Tân Assyria. Đến thời kỳ truyền bá văn hóa Hy Lạp thì tiếng Akkad phần lớn bị giới hạn trong giới học giả và tăng lữ làm việc tại các đền thờ ở Assyria và Babylon. Văn bản cuối cùng có sử dụng chữ viết hình nêm Akkad có niên đại thế kỷ I. Một lượng kha khá từ mượn từ tiếng Akkad vẫn tồn tại trong các phương ngữ Tân Aramaic vùng Lưỡng Hà và được những người Assyria - theo Ki-tô giáo - bản địa sử dụng tại những vùng đất mà ngày nay thuộc Iraq và ven Iraq. Việc đặt tên, họ và tên bộ lạc bằng tiếng Akkad vẫn phổ biến trong cộng đồng người Assyria.
Ngôn ngữ Akkad rất quan trọng cho việc nghiên cứu Kinh Thánh. Trước tiên, vì đây là một ngôn ngữ Sê-mít sớm nhất. Hệ thống ngôn ngữ Akkad tồn tại vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III, từ thời gian này chúng ta Cựu Ước đã xuất hiện các nhân vật trong lịch sử riêng của dân Híp-ri. Câu chuyện tạo dựng và hồng thủy cung cấp dữ liệu cho sách Sáng Thế.
c. Chữ viết Ai-cập cổ xưa
Tiếng Ai Cập là một ngôn ngữ Phi-Á phía bắc có mối quan hệ gần gũi với tiếng Berber và ngôn ngữ Semite. Nó là một trong những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời nhất (chỉ sau tiếng Sumer), và được viết từ khoảng năm 3200 TCN cho đến thời Trung Cổ và tồn tại là một ngôn ngữ nói còn lâu hơn nữa. Các giai đoạn của tiếng Ai Cập cổ đại là Cổ Ai Cập, Trung Ai Cập (tiếng Ai Cập cổ điển), Hậu kỳ Ai Cập, ngôn ngữ bình dân và tiếng Copt. Những ghi chép của người Ai Cập không cho thấy sự khác biệt về phương ngữ trước giai đoạn Copt, nhưng có thể co sự khác biệt trong cách nói tiếng địa phương ở khu vực xung quanh Memphis và Thebes sau này.
Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại là một ngôn ngữ đa tổng hợp, nhưng nó đã dần trở thành một loại ngôn ngữ đơn lập sau này. Đến giai đoạn Hậu kỳ Ai Cập, nó đã phát triển các tiền tố hạn định và các mạo từ bất định, mà thay thế cho các hậu biến tố cũ. Đã có một sự thay đổi từ thứ tự động từ-chủ ngữ-bổ ngữ cũ thành dạng chủ ngữ-động từ-bổ ngữ. Các ghi chép bằng chữ tượng hình, chữ thầy tu, và ngôn ngữ bình dân Ai Cập đã dần dần bị thay thế bằng bảng chữ cái ngữ âm của tiếng Copt. Tiếng Copt vẫn được sử dụng trong các nghi thức tế lễ của Giáo hội Chính Thống Ai Cập, và dấu vết của nó còn được tìm thấy ở trong ngôn ngữ Ai Cập Ả Rập ngày nay.
Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại có 25 phụ âm tương tự với những ngôn ngữ Phi-Á khác. Chúng bao gồm phụ âm đầu và trọng âm, âm tắc, âm xát và âm rung, âm vang và âm ồn. Nó có ba nguyên âm dài và ba nguyên âm ngắn, sau này vào thời Hậu kỳ Ai Cập thì nó được mở rộng lên thành chín. Các từ cơ bản của tiếng Ai Cập tương tự như tiếng Semite và Berber, bao gồm ba hoặc hai gốc phụ âm và bán phụ âm. Hậu tố được thêm vào để tạo thành từ. Việc chia động từ tương ứng với ngôi. Ví dụ, bộ khung ba phụ âm S-Ḏ-M là phần cốt lõi ngữ nghĩa của từ 'nghe'; chia động từ cơ bản của nó làsḏm, 'ông ta nghe'. Nếu chủ ngữ là một danh từ, hậu tố không được thêm vào động từ:sḏm ḥmt, 'người phụ nữ nghe'.
Tính từ đuợc tạo thành từ danh từ thông qua một quá trình mà các nhà Ai Cập học gọi là nisbation vì sự tương đồng so với tiếng Ả Rập. Thứ tự của từ là vị ngữ-chủ ngữ trong động từ và tính từ, và chủ ngữ-vị ngữ trong danh từ và phó từ. Chủ ngữ có thể được di chuyển đến đầu câu nếu nó dài và được theo sau bởi một đại từ bổ ngữ. Các động từ và danh từ dạng phủ định thì thêm tiếp đầu ngữ n, còn nn được sử dụng cho các trạng từ và tính từ. Trọng âm rơi vào âm tiết cuối cùng hoặc áp chót, có thể là mở âm (CV) hoặc đóng âm (CVC).
Những ghi chép bằng chữ tượng hình có niên đại từ khoảng năm 3000 TCN, và bao gồm hàng trăm biểu tượng. Một chữ tượng hình có thể đại diện cho một từ, một âm thanh, hoặc một âm câm nhất định; và cùng một biểu tượng tương tự có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Chữ tượng hình là một dạng chữ viết chính thức, được sử dụng trên các công trình bằng đá và trong các ngôi mộ, và nó có thể mang tính chi tiết như các tác phẩm nghệ thuật cá nhân. Trong các ghi chép hàng ngày, các viên ký lục đã sử dụng một dạng chữ viết soạn thảo, còn được gọi là chữ thầy tu, giúp họ viết nhanh hơn và dễ dàng hơn. Trong khi chữ tượng hình chính thức có thể được đọc theo hàng hoặc cột hoặc cả hai hướng (mặc dù thường được viết từ phải sang trái), chữ thầy tu thì lại luôn luôn được viết từ phải sang trái, thường là theo các hàng ngang. Một dạng chữ viết mới, chữ viết bình dân (Demotic), sau này đã trở thành cách viết phổ biến, và dạng chữ viết này cùng với dạng chữ tượng hình chính thức đã được sử dụng trên phiến đá Rosetta kèm theo văn bản tiếng Hy Lạp.
Khoảng thế kỷ thứ nhất, bảng chữ cái Copt đã bắt đầu được sử dụng cùng với chữ viết bình dân. Chữ Copt là một dạng biến thể của bảng chữ cái Hy Lạp với việc bổ sung thêm một số dấu hiệu của chữ viết bình dân. Mặc dù chữ tượng hình chính thức được sử dụng trong các nghi lễ cho đến thế kỷ thứ tư, tới giai đoạn cuối chỉ có một số ít các thầy tu vẫn còn có thể đọc được chúng. Khi mà các tôn giáo truyền thống bị cấm đoán, hiểu biết về chữ viết tượng hình được coi là đã thất truyền. Những nỗ lực nhằm giải mã chúng đã bắt đầu từ thời Byzantine và trong thời kỳ Hồi giáo ở Ai Cập, nhưng mãi đến năm 1822, sau khi phiến đá Rosetta được phát hiện và qua nhiều năm nghiên cứu của Thomas Young cùng Gio-an-François Champollion, chữ tượng hình mới gần như được giải mã hoàn toàn.
d. Hệ thống chữ alphabetic
Bảng chữ cái Phoenicialà hệ thống tiền chữ cái Canaanite được tiếp tục phát triển ở thời kỳ đồ sắt (được cho là kế thừa từ sự chấm dứt của hệ thống này năm 1050 TCN). Hệ thống chữ cái này đưa đến sự ra đời của chữ cái Aramaic và chữ cái Hy Lạp; rồi thông qua người Hy Lạp, dẫn đến sự ra đời của các chữ cái Tiểu Á và chữ cái Italic cổ (bao gồm tiếng Latin) vào thể kỷ 8 TCN. Chữ cái Hy Lạp đưa vào các ký hiệu nguyên âm. Nhóm chữ viết Brahmic của Ấn Độ có lẽ hình thành từ thế kỷ 5 TCN từ những tiếp xúc với chữ viết Aramaic. Chữ viết Hy Lạp và Latin vào các thế kỷ đầu Công nguyên là phát tích của một số hệ thống ký tự châu Âu như chữ cái Runes, chữ cái Gothic và chữ cái Cyrillic. Trong khi đó, chữ viết Aramaic là khởi nguồn của chữ cái Hebrew, chữ cái Syriac và chữ cái Arabic; chữ cái nam Ả rập mang đến sự hình thành chữ cái Ge’ez.
e. Tiếng Híp-ri
Tiếng Híp-ri (phiên âm tiếng Việt:Híp-ri, Hê-brơ, Hi-bru,hoặcHy-bá-lai), là mộtngôn ngữbản địa tại Ít-ra-en, được sử dụng bởi hơn 9 triệu người trên toàn cầu, trong đó 5 triệu ở Ít-ra-en. Về mặt lịch sử, đây là ngôn ngữ của người Ít-ra-en cổ đại và tổ tiên họ, dù nó không được gọi là "Hebrew”trong Tanakh. Những mẫu viết chữ Cổ Híp-ri cổ nhất có niên đại từ thế kỷ 10 Trước Công Nguyên. Tiếng Híp-ri thuộc về nhánh Semit của ngữ hệ Phi-Á. Tiếng Híp-ri được viết và đọc từ phải sang trái, giống tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư.
Tiếng Híp-ri biến mất như một ngôn ngữ nói hàng ngày từ khoảng năm 200 đến 400, do hậu quả của khởi nghĩa Bar Kokhba. Tiếng Aram và (ở mức độ thấp hơn) tiếng Hy Lạp lúc đó được sử dụng nhưlingua franca, đặc biệt trong giới thượng lưu và dân nhập cư. Nó tồn tại qua thời kỳ trung cổ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ Do Thái giáo và văn học giáo đoàn. Sau đó, vào thế kỷ 19, nó được hồi sinh như một ngôn ngữ nói và viết, và, theo Ethnologue, trở thành ngôn ngữ của 5 triệu người toàn cầu vào năm 1998. Sau Ít-ra-en, Hoa Kỳ có số người nói tiếng Híp-ri đông thứ nhì, với 220.000 người nói thành thạo, đa số đến từ Ít-ra-en.
Tiếng Híp-ri hiện đại là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Ít-ra-en (ngôn ngữ còn lại là tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại), còn tiếng Híp-ri tiền hiện đại được dùng khi cầu nguyện và nghiên cứu trong các cộng đồng người Do Thái hiện nay. Tiếng Híp-ri cổ đại cũng là ngôn ngữ phụng vụ của người Samaria. Như một ngoại ngữ, nó được đa phần người Do Thái và các nghiên cứu sinh Do Thái giáo và Ít-ra-en, các nhà khảo cổ và ngôn ngữ học chuyên về Trung Đông và các nền văn minh của nó, học và nghiên cứu.
Ngũ Thư (Torah) và hầu hết phần còn lại của Kinh Thánh Híp-ri (Tanakh) được viết bằng tiếng Híp-ri Cổ điển (hay tiếng Hebrew Kinh Thánh). Vì lý do này, từ thời cổ đại tiếng Hebrew đã được người Do Thái gọi làLeshon HaKodesh, "Ngôn ngữ thánh".
3. Các tác giả Kinh Thánh
f. bảng chử cái tiếng Híp-ri
Chữ cơ bản | Chữ biến thể | ||||||||
Tên | Ý nghĩa | Cách viết | Âm | Biến thể | Cách viết | ||||
cuối | bình thưòng | cuối | bình thưòng | ||||||
Bò | א א | /ʔ/ | /ʔ/ | mapiq | אּ אּ | 1 | |||
ligaturealeph-lamed | ﭏ ﭏ | ||||||||
bethhaybèt | Nhà | ב ב | /β/ | /b/ | dagueshdhayx | בּ בּ | 2 | ||
gimelhayguimelhayghimel | Lạc đà | ג ג | /ɣ/ | /g/ | dagueshdoux | גּ גּ | 3 | ||
dalethaydalèthaydaleth | Cửa | ד ד | /ð/ | /d/ | dagueshdoux | דּ דּ | 4 | ||
hehayhè | Ca tụng | ה ה | /h/ | mapiq | הּ הּ | 5 | |||
vavhaywaw | Đinh | ו ו | /v/ | /u/ | dagueshdoux | וּ וּ | 6 | ||
ligature double-waw | װ װ | ||||||||
ligaturewaw-yod | ױ ױ | ||||||||
zayinhayzaïn | Vũ khí | ז ז | /z/ | dagueshdur | זּ זּ | 7 | |||
hethay'hèt | Hàng rào | ח ח | /ħ/ | /χ/ | 8 | ||||
tethaytèt | Khiên | ט ט | /t/ | dagueshdur | טּ טּ | 9 | |||
yodhayyoud | Bàn tay | י י | /j/ | /j/ | dagueshdur | יּ יּ | 10 | ||
ligature double-yod | ײ ײ | | |||||||
kafhaykhafhaykaph | |||||||||
VẤN ĐỀ TRUYỀN TẢI, QUY ĐIỂN, VÀ THỜI GIAN GIỮA HAI "GIAO ƯỚC”(CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC)
I. CÁCH MẠNG IN ẤN VÀO THẾ KỶ THỨ 15
Trước đó, người ta đã khắc những dòng chữ nhỏ trên các khối gỗ khác nhau để in trên giấy, nhưng công việc này thô thiển và chậm. Gutenberg đã có ý tưởng phát minh ra các chữ di động: chỉ cần thực hiện một số lượng lớn các chữ cái bằng chì, sau đó kết nối sắp xếp một cách thủ công để in. Phải mất 12 giờ để chuẩn bị một khuôn sắp xếp các chữ thành một bản văn và cần 1 giờ để in ra 10 phiên bản. Các chữ đầu hàng hay đầu phân đoạn được để trống để vẽ bằng tay. Gutenberg[1] muốn tác phẩm của mình trội vượt hơn các bản thảo thư pháp.
Năm 1456, cuốn sách đầu tiên được xuất bản theo kỹ thuật in mới là cuốn Kinh thánh: bản Vulgata, Kinh thánh tiếng La tinh, với 42 dòng chữ trên mỗi trang và được in thành 2 tập. Kinh thánh tiếng la tinh (Vulgata) được in thành 150 phiên bản và hiện nay chúng ta còn giữ lại được 45 bản.
Sau đó, các xưởng in ấn phát triển mạnh mẽ và việc sử dụng các ký tự nhỏ hơn đem lại việc xuất bản Kinh Thánh thành 1 tập. Để có tên tuổi, các nhà xuất bản có những tổ chức sắp xếp bản văn đánh dấu phong cách riêng của họ: Kinh thánh minh họa, với chú giải, vv.
Với phong trào giáo hội Cải cách (Tin lành) (thế kỷ XVI-XVII), chúng ta đã có 70.000 cuốn Kinh thánh (Cựu và Tân Ước) được in và 100.000 bản Tân Ước. Mỗi lần xuất bản, chỉ có 300 bản. Chi phí của một phiên bản là 2500 quan pháp hồi đó (1 franc [quan] = 1 Livre 3 Deniers = 4,5 gr bạc nguyên chất = 290,3225 mg vàng tinh ròng).
Phát minh này cách mạng hóa việc truyền tải bản văn với số lượng và đảm bảo tính trung thực.
1. So sánh với các tác phẩm cổ đại khác
Tác phẩm | Platon | Xê-da: Chiến tranh ở Gô-loi | Tân Ước |
Soạn thảo | 427-347 tr.CN | 58-50 tr. CN | 400-100 sau CN |
Bản thảo cổ nhất | 900 sau CN | 900 năm sau CN. | Các mảng năm 125 sau CN Bản văn hoàn toàn 350 sau CN |
Khoảng cách giữa thời gian soạn thảo cũ nhất Số lượng bản thảo | 1200 năm
7 | 950 năm
9-10 | Các mảng: 70 năm Bản văn hoàn thành : 280 năm 5000 tiếng Hy-Lạp 10000 tiếng Latin |
2. Niên biểu hình thành Cựu ước
3 nhóm sách theo quy điển Do Thái | Tên sách | Tác giả theo truyền thống (ở trong ngoặc đơn, có thể là tác giả thật) | Niên biểu (khoảng) | Quan sát | |
TORAH (Ngũ thư) |
| Sáng thế | Mô-sê | 1450 - 1400 | Các sách CƯ đến sau đã nhắc dến nhóm sách này như một bộ đã hình thành và nhất quán (Gs 1/5-8; II Sb34/14; I V 14/16; II V 23/2; Nkm 8/1 , 3,18) chứng tỏ tính cổ xưa của Ngũ thư. |
Xuất hành | Mô-sê | 1450 - 1400 | |||
Lê-vi | Mô-sê | 1450 - 1400 | |||
Dân số | Mô-sê | 1450 - 1400 | |||
Đệ Nhị Luật | Mô-sê | 1450 - 1400 | |||
NEBIIM (Ngôn sứ) | Ngôn sứ tiền | Giô-suê | Giô-suê | 1370 (kh.) | Trong thời lưu đày, người ta biết đến các sách này. |
Thủ lãnh | (Sa-mu-en?) | 1050 (kh.) | |||
1 và 2 Samuen | (Sa-mu-en, Sa-un, Đa-vít ) | 1030 - 950 (kh.) | |||
1 và 2 Vua | (Giê-rê-mi-a?) | kh. 600 | |||
Ngôn sứ hậu | I-sai-a | Esaïe | 740 - 680 | Ê-dê-ki-en, Khác gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi được đưa vào quy điển sau khi người Do Thái trở về từ lưu đày ở Ba-by-lon. | |
Giê-rê-mi-a | Giê-rê-mi-a | 625 - 580 | |||
Ê-dê-ki-en | Ê-dê-ki-en | kh. 590 | |||
Hô-sê | Hô-sê | 760 - 710 | |||
Giô-en | Giô-en | giữa 850 và 700? | |||
A-mốt | A-mốt | 780 - 755 | |||
Ô-va-đi-a | Ô-va-đi-a | 585 | |||
Giô-na | Giô-na | 800 | |||
Mi-kha | Mi-kha | 740 | |||
Na-khum | Na-khum | 700 - 615 | |||
Kha-ba-cúc | Kha-ba-cúc | 627 - 586 | |||
Xô-phô-ni-a | Xô-phô-ni-a | 630 - 620 | |||
Khác gai | Khác gai | 520 | |||
Da-ca-ri-a | Da-ca-ri-a | 520 - 518 | |||
Ma-la-khi | Ma-la-khi | 450 - 400 | |||
KETUBIM (Các văn bản hay bản văn thánh) | Sách thơ văn | Thánh vịnh | (Ét-ra thu thập?) Đa-vít và các tác giả khác | 1050 và sau đó | Các sách này đã được đưa vào thư quy muộn sau này, sau khi trở về từ lưu đày. Các sách là một phần rõ ràng tại thời điểm chuyển dịch qua bản LXX. |
Châm ngôn | Sa-lô-mon, Agur, Lemuel | 950 - 900 | |||
Gióp | Vô danh | Không chắc | |||
MEGUILLOTH (5 cuộn sách) | Diễm ca | (Sa-lô-mon) | 950 | ||
Rút | (Sa-mu-en?) | 1050 (kh.) | |||
Ai-ca | Giê-rê-mi-a | 586 | |||
Giảng viên | Sa-lô-mon | 950 | |||
Ét-te | (Mardochée?) | 460 | |||
Sách lịch sử | Da-ni-en | Da-ni-en | 590 - 535 | ||
Ét-ra và Nơ-khê-mi-a | Ét-ra | 538 - 480 | |||
1 và 2 Sử biên niên | (Ét-ra | kh. 500 | |||
------------------------------
Chú thích:
[1] Johannes Gutenberg (khoảng năm 1389– 3 tháng 2 năm 1468), là một công nhân đồng thời là một nhà phát minh người Đức. Ông trở nên nổi tiếng vì phát minh ra phương pháp in dấu vào năm những năm 1450.
Gutenberg sinh ở Mainz, nước Đức. Ông là con trai của một thương gia tên là Friele Gensfleisch zur Laden. Người cha của Gutenberg đã lấy "zum Gutenberg" là nơi họ đã sống lúc đó để đặt tên cho ông.
Gutenberg đã phát minh ra một loại hợp kim dùng cho việc in ấn; mực; và cách cố định chữ in (chữ kim loại) rất chính xác; và một loại máy in mới. Nhiều người cho rằng Gutenberg đã phát minh ra loại bản in mẫu trượt ở châu Âu, nhưng thực ra nó đã được phát minh ra ở Triều Tiên trước đó.
Trước khi kiểu mẫu trượt ra đời người ta dùng phương pháp in khối, các thợ in đã in cả trang từ một bản bằng kim loại hoặc gỗ. Với loại in trượt, người thợ in làm các chữ (A, B, C...) từ một miếng kim loại hoặc gỗ có thể sử dụng lại nhiều lần trong các từ khác nhau. Việc kết hợp chúng với nhau trong các phát minh của Gutenberg làm việc in được thực hiện nhanh chóng. Trong thời kỳ Phục Hưng ở Châu âu, đã có sự bùng nổ thông tin trong một khoảng thời gian ngắn. Người ta đã in ra rất nhiều những quyển sách mới.
Gutenberg đã bắt đầu công sử dụng phương pháp in này từ tháng 2 năm 1455 nhưng ông không phải là người có đầu óc kinh doanh và ông đã không nhận được nhiều tiền từ hệ thống in của ông. Ông có vấn đề với pháp luật và đã bị mất máy in vào người đồng nghiệp, Johann Fust. Gutenberg chết năm 1468.
Johannes Gutenberg không phải là người thành công trong cuộc sống nhưng các phát minh của ông vô cùng quan trọng. Khi phương pháp in hiện đại của ông ra đời tạo nên sự nhảy vọt về phát triển thông tin ở châu Âu, góp phần làm cho khu vực này phát triển nhanh hơn về khoa học kỹ thuật.
3. Tân Ước
a. Giản đồ minh họa (tiếng pháp)

b. Giải thích
Năm 51: Thư Thê-xa-lô-ni-ca.
54-56: Thư gởi tín hữu Phi-lip-phê.
56: Các thư gởi tính hữu Cô-rin-tô và tính hữu Ga-lát.
57-58: Thư gởi tính hữu Rô-ma, viết khi Phao-lô ở Cô-rin-tô.
Năm 58, Phao-lô bị tù hai năm ở Xê-da-rê, từ năm 58 đến năm 60.
61-63: Các thư Cô-lô-xê, Ê-phê-xô và thư Phi-lê-môn
65: Thư thứ nhất gởi Ti-mô-thê. Thư gởi Ti-tô.
67: Thư thứ hai gởi Ti-mô-thê.
Chúng ta nhắc lại, người ta ước tính rằng các tác phẩm chính khác của Tân Ước đã được viết trong những năm sau đây:
62: Thư Gia-cô-bê.
64: Tin Mừng theo thánh Mac-cô.
64: Thư thứ nhất của Phê-rô.
Giữa năm 70 và 80: Thư Giu-đa, Thư thứ hai của Phê-rô.
Khoảng năm 80: Tin Mừng theo thánh Mat-thêu và thánh Lu-ca. Sách Công vụ Tông Đồ.
Giữa năm 80-90: Tin Mừng và các thư của Gio-an.
Khoảng năm 95: Sách Khải huyền.
II. VẤN ĐỀ QUY ĐIỂN HAY THƯ QUY (Biblical canon)[2]
1. Quy điển Cựu Ước
a. Các giai đoạn quy điển
Chúng ta có thể phân biệt ba giai đoạn hình thành Cựu Ước:
1) Những câu chuyện cổ xưa và các rao giảng truyền khẩu về Thiên Chúa, đã cung cấp "chất liệu nguyên thủy”của các sách Cựu Ước,
2) Các tác giả nhân loại soạn thảo các sách này như trong dạng thức hiện tại,
3) Các sách được đón nhận trong các cộng đoàn, dân Thiên Chúa công nhận linh hứng và sau đó các đấng có trách nhiệm thu thập thành bộ trong một tập.
Gia đoạn thứ ba gọi là "quy điển”cho các sách Kinh thánh, nghĩa là hình thành thư quy.
Như chúng ta đọc trong “footnote số 2 dưới đây”, từ Hy lạp κανών "canon”có nghĩa là "thước đo". "Canon”cho phép phân biệt các sách linh hứng với các sách khác. Các cuốn sách đã được đón nhận trong Thánh Kinh gọi là các sách "quy điển”hay "thư quy". Nói cách khác, các sách trong quy điển có thẩm quyền thánh thiêng công nhận. Sự công nhận các sách trong thư quy được thực hiện dần dần, trong quảng thời gian lịch sử mà chúng ta không biết rõ. Mãi đến thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Kitô giáo, giới thẩm quyền Do Thái giáo mới cảm thấy cần phải xác định số lượng sách "làm ô uế bàn tay", có nghĩa là những cuốn sách đang bàn cãi về tính thánh thiêng công nhận, như sách Diễm ca chẳng hạn.
Trên thực tế, thẩm quyền và đặc tính linh hứng của các sách Kinh thánh đã được công nhận từ lâu trước khi có quyết định của Hội đồng Jamnia[3]. Các sách này có thẩm quyền trên dân Ít-ra-en vì họ ý thức rằng Thiên Chúa nói với họ, Mặc khải cho họ qua các tác phẩm được được công nhận trong thư quy, có nghĩa Thiên Chúa là tác giả chính. Do đó, các sách Thư quy là quy luật đức tin và cuộc sống của các tín hữu.
b. Lề luật, Ngôn sứ và các bản văn
Chúng ta đã thấy rằng các sách Cựu Ước tiếng Híp-ri được sắp xếp thành ba phần[4]: Lề luật (hoặc Torah), Ngôn sứ (Nevi'im) và các bản văn (kethubim).
Vào thời Chúa Kitô, Dân Do thái đã xem các sách Lề luật và các Ngôn sứ được linh hứng, có nghĩa là Thiên Chúa là tác giả chính, và con người là tác giả “khí cụ”hay “công cụ”, và như thế Lời Kinh thánh chính là Lời của Thiên Chúa, điều này giải thích tại sao Chúa Giêsu và các tông đồ thường sử dụng cụm từ "Lề luật và Ngôn sứ”(Mt 5,17) khi Ngài muốn trích dẫn các Lời viết trong Kinh thánh có thẩm quyền thánh thiêng. Hầu hết các bản văn cũng được chấp nhận như Kinh thánh, đặc biệt là các Thánh vịnh, mà Chúa Giêsu và các Tông đồ thường trích dẫn. Trong Luca 24,24 có nói về "Lề luật Mô-se, các Ngôn sứ và các Thánh vịnh": “Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”.
Lề luật (Torah, Ngũ thư hay Ngũ kinh)
Chúng ta đã thấy, ngay từ nguồn gốc, các lề luật do Mô-sê ban hành đã mặc lấy thẩm quyền thánh thiêng. Nhưng chúng ta không biết khi nào tất cả các sách của Lề luật, Torah trở thành bộ 5 cuốn sách được công nhận là Ngũ kinh trong Kinh thánh ở dạng hiện tại. Tài liệu quy chiếu đầu tiên về Lề luật (Ngũ thư) ở trong sách 2 Vua 22,3-10, tại thời điểm cuốn sách này được tìm thấy trong Đền thờ vào thời vua Giô-si-át[5]. Nhưng Lề luật (torah) đã có từ lâu đời hơn, và dường như không đóng một vai trò quan trọng như một cuốn sách thánh của Cựu ước hiện có, tại thời điểm chinh phục đất hứa (thế kỷ thứ XIII trước Chúa Giê-su), thời các Thủ lãnh và thời các Vua đầu tiên (Sa-un, Đavít, Salomon).
Sau thời lưu đày, thẩm quyền của Lề luật thành văn được minh chứng bằng câu chuyện trong Nkm chương 8. Việc đọc Lề luật trang trọng đánh dấu mùa xuân mới của Giao ước.
Những người dân Samari[6], chia cách với người Do Thái trong thời đại Ét-ra và Nơ-khê-mi-a, chỉ nhận Kinh thánh linh hứng là các sách Ngũ thư (Torah) nghĩa là Lề luật. Người ta tìm thấy một bản sao của Ngũ thư Samaria ở Nablouse, chỉ khác một số chi tiết so với bản văn Ngũ thư của Kinh thánh Do Thái. Do đó, vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, thẩm quyền của Lề luật hay Ngũ thư ở dạng hiện tại đã được công nhận. Cũng lưu ý rằng khi Kinh thánh được dịch sang tiếng Hy Lạp trong bản LXX, vào thế kỷ thứ III trước Chúa Kitô. Những cuốn sách khác chỉ được dịch sau đó.
Các sách Ngôn sứ
Các Ngôn sứ lên tiếng thay mặt Thiên Chúa, nghĩa là họ chỉ là “phát ngôn viên”của chính Thiên Chúa, họ nói và làm những gì Thiên Chúa bảo họ làm, tố các những tội lỗi của dân và các lãnh đạo, bất tuân với lề luật Thiên Chúa. Mặc dầu vậy, trong trường của A-mốt và Giê-rê-mi-a thẩm quyền thiêng liêng của sứ điệp đôi khi bị phản đối khi họ còn sống, và vì thế các Ngôn sứ thường bị giết chết, vì dám loan báo tầm nhìn của Thiên Chúa và kêu con người bỏ tội lỗi. Chỉ sau đó, các Ngôn sứ được tôn trọng và đón nhận qua những tác phẩm được linh hứng do họ viết.
Các "Ngôn sứ tiền” (gọi là các sách lịch sử trong thư quy công giáo) tường thuật các sự kiện xảy ra cho đến khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Những cuốn sách hoàn thành cuối cùng, có thể là sau thời lưu đày (- 539). Đối với bộ sưu tập của tất cả các sách Ngôn sứ, thòi gian hoàn thành còn chậm hơn nữa. Có những sách Ngôn sứ được định niên đại thế kỷ thứ V trước Chúa Giê-su.
1 Mcb 9,27 viết: “Quả là một thời kỳ gian nan khốn khổ cho Ít-ra-en, như chưa từng thấy bao giờ, kể từ ngày không còn vị ngôn sứ nào xuất hiện nữa”cho thấy vào thời điểm này (thế kỷ thứ II trước Công nguyên), người ta cho rằng không có Ngôn sứ nào xuất hiện trong một thời gian dài (người Do thái vào thời Chúa Giê-su bảo rằng, từ vị ngôn sứ cuối cùng, là Ma-la-khi đến Gio-an Tẩy giả là 400 năm, họ không có vị ngôn sứ nào cả).
Bộ sưu tập của những cuốn sách Ngôn sứ (12 ngôn sứ hậu) chỉ có thể được thực hiện và được công nhận là linh hứng cuối cùng.
Các văn bản hay các sách khác (phần thứ 3 của thư quy Do thái, ketoubim)
Trước rất lâu khi tất cả các sách trong phần gọi là văn bản đã được đưa vào quy điển, hầu hết những cuốn sách này được đón nhận như các sách được linh hứng. 2 Ma-ca-bê 2,13 nói đến "những cuốn sách của Đa-vít”bên cạnh tường thuật các Vua và các Ngôn sứ: “Các việc trên đây đã được thuật lại trong hồ sơ lưu trữ và trong Hồi ký của ông Nơ-khe-mi-a. Ngoài ra cũng còn thuật lại việc ông thành lập thư viện, thu thập các sách liên quan đến các vua và ngôn sứ, các sách của vua Đa-vít, các thư của các vua liên quan đến các lễ vật biệt hiến.” Đanien, Thánh vịnh, Châm ngôn, Gióp, Ét-ra và Nơ-khê-mi-a đã được đọc trong các hội đường trước thời đại Kitô giáo. Mặt khác, người ta vẫn biết có những cuốn sách khác: Ét-te, Giảng viên và Diễm ca. Do đó, người ta không thể biết chắc chắn đâu là "những cuốn sách khác” mà dịch giả của sách Huấn ca (sách này không có trong thư quy Do thái, gọi là sách Ngụy thư) bên cạnh các sách Lề luật và Ngôn sứ, vào thế kỷ thứ II trước Chúa Kitô.
Các sách ngụy thư (ngày nay người ta muốn gọi là ngoại thư)
Một trong những lý do quy tụ thượng hội đồng Jamnia[7] vì một số người Do Thái xem là linh hứng những cuốn sách khác ngoài những sách trong thư quy Kinh thánh Do Thái. Người ta gọi những cuốn sách này là "apocryphe", ngoại thư hay ngụy thư (có nghĩa là "ẩn dấu"), nhưng Thư quy Công giáo đã lưu giữ trong thư quy của mình: Giuđita, Tôbia, 1 và 2 Macabê, Khôn ngoan, Huấn ca, những đoạn văn được viết bằng tiếng Hy Lạp trong các sách Étte, Barúc và Thư của Giêrêmia.
Những cuốn sách này được viết bằng tiếng Hy Lạp hoặc chuyển dịch từ tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp; trong mọi trường hợp, Kinh thánh Cựu ước của chúng ta chỉ sở hữu chúng trong tiếng Hy Lạp. Do đó, những cuốn sách này chủ yếu được những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp sống bên ngoài Pa-lét-tin đọc. Mặt khác, tại Pa-lét-tin, người ta hiểu tốt hơn tiếng Do Thái, giới thẩm quyền Do Thái đã miễn cưỡng trong việc công nhận bản chất linh hứng, có nghĩa là Lời của Thiên Chúa của những cuốn sách này; quan điểm này đã chiếm ưu thế ở Thượng Hội đồng Jamnia. Mặt khác, chúng đã được thêm vào trong Kinh thánh tiếng Hy Lạp, bản LXX. Nên hầu hết các cộng đồng Kitô giáo tiên khởi biết đến các sách này, chúng ta gọi là các sách đệ nhị thư quy.
Giáo hội Ki-tô giáo của các thế kỷ đầu tiên đã không nhất trí trong thái độ đối với các sách ngoại thư (Apocryphe). Một số nhà thần học trích dẫn các sách này, mà không cho đó là linh hứng. Những người khác do dự; các Kitô hữu Đông phương, tiếp xúc nhiều hơn với người Do Thái, đã từ chối chấp nhận các sách này trong quy điển, nhưng đôi khi họ đề nghị đọc cho các tín hữu; Kitô hữu phương Tây một cách chung chấp nhận chúng, tuy nhiên có một ngoại lệ rõ rệt. Thánh Giê-rô-ni-mô, dịch giả của bản Vulgata (Kinh thánh tiếng Latinh), trong lời nói đầu cho bản dịch của mình, ngài tuyên bố "ngoại thư hay ngụy thư”tất cả các cuốn sách không có trong quy điển Do Thái.
Nhưng (cuối thế kỷ thứ tư), Thánh Augustinô đã đưa những cuốn sách này vào thư quy Kinh thánh của chúng ta. Đây là lập trường được Giáo hội Công giáo chấp nhận: những cuốn sách này là thành phần các tác phẩm linh hứng (chúng được gọi là "deutero-canonical", nghĩa là đệ nhị thư quy). Lập trường này được chính thức xác nhận tại Công đồng Trentô[8], sau cuộc Cải cách của thế kỷ XVI.
Nhũng người Tin lành hay Thệ phản đã quay trở lại với quy điển Do Thái, loại bỏ các sách ngoại thư (Apocrypha) (mặc dù Luther tin rằng những cuốn sách này rất hữu ích để đọc, ông khẳng định rằng Apocrypha không thể phục vụ như một quy tắc cho đức tin và thực hành Kitô giáo). Những cuốn Kinh thánh Tin lành đầu tiên thường in các sách ngoại thư (apocrypha), nhưng đặt riêng ngoài những cuốn sách khác. Sau đó, người ta dừng lại việc bỏ các sách này vào trong Kinh thánh của họ.
Đâu là những lý lẽ đã khiến những người theo đạo Tin lành theo lập trường của thánh Giê-rô-ni-mô, từ chối các sách apocrypte (ngoại thư)?
1) Các sách (nghĩa là các sách thuộc đệ nhị thư quy trong quy điển Công Giáo) không thuộc thư quy Do Thái vùng Pa-lét-tin, nơi đó Chúa Giêsu sinh ra và sống. Chúa Giê-su có thể biết các sách này, nhưng có lẽ Ngài không xem chúng là Kinh Thánh, sách được linh hứng.
2) Những sách này không bao giờ được trích dẫn trong Tân Ước, không được trích dẫn bởi Chúa Giêsu, cũng không bởi các tông đồ.
3) Giá trị và ích lợi đối với đức tin không thể so sánh với những cuốn sách trong quy điển (một số tuy nhiên được quan tâm nhiều hơn những cuốn khác).
Chúng ta hãy xem xét qua một chút các sách ngoại thư (Apocrypha)
1 ÉT-RA là bản sửa đổi của sách Ét-ra quy điển với một số bổ sung.
2 ÉT-RA chủ yếu bao gồm tầm nhìn đồng thuận với sách Ét-ra, nhưng trên thực tế có nguồn gốc đa dạng. Đây là một tác phẩm khải huyền của Ét-ra.
TO-BI-A là một câu chuyện đạo đức, lấy bối cảnh thời lưu đày, nhằm mục đích minh chứng cho người Do Thái thấy rằng con đường dẫn đến hạnh phúc là tuân theo Lề luật.
GIU-ĐI-THA cũng là một câu chuyện lịch sử, ca ngợi lòng dũng cảm của một góa phụ Do Thái ngoan đạo, bà đã đưa thành phố Bethulia thoát khỏi quân xâm lược Assyria, do Holoferne lãnh đạo.
Hai cuốn sách vừa nói (Tô-bi-a và Giu-đi-tha) được viết bằng tiếng Aram, nhưng hiện nay chỉ tồn tại các bản dịch tiếng Hy lạp.
CÁC BỔ SUNG SÁCH ÉT-TE: 7 chương đã được thêm vào sách Ét-te, nhấn mạnh rõ hơn tham gia của Thiên Chúa trong sự giải thoát dân tộc Ngài.
SÁCH KHÔN NGOAN có nhiều điểm tương đồng với sách Châm ngôn. Cuốn sách này thuộc về văn chương khôn ngoan, được viết bởi một người Do Thái Alexandria tuyên bố hạnh phúc của người công chính và lên án những kẻ nghịch đạo, cũng như để ca ngợi Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa.
SÁCH HUẤN CA (còn được gọi là sách mang tên tác giả Giê-su, con trai của Sirach, đã viết vào khoảng năm 200 trước Công nguyên. Cuốn sách được cháu nội của ông chuyển dịch sang tiếng Hy Lạp vào năm 132 trước Công nguyên). Chủ đề chính của sách cũng là sự khôn ngoan. Ông đưa ra nhiều lời khuyên để dẫn dắt cuộc sống của mình trong mọi tình huống. Chương 44 đến 50 ca ngợi những người vĩ đại của Cựu Ước.
BA-RÚC: chứa một thánh vịnh, một suy gẫm về Khôn ngoan và một diễn văn Ngôn sứ được gán cho Ba-rúc, môn đệ của ngôn sứ Giêrêmia (có lẽ không đúng). Sách tiếp theo sau Thư Giê-rê-mi gửi cho Ba-rúc, cảnh báo chống lại việc thờ ngẫu tượng - muộn hơn nhiều so với Giê-rê-mi.
BÀI CA CỦA BA THANH NIÊN HÍP-RI là một bổ sung cho cuốn sách Đanien, gồm lời cầu nguyện Abednego và bài ca giải thoát ba người trẻ bị ném vào lò lửa.
Câu chuyện bà SUZANNA được đưa vào trong sách Đanien sau, để vinh danh Ngôn sứ đã giải cứu người phụ nữ trẻ khỏi lời buộc tội sai lầm.
CÂU CHUYỆN CỦA BEL VÀ CON RỒNG theo sau tường thuật Suzanna cũng được soạn thảo cho vinh quang của Đa-ni-en.
LỜI CẦU NGUYỆN CỦA MANASSE là thú nhận tội lỗi, lấy cảm hứng từ sách 2 Sbn 33.
Cuốn sách MA-CA-BÊ thứ nhất kể về cuộc nổi dậy của người Do Thái, dưới sự chỉ đạo của Giu-đa Ma-ca-bê chống lại nhà vua Syria, Antiochus Epiphane (175 đến 135 trước Công nguyên). Đó là một tài liệu có giá trị về lịch sử Do Thái thời đó. Mục đích của cuốn sách, được viết vào khoảng năm 100 trước Công nguyên, là muốn cổ võ người Do Thái tiếp tục trung thành với Lề luật.
Cuốn sách thứ hai của MA-CA-BÊ kể về những sự kiện tương tự lên cho đến năm 160, nhưng bằng cách thêm những câu chuyện huyền thoại để xây dựng độc giả. Giá trị lịch sử của nó là ít hơn cuốn sách thứ nhất.
-------------------------------
Chú thích:
[2] A biblical canon or canon of scripture is a set of texts (or "books") which a particular Jewish or Christian religious community regards as authoritative scripture. The English word canon comes from the Greek κανών, meaning "rule" or "measuring stick". Christians were the first to use the term in reference to scripture, but Eugene Ulrich regards the notion as Jewish.
Different religious groups include different books in their biblical canons, in varying orders, and sometimes divide or combine books. The Jewish Tanakh (sometimes called the Hebrew Bible) contains 24 books divided into three parts: the five books of the Torah ("teaching"); the eight books of the Nevi'im ("prophets"); and the eleven books of Ketuvim ("writings"). It is composed mainly in Biblical Hebrew, and its Septuagint is the main textual source for the Christian Greek Old Testament.
Christian Bibles range from the 73 books of the Catholic Church canon, the 66 books of the canon of some denominations or the 80 books of the canon of other denominations of the Protestant Church, to the 81 books of the Ethiopian Orthodox Tewahedo Church canon.
The first part of Christian Bibles is the Greek Old Testament, which contains, at minimum, the above 24 books of the Tanakh but divided into 39 (Protestant) or 46 (Catholic) books and ordered differently. The second part is the Greek New Testament, containing 27 books; the four canonical gospels, Acts of the Apostles, 21 Epistles or letters and the Book of Revelation.
[3] Jamnia or Yavneh (יַבְנֶה) in the 1st century AD was a small town located along Israel’s southern coastal plain between Jaffa and Ashdod. It is believed that Jamnia hosted the discussions pertaining to the establishment of the Jewish canon. According to Rabbinic sources, when the Jerusalem Temple was destroyed by Titus in 70 AD, Yochanan ben Zakkai (a leading Pharisaic proto-rabbinic leader who opposed the Saddusaic leadership) established a center of learning in Jamnia. This attracted proto-rabbinic scholars to this area. After the Temple’s destruction, Jamnia gradually became a new spiritual center in Israel. Israel’s legislative body (the Great Beit Din later referred to as the Sanhedrin) relocated to Jamnia (Babylonian Talmud, Rosh Hashanah 31a). Other names often associated with Jamnia are Gamliel II, the leader of Bet Din and Akiva ben Joseph, a charismatic leader from the days of Bar Kochba Revolt.
[4] Khác với thư quy Cựu Ước Công giáo gồm tất cả 46 quyển, xếp theo 4 loại sau đây:
- Phần một là 5 quyển sách Lề luật của Mô-sê (Ngũ Kinh): Sáng Thế, Xuất Hành, Lê-vi, Dân Số, Ðệ Nhị Luật.
- Phần hai là 16 quyển sách Lịch Sử: Giô-suê, Thủ Lãnh (Thẩm Phán), Rút, 2 sách Sa-mu-en, 2 sách các Vua, 2 sách Sử Biên niên, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, 2 sách Ma-ca-bê.
- Phần ba là 7 quyển Khôn Ngoan: Gióp, Thánh vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca.
- Phần bốn là 18 quyển Ngôn Sứ: I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ai Ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Ða-ni-en, Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Gio-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a, Ma-la-khi.
[5] 2 V 22,3-10: 3Năm thứ mười tám triều Giô-si-gia, vua sai ký lục Sa-phan, con ông A-xan-gia-hu, cháu ông Mơ-su-lam, đến Nhà ĐỨC CHÚA và nói: 4“Hãy lên gặp thượng tế Khin-ki-gia-hu, xin thượng tế cộng lại số bạc dâng vào Nhà ĐỨC CHÚA, mà các tư tế canh ngưỡng cửa đã nhận của dân; 5người ta phải trao số bạc đó cho những người lo việc sửa chữa, những người phụ trách Nhà ĐỨC CHÚA; rồi những người này phải trả cho những người lo việc sửa chữa Nhà ĐỨC CHÚA, để họ sửa chữa những chỗ hư hại trong đó; 6cũng phải trả cho thợ mộc, thợ xây nhà và thợ nề, để họ mua gỗ và đá đẽo mà sửa chữa Nhà ĐỨC CHÚA. 7Nhưng đừng đòi họ tính sổ về số bạc đã trao cho họ, vì họ hành động liêm chính.”8Thượng tế Khin-ki-gia-hu nói với ký lục Sa-phan: “Tôi đã tìm thấy sách Luật trong Nhà ĐỨC CHÚA.” Ông Khin-ki-gia-hu trao sách cho ông Sa-phan đọc. 9Ký lục Sa-phan đến gặp vua và trình lên vua rằng: “Bầy tôi của vua đã đúc số bạc tìm thấy trong Nhà ĐỨC CHÚA, và đã trao cho những người lo việc sửa chữa, những người phụ trách Nhà ĐỨC CHÚA.” 10Rồi ký lục Sa-phan báo tin cho vua như sau: “Tư tế Khin-ki-gia-hu đã đưa cho tôi một cuốn sách.” Sau đó, ông Sa-phan đọc sách trước mặt vua.
[6] Theo Kinh thánh, sau cái chết của Vua Solomon vào thế kỷ thứ chín, vương quốc của vua David chia thành hai thực thể. Ở phía nam, vương quốc Giu-đa với Giê-ru-sa-lem là thủ đô và ở phía bắc, Vương quốc Ít-ra-en với thành phố Samaria là thủ đô. Theo lịch sử, vào năm -722, quân Assyria do Salmanazar V lãnh đạo sau đó là Sargon II tiêu diệt đất nước này, đặt dấu chấm hết cho vương quốc Ít-ra-en.
Một phần dân chúng bị đi lưu vong. Hai Sách Các Vua sau đó viết rằng vì Samaria bị xâm chiếm và định cư những người đến từ Babylonia hoặc Syria và dân Ít-ra-en ở Samaria đã ngã theo ngoại giáo. Người Sa-ma-ri luôn tự xưng là hậu duệ thuần túy của 10 chi tộc Ít-ra-en sinh sống tại Sa-ma-ri-a, và sẽ bác bỏ mọi cáo buộc ngoại giáo đến từ dân Do thái ở vương quốc Giu-đa phía nam.
[7] The Council of Jamnia, presumably held in Yavneh in the Holy Land, was a hypothetical late 1st-century council at which the canon of the Hebrew Bible was formerly believed to have been finalized and which may also have been the occasion when the Jewish authorities decided to exclude believers in Jesus as the Messiah from synagogue attendance, as referenced by interpretations of John 9:22 in the New Testament. The writing of the Birkat ha-Minim benediction is attributed to Shmuel ha-Katan at the supposed Council of Jamnia.
[8] Công đồng Tren-tô diễn ra từ năm 1545 -1563 do Giáo hoàng Phaolô III triệu tập.
II. VẤN ĐỀ QUY ĐIỂN HAY THƯ QUY (Biblical canon)
2. Quy điển Tân Ước
Quy điển Tân Ước chứa 27 cuốn sách. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bốn Tin Mừng là phần quan trọng của quy điển vì chứa đựng những tường thuật hợp lý về cuộc đời của Chúa Giêsu, cũng như những lời của Ngài. Nhưng chúng ta biết rằng cũng có các "sách Tin Mừng”khác đã được viết, chẳng hạn như Tin mừng của Phi-lip-phê, của Phê-rô, của Thô-ma, của Gia-cô-bê,... . Chúng ta đặt ra câu hỏi: "Tại sao bốn sách Tin mừng chúng ta có trong Tân ước được xem là Lòi Chúa mà không phải là những sách cũng gọi là Tin mừng mang tên những tông đồ khác?”Câu hỏi này cũng được đặt ra đối với các thư tín, vì các tông đồ cũng đã viết những lá thư khác ngoài những thư được đưa vào thư quy Tân Ước.
Chúng ta được biết nhiều hơn về hình thành của quy điển Tân Ước hơn là quy điển Cựu Ước. Thật vậy, chúng ta biết nhiều tác phẩm của các nhà văn Kitô giáo ở thế kỷ thứ II (và thậm chí cuối thế kỷ thứ nhất), đến nổi chúng ta hiểu vấn đề được đặt ra cho Giáo hội thời đó và tại sao Giáo hội chỉ giữ lại 27 cuốn sách của Tân Ước.
Chúng ta có thể tin rằng sự hình thành của Tân Ước được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nếu Thiên Chúa muốn cho việc truyền bá thông điệp về Con của Ngài, Chúa Giê-su qua Tân Ước, thì bộ sách này phải đáng tin cậy. Khôn ngoan của con người không thể đủ để soạn thảo các sách mặc khải, hoặc để phân địch chúng và đặt hội tụ chúng thành một tập. Nhưng Thánh Thần Thiên Chúa đã tác động đến những gì dduojc viết để Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô và giáo huấn của Ngài được truyền tải đến chúng ta một cách trung thực và được đón nhận như Lời của Ngài.
a. Các sách của Tân Ước
Mỗi cuốn sách Tân ước được soạn thảo riêng biệt. Các tác giả, những người nghe và nhận, ngày tháng niên biểu, hoàn cảnh thay đổi từ cuốn sách này đến cuốn sách khác. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng tất cả những cuốn sách hay bản văn đầu tiên của Tân Ước đều được viết vào nửa sau của thế kỷ thứ I - những thư đầu tiên của Phao-lô được viết vào khoảng năm 50. Có thể là những sưu tập những lời của Chúa Giêsu đã tồn tại vào lúc đó, nhưng chúng ta không thể chắc chắn về điều này. Không còn nghi ngờ gì nữa, ký ức về những lời của Chúa Giê-su đã được các tông đồ truyền khẩu, và rồi sau đó bởi các Kitô hữu khác, kể từ Lễ Ngũ Tuần. Chúng ta có một ví dụ trong sách Công vụ 20,35: “Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận”.
Vào cuối thế kỷ thứ I, các Kitô hữu đã nhận biết ít nhất một số sách trong Tân Ước là Kinh thánh, có nghĩa là Lời được linh hứng, là Lời Thiên Chúa: trong 1 Ti-mô-thê 5,18 (Quả vậy, Kinh Thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp lúa, và làm thợ thì đáng được trả công), chúng ta có một trích dẫn từ Tin mừng Lu-ca 10,7 (Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia), được nhóm lại với một câu từ sách Đệ nhị luật và được giới thiệu bởi các từ sau đây: “Quả vậy, Kinh Thánh có nói ". Trong 2 Pr 3,15-16, Phê-rô nói về những lá thư của Phao-lô như là một phần của Kinh thánh: “[15]Và anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ, như ông Phao-lô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông.[16]Ông cũng nói như vậy trong tất cả các thư của ông, khi bàn đến các vấn đề này. Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu; những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh, bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy hoạ diệt vong”.
Vào cuối thế kỷ thứ I (khoảng năm 96), giáo phụ Clement thành Rôma đề cập đến lá thư đầu tiên gửi cho Cô-rinh-tô và nói là "những lời của Chúa Giê-su".
Đến đầu thế kỷ thứ II, thư của Ba-na-ba trích dẫn những lời của Chúa Giê-su: “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít“(Mt 22,14), khi tuyên bố: "được viết".
Các chứng tá khác nhau của nửa đầu thế kỷ thứ II cho thấy các tác phẩm của các tông đồ đã được đọc trong các giáo hội (thánh Justin tử đạo nói về "hồi ký của các tông đồ và các môn đệ của họ").
b. Từ cộng đoàn giáo hội này đến cộng đoàn giáo hội khác
Phải mất một thời gian dài để các sách Tân Ước khác nhau được tất cả các giáo hội của Đế chế La Mã biết đến. Dưới sự cai trị của Đế chế La-mã, thông tin liên lạc thì tốt, nhưng chậm. Các sách chỉ có thể được sao chép bằng tay, đó là công việc khó khăn. Chỉ những người giàu mới có thể mua sách.
Do đó, chúng ta không thể tưởng tượng công khó của các Kitô hữu tiên khởi truyền bá khắp thế giới các tác phẩm của các tông đồ mà họ đã biết.
Tuy nhiên, từng chút một, các Tin mừng và các thư tín lưu hành từ Giáo hội này sang Giáo hội khác: Hãy xem trường hợp của Giáo hội La-mã vào những năm 70. Các Kitô hữu của thành phố này biết ít nhất thư gởi tín hữu La Mã và Tin Mừng theo thánh Mac-cô. Những cuốn sách đã được đọc trong phụng vụ.
Các Kitô hữu của một Giáo hội khác, khi ngang qua La-mã, đã nghe các bài đọc này. Họ muốn làm cho các tác phẩm này được Giáo hội của họ biết đến với và xin có một bản sao. Vả lại, có thể đã có sự bách hại buộc các Kitô hữu phải tìm nơi ẩn náu ở một thành phố khác, mang theo một bản sao của một thư tín hoặc Tin Mừng.
Do đó, từng chút một, các bộ sưu tập các tác phẩm của các tông đồ đã được thành lập, chủ yếu ở các trung tâm Kitô giáo lớn như La-mã, Alexandria, Antioch, Caesarea hoặc Ephesus. Những bộ sưu tập này ban đầu không đầy đủ, so với Tân Ước. Nhưng chẳng bao lâu, tất cả những cuốn sách mà chúng ta biết đã được tìm thấy, được nhóm lại và lan truyền khắp Đế quốc La Mã. Các nhà văn Kitô giáo vào giữa thế kỷ thứ II đã trích dẫn hầu hết tất cả các sách Tân Ước.
Cần lưu ý rằng trong một số giáo hội, họ cũng đọc các sách Kitô giáo khác nhưng các sách này không được đón nhận trong Thư quy Tân Ước.
c. Các sách Kitô giáo ngoài quy điển
Chúng ta biết, qua các trích dẫn, bởi vì bản văn hoàn chỉnh thường bị mất, rằng các sách Tin Mừng khác đã được viết, bên cạnh các sách của Mat-thêu, Mac-cô, Lu-ca và Gio-an. Một trong số đó là "Tin mừng theo thánh Thoma", giờ đây được chúng ta biết đến nhiều hơn, bởi vì chúng ta đã tìm thấy một bản sao, trong một bản dịch qua tiếng Copte, vào năm 1946 ở Ai Cập. Đó là một sưu tập các ngôn từ của Chúa Giêsu, một phần chứa các các đoạn văn của các Tin Mừng của chúng ta. Trong khi đó, ở các nơi khác, các Tin Mừng ngụy thư lại được trích dẫn (ví dụ như Tin Mừng theo người Híp-ri); tuy nhiên, một vài từ của Chúa Giêsu phải nói là không thấy có nơi các Tin Mừng. Người ta tin rằng tin mừng của thánh Thô-ma được viết ở Syria vào thế kỷ thứ II.
Trong số các tác phẩm ngụy thư được nhiều Kitô hữu đọc và tôn trọng trong thế kỷ thứ 2 bao gồm:
Thư của Clement thành La-mã gởi đến Giáo hội Cô-rinh-tô (khoảng năm 96). Clement lấy cảm hứng từ giáo huấn của Phao-lô, của Gia cô bê và của thư gởi tín hữu Híp-ri. Lá thư của ông đã được đọc trong phụng vụ của giáo hội Cô-rinh-tô khoảng năm 170.
Didache (hay Giáo huấn của mười hai tông đồ) là một tập hợp các giới luật về đạo đức Kitô giáo và các chỉ dẫn về bí tích rửa tội, bữa tiệc thánh thể và các mục tử của Chúa, có niên đại từ đầu thế kỷ thứ II.
Thư của Ba-na-ba, có một số điểm tương đồng với thư gởi tín hữu Híp-ri, có lẽ được viết ở Alexandria khoảng năm 130.
Mục tử Hermas, một tác phẩm của thế kỷ thứ hai, do tác giả Hermas, anh trai của giám mục Pius thành Rome. Đây là một thể loại sách khải huyền.
Sách khải huyền của Phê-rô, chứa đựng hai tầm nhìn, một thiên đàng, một là địa ngục, được viết khoảng năm 150.
Các sách ngụy thư này được một số giáo hội rất thích và đánh giá cao, vì các tác giả Ki-tô hữu ở thế kỷ thứ II hoặc thứ III đã xếp chúng trong Thánh Kinh.
Trong số các tác phẩm khác của thế kỷ thứ II có ảnh hưởng lớn trong Giáo hội bao gồm các thư của thánh Ignatius thành Antioch, của Polycarp, Giám mục Smyrna, Hộ giáo của Justin, v.v ...
3. Sự hình thành quy điển Tân Ước
Xuất hiện các cuốn sách có lập trường của những kẻ lạc giáo đã buộc Giáo hội phải xác định quy điển của Tân Ước. Hai sai lầm đối nghịch nhau đe dọa Giáo hội: sai lầm của Mác-ci-on, ông đã loại bỏ Cựu Ước, vì theo ông, Thiên Chúa Cựu Ước khác hơn là Thiên Chúa của Đức Giêsu. Ông chỉ giữ lại Tin mừng của Luca và các thư của Phao-lô trong Tân Ước. Để chiến đấu chống lại Mác-ci-on, các tiến sĩ của Giáo hội như I-rê-nê đã khẳng định sự linh hứng của toàn bộ Tân Ước, toàn bộ Tân ước là Lời Thiên Chúa.
Ngược lại, Montan, tự xưng là được Chúa Thánh Thần linh hứng, đe dọa sẽ thêm vào Kinh thánh các tác phẩm muộn hơn nhiều so với những tác phẩm khác.
Do đó, Giáo hội cần phải đưa ra các giới hạn hay các tiêu chuẩn cho các sách được đón nhận như Lời Chúa.
Danh sách đầu tiên của những cuốn sách nhận được là "quy điển Muratori[9]", một tài liệu Latin khoảng năm 170, không may tìm thấy trong tình trạng tồi tệ. Tài liệu chúng ta biết những cuốn sách nào đã được xem như linh hứng bởi Giáo hội La-mã trong nửa sau của thế kỷ thứ II. Thư gởi tín hữu Híp-ri không được đề cập đến (trạng thái của văn bản không cho phép biết nếu các thư Gia-cô-bê và II Phê-rô và III Gio-an có bao gồm không).
Vào đầu thế kỷ thứ II, Clement thành Alexandria đã viết một bài bình luận về tất cả các sách của Tân Ước, ngoại trừ các thư Gia-cô-bê, II Phê-rô và III Gio-an. Nhưng Clement công nhận sự linh hứng của các sách Mục tử Hermas và sách Khải huyền của Phê-rô.
Vào thời điểm đó, đại đa số các giáo hội đón nhận tất cả các sách Tân Ước. Ở đây đó vẫn còn chút do dự nghi ngờ về cuốn này hay cuốn khác, chủ yếu là các thư Gia-cô-bê, II Phê-rô, II và III Gio-an, cũng như thư gởi tín hữu Híp-ri, ở phương Tây, trong khi ở Syria và Pa-lét-tin, họ đặt vấn đề về sách Khải huyền. Những cuốn sách khác, như Clement thành La-mã, Hermas, Didache, Khải huyền của Phê-rô được coi là hữu ích, nhưng không được linh hứng (nhà thần học vĩ đại Origen đã tuyên bố như vậy trong thế kỷ thứ III).
Dần dần, đồng thuận được thực hiện trong tất cả các cộng đoàn giáo hội trên những cuốn sách có uy quyền. Có những sách được công nhận và những sách khác bị loại ra ngoài thư quy. Vào thế kỷ thứ IV, Thư quy Tân Ước chắc chắn được hình thành. Vào năm 367, Athanasius của Alexandria sử dụng thuật ngữ "quy điển”(canon) để chỉ 27 cuốn sách của Tân Ước. Tại Công đồng Carthage năm 397, những cuốn sách này được tuyên bố là "Kinh thánh". Sắc lệnh nói rằng chỉ những cuốn sách này nên được đọc trong các giáo hội như Kinh thánh.
Phải cần có một khoảng thời gian dài trôi qua giữa việc soạn thảo các sách Tân Ước và tuyên bố chính thức của Giáo hội thừa nhận tính linh hứng (để loại trừ bất kỳ tác phẩm không được cho là linh hứng). Nhưng chúng ta không được quên rằng thẩm quyền của những cuốn sách này, với một vài ngoại lệ, đã tạo uy quyền cho gần như tất cả các giáo hội trong một thời gian dài. Công đồng Carthage chỉ công nhận một tình trạng đã có, các sách đó được các cộng đoàn Ki-tô hữu đón nhận như Lời Chúa.
a. Các tiêu chuẩn để xác định tính quy điển
Trên cơ sở nào, Giáo hội của các thế kỷ đầu tiên dựa vào để phân biệt các cuốn sách được linh hứng trong số các sách khác?
Chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn Giáo hội trong sự lựa chọn này, vì đức tin của tất cả các tín hữu đương đại hay trong tương lai phụ thuộc vào đức tin của Giáo hội. Nhưng Chúa Thánh Thần linh hứng cho trí thông minh con người để cho họ nhận thức phân biệt. Phân biệt này được thực hiện với ba yếu tố sau đây:
1) Sự đồng thuận của tất cả các giáo hội: những cuốn sách được đọc ở khắp mọi nơi và có thẩm quyền được công nhận trong hầu hết các giáo hội, được nhận vào quy điển. Điều này cho thấy chính thẩm quyền của Tân Ước đã tạo thành yếu tố nền tảng của Ki-tô giáo, trước khi có bất kỳ tuyên bố chính thức nào.
Chúng ta đã chú ý rằng một số sách Tân Ước đã khó chấp nhận hơn ở chỗ này hay ở nơi khác. Nhưng đây là những trường hợp ngoại lệ, và các giáo hội do dự cuối cùng đã đi đến thỏa thuận với đa số. Lý do cho những sự do dự này rất đa dạng: trong trường hợp của thư Giu-đa, II Phê-rô hoặc III Gio-an, chính vì sự ngắn gọn của các thư khiến các thư đó bị đánh giá ít quan trọng. Các thư này hiếm khi được đọc trong phụng vụ, người ta ít lưu hành tự nguyện từ giáo hội này sang giáo hội khác. Chúng đã được biết đến sau đó ở một số thành phố. Sách Khải huyền vì tính văn chương đặc biệt cũng bị ngờ vực, vì có nhiều khác biệt so với các sách Tân Ước khác. Người ta không chắc chắn rằng tác giả sách Khải huyền là thánh Gio-an tông đồ, nhưng truyền thống vẫn gán cho ngài. Một lý do khác, vì người ta không biết tên tác giả nên thư gởi cho tin hữu Híp-ri nằm ngoài quy điển thời đó. Điều này dẫn chúng ta đến tiêu chuẩn thứ hai.
2) Đặc tính tông truyền của các sách Tân Ước. Chỉ những cuốn sách có từ thời các Tông đồ, do họ viết (các thư của Phao-lô, Phê-rô và Gio-an), hoặc được viết bởi những người khác nhưng chẳng hạn dưới sự kiểm soát của các tông đồ (chẳng hạn như Tin mừng Mac-cô, bạn đồng hành của Phê-rô) đã được nhận vào quy điển. Chúng ta sẽ thấy sau này dưới tầm quan trọng của tiêu chuẩn này.
3) Giá trị thiêng liêng của những cuốn sách này. Ví dụ Calvin viết: "Thiên Chúa, bằng cố vấn đáng ngưỡng mộ của Ngài, đã khiến có sự đồng thuận công khai, dành cho tất cả các tác phẩm khác đã bị từ chối, và chỉ còn lại những tác phẩm qua đó bùng nổ sự uy nghiêm của Ngài ". Tiêu chuẩn này có vẻ chủ quan. Làm thế nào người ta có thể chắc chắn không bị nhầm lẫn khi thích cuốn sách này so với cuốn sách khác, khi làm sáng tỏ sự uy nghi thiêng liêng?
Tuy nhiên, khi đi lùi thời gian chúng ta thấy rằng Giáo hội của các thế kỷ đầu tiên không nhầm lẫn. Chẳng hạn, các sách Tin Mừng ngụy thư hay ngoại thư cho thấy Chúa Giêsu trở thành Người làm phép lạ, hơn là Người mặc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha. Những cuốn sách được chấp nhận trong quy điển, nếu chúng chứa đựng một giáo lý đôi khi hữu ích, lại rơi vào chủ nghĩa thiên về lề luật (Didache) hoặc trong tầm nhìn không thể kiểm soát (Mục tử của Hermas).
b. Truyền thống Giáo hội và Kinh thánh
Sự hình thành quy điển đặt cho chúng ta một câu hỏi. Nếu Giáo hội của các thế kỷ đầu tiên đã xác định, thì chúng ta không thể nói, với Giáo hội Công giáo La Mã, rằng thẩm quyền của Giáo hội ngang bằng với Tân Ước, truyền thống của Giáo hội có ưu tiên, ít nhất là trong thời gian đó, hơn Kinh thánh?
Chúng ta nên công nhận vai trò của truyền thống truyền khẩu trong Giáo hội sơ khai, đặc biệt là trước khi Tân Ước được soạn thảo. Thông điệp của các tông đồ trước tiên được rao giảng và giảng dạy bằng lời trước khi nó được soạn thảo. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ hai, Papias, giám mục của Hierapolis, đã tuyên bố: "Tôi không nghĩ rằng tôi có thể có lợi ích trong việc đọc sách hơn là nghe những phát biểu bằng giọng nói sống động và hiện tại". Nhưng Papias đã đích thân nghe thánh tông đồ Gio-an trong suốt cuộc đời ngài. Cuộc gặp gỡ này đã để lại dấu ấn trong ông.
Trong một thế giới ở đó văn bản được phổ biến rộng rãi nhưng ở đó những cuốn sách đắt đỏ và khó tái tạo và khó phổ biến, một thông điệp truyền khẩu dễ dàng hơn là văn bản.
Điều này giải thích tại sao các Kitô hữu tiên khởi không cảm thấy cần phải viết các Tin mừng ngay khi Giáo hội ra đời vào ngày lễ Ngũ tuần. Người ta có thể nghe các tông đồ - và người ta có thể tin tưởng vào trí nhớ của mình nhiều hơn những gì chúng ta có thể làm ngày nay, vì chúng ta quen với việc viết lách mọi thứ bằng văn bản.
Chừng nào các Tông đồ còn sống, truyền thống truyền khẩu là đủ trong nhiều trường hợp để truyền bá Tin mừng. Trong trường hợp nghi ngờ, những người nhận được thông điệp đến từ chính Chúa Giê-su có thể được kêu gọi đến làm chứng. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng ngay từ đầu, các tông đồ đã thấy phù hợp để viết thư cho các giáo hội mà họ không ở gần, họ phải đi xa và các Tin Mừng được viết ra ít nhất là một thế hệ sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại.
Nhưng khi các tông đồ, nhân chứng về những gì Chúa Giêsu đã làm và nói, bắt đầu biến mất, người ta có thể tiếp tục dựa vào một thông điệp truyền khẩu, có khả năng bị biến dạng. Các tông đồ không còn ở đó để đảm bảo rằng việc rao giảng và giảng dạy của Giáo hội phù hợp với lời của Chúa Giêsu. "Anh em thân mến, tôi vẫn ước mong viết thư cho anh em về ơn cứu độ chung của chúng ta, thì nay lại bó buộc phải viết cho anh em, để khuyên nhủ anh em chiến đấu cho đức tin đã được truyền lại cho dân thánh chỉ một lần là đủ.”(cũng xem 2 Ti-mô-thê 1,14: Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta). Giáo hội đã được dẫn dắt để tự tạo ra một quy tắc, không gì khác hơn là lời chứng của các tông đồ, nhưng được viết ra, do đó cố định, bất biến.
Các tông đồ thực sự đã đóng một vai trò không thể thay thế trong mặc khải. Thiên Chúa đã tỏ mình tại một thời điểm trong lịch sử bản thân của Ngài. Để các thế hệ tương lai biết "Lời của Thiên Chúa Trời”(Ga 1,1-14, Hr 1,1), phải có các nhân chứng về việc làm và lời nói của Chúa Giê-su truyền lại cho các thế hệ khác (Lu-ca 1,2: “Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa e truyền lại cho chúng ta”; Ga 21,24: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực”; 1 Ga 1,1: “[1]Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống ”). Không có gì có thể thay thế lời chứng tông đồ này; họ là nhân chứng của Chúa Giêsu, các tông đồ không thể có người kế vị. Để lời khai của họ không biến mất với họ, các lời truyền khẩu phải được viết. Tân Ước là lời chứng bằng văn bản. Đây là truyền thống đúng và chắc chắn duy nhất, vì chính nhờ đó mà chúng ta đã được truyền đạt những gì Chúa Giêsu đã làm và nói.
Khi xác định quy điển của Tân Ước, Giáo hội ngày xưa đã công nhận một thẩm quyền vượt trội hơn mình, mà Giáo hội phải liên tục quy chiếu đến. Khác xa với việc tuyên bố thẩm quyền của chính mình, Giáo hội đã thực sự thực hiện một hành động tuân phục và khiêm nhường, và buộc mình phải bảo vệ chống lại mọi cám dỗ để thêm bất cứ điều gì vào kho tàng mặc khải. Với việc xác định quy điển, Giáo hội tuyên xưng là Giáo hội Kinh thánh.
Làm thế nào để không nhìn thấy công việc của Chúa Thánh Thần, mang lại cho tất cả các thế hệ Kitô giáo một nền tảng vững chắc cho đức tin, “mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc”(Luca 1,4).
c. Quy điển của Tân Ước trong lịch sử
Ngược lại với vấn đề thư quy Cựu Ước, thư quy Tân ước đặt câu hỏi về các sách khải huyền, và vấn đề này chia cách người Công giáo và Tin lành. Đối với Giáo hội của thế kỷ thứ IV đã xác định rằng không có vấn đề các các văn bản như tranh chấp vì Khải huyền. Xuyên suốt lịch sử của Giáo hội, các Kitô hữu đã nhận ra tính linh hứng của 27 cuốn sách đã được truyền đến chúng ta. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng một số nhà tư tưởng Kitô giáo đã không đặt tất cả các sách Tân Ước trên cùng một mặt phẳng. Luther, chẳng hạn, đã đối xử với thư của Gia-cô-bê như "thư rơm”bởi vì thư dường như chống lại giáo lý về sự cứu rỗi bởi đức tin.
Trong mắt Luther, các Tin mừng, các thư gởi tín hữu La Mã và Ga-lát có thẩm quyền lớn hơn các sách khác. Đây là một thái độ chủ quan có thể được hiểu trong trường hợp của Luther, vì cuộc đấu tranh mà ông đã tiến hành, nhưng không phải là nền tảng giáo huấn của Giáo hội. Tân Ước giống như Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta phải nhận được toàn bộ, mà không cần thêm bất cứ điều gì vào nó (không có cái gọi là "mặc khải”cuối cùng như những người sáng lập các giáo phái có thể phản đối thông điệp của các tông đồ), và không trừ đi bất cứ điều gì. Có thể là cuốn sách này nói với chúng ta nhiều hơn một cách cá nhân, rằng chúng ta sẵn sàng đọc một số trang hơn những trang khác; nhưng chúng ta phải nhận ra thẩm quyền của tất cả Kinh thánh và Lời Chúa trong Tân Ước. Chúng ta không phải chọn những gì chúng ta thích, nhưng phải chấp nhận những gì Chúa ban cho chúng ta.
---------------------
Chú thích:
[9] The Muratorian Canon (also called the Muratorian Fragment) is an ancient list of New Testament books—the oldest such list we have found. The original document, which was probably written in Greek, is dated to about AD 180 and lists 22 of the 27 books that were later included in the New Testament of the Christian Bible.
III. THỜI KỲ GIỮA HAI "GIAO ƯỚC", NGHĨA LÀ GIỮA CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC
1. Lịch sử dân Do thái từ thời Nơ-khê-mi-a (- 539) đến Giê-su
Cựu Ước là chứng tá quý giá cho lịch sử các nguồn gốc của Ít-ra-en đến thời của Nơ-kê-mi-a (- 539), sau khi trở về từ lưu đày (mặc dù một số giai đoạn lịch sử này trải qua trong im lặng). Nhưng Cựu Ước không nói về các sự kiện xảy ra theo sau thế kỷ thứ V. Các sách ngoại thư (Apocrypha) (đặc biệt là 1 Ma-ca-bê) dạy cho chúng ta biết một phần về câu chuyện này. Tài liệu ngoài Kinh thánh bổ sung kiến thức này.
Chúng ta hãy tóm tắt ngắn gọn bốn thế kỷ lịch sử này:
1) Đế chế Ba Tư: các vị vua Ba Tư đã giữ quyền kiểm soát Trung Đông trong gần hai thế kỷ. Nhưng sức mạnh của họ dần suy yếu (cuộc nổi dậy của Ai Cập khoảng năm - 400, quốc gia thần quyền Do Thái, tạo đồng tiền của chính mình vào khoảng năm - 350).
Từ năm - 333, Alexander Đại đế thực hiện các cuộc chinh phục ở Châu Á. Đế chế Ba Tư bị lật đổ vào năm - 331. Alexander đại đế chết ở Babylon năm - 323.
2) Đế chế Hy Lạp: Sau cái chết của Alexander, đế chế Hy-lạp bị chia rẽ giữa Ptolemy, vua Ai Cập và Seleucids, các vua của Syria và Babylon. Cho đến năm - 197, Giu-đê tuân phục Ptolemy. Chính Ptolemy II là người đã cho chuyển dịch Kinh thánh sang tiếng Hy Lạp bản LXX. Thuộc địa của người Do Thái Alexandria trở thành một trung tâm tư tưởng quan trọng.
Chiến tranh liên tục đối lực giữa các vị vua của Syria và Ai Cập. Các quốc gia bị Alexander chinh phục, bao gồm cả Pa-lét-tin, dần dần bị "Hy Lạp hóa". Ngôn ngữ, phong tục, văn hóa, tôn giáo Hy Lạp chiếm ưu thế ở đó.
Năm -198, Ai Cập chiến bại nhường Giu-đê cho Seleucids. Từ - 175, Antiochus Epiphane đẩy nhanh quá trình Hy Lạp hóa Pa-lét-tin. Ông ta bách hại người Do Thái, bãi bỏ tôn giáo của họ và mạo phạm Đền thờ bằng cách thành lập thờ phượng thần Olympia Jupiter. Một tư tế, Mattathias, làm nổi dậy người Do Thái chống lại kẻ chiếm đóng. Cuộc nổi dậy được lãnh đạo bởi con trai ông, Giu-đa Ma-ca-bê. Ông này giành chiến thắng và đi đến việc khôi phục sự thờ phượng tại Đền thờ Giê-ru-sa-lem sau khi cử hành các nghi lễ thanh tẩy. Ông tiếp tục cuộc chiến giành độc lập chính trị.
Nhưng ông bị giết trong một trận chiến năm - 160. Em trai là Jonathan thay thế anh mình. Đây là sự khởi đầu của một thời kỳ hòa bình và ngay cả chinh phục, đặc biệt là dưới triều đại của Gio-an Hyrcanus, con trai của Simon (134-104). Sau đó, người Pha-ri-siêu bắt đầu đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của quốc gia. Nhưng Gio-an Hyrcanus và những người kế vị, bận tâm đến chính trị hơn tôn giáo, tránh xa lý tưởng thúc đẩy cuộc nổi dậy của anh em nhà Ma-ca-bê, và sát cánh cùng những người Sa-đu-sê-en (quý tộc bảo thủ) chống lại người Pha-ri-siêu.
3) Năm 63 trước Công nguyên, Pompey chiếm Giê-ru-sa-lem. Pa-lét-tin trải qua dưới sự thống trị của La Mã. Năm 40 trước Công nguyên, Herođê được người La Mã bổ nhiệm làm vua bù nhìn, thay mặt họ ông cai trị.
2. Do thái giáo trước Giê-su Ki-tô
Sau khi trở về từ lưu đày (- 539), kinh sư Ét-ra đã đặt Lề luật vào trung tâm cuộc sống của người dân Ít-ra-en. Mất độc lập chính trị khiến người Do Thái chú trọng hơn vào bản sắc tôn giáo: kiến thức và tình yêu của Lề luật Mô-sê tách biệt họ với các dân tộc khác. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy của anh em nhà Ma-ca-bê đã đánh dấu sự hồi sinh chủ nghĩa dân tộc Do Thái, vốn đã không chịu được cai trị của La Mã.
Đền thờ vẫn là trung tâm đời sống tôn giáo ở Ít-ra-en. Các thượng tế thường xuất thân từ phái Sa-đúc-xê-en. Nhưng tại các hội đường, người ta không có lễ hy tế nào, người ta giảng dạy Lề luật, Lề luật nắm giữ một vị trí rất quan trọng. Lưu vong và phân tán, sống xa cách với Do Thái ở Giê-ru-sa-lem, những người lưu đày đặt tầm quan trọng vào hội đường. Các kinh sư được giao nhiệm vụ giảng dạy Lề luật và tuân phục Lề luật. Đối với điều này, Ét-ra thêm một số truyền thống, cho phép điều chỉnh tất cả các chi tiết của cuộc sống.
a. Các giáo phái lớn
Phái Sa-đúc-xê-en: đó là những người giàu có và có ảnh hưởng, nhóm thành các thượng tế và bạn bè của họ, họ là những người bảo thủ, lo lắng để giữ đặc quyền của mình. Về phương diện tôn giáo, họ chỉ công nhận Lề luật Mô-sê, phần còn lại của Cựu Ước có giá trị thấp hơn trong mắt họ. Về mặt chính trị, họ sẵn sàng thỏa thuận với người La Mã để duy trì ảnh hưởng của họ.
Phái Pha-ri-siêu (biệt phái) đặc biệt sốt sắng đối với Lề luật. Họ tách biệt khỏi những người không tuân thử một cách chính xác Lề luật. Hầu hết các kinh sư trong thời của Chúa Giêsu là những người Pha-ri-siêu. Họ rất thích có quyền lực lớn trên nhân dân. Họ từ chối mọi sự hợp tác với người La Mã.
Phái Zé-lốt muốn rũ bỏ ách thống trị La Mã bằng sự nổi dậy. Họ đang chờ đợi một Đấng Thiên Sai đến đuổi kẻ xâm lược. Nhiều lần, họ đi theo một người lãnh đạo mà họ nghĩ rằng họ đã tìm thấy Đấng Mê-si-a (Công vụ 5,36-37: "Thời gian trước đây, có Thêu-đa nổi lên, xưng mình là một nhân vật và kết nạp được khoảng bốn trăm người; ông ta đã bị giết, và mọi kẻ theo ông cũng tan rã, không còn gì hết. Sau ông, có Giu-đa người Ga-li-lê nổi lên vào thời kiểm tra dân số, và lôi cuốn dân đi với mình; cả ông này cũng bị diệt, và tất cả những người theo ông ta đều bị tan tác").
Phái Ét-xê-ni-en: là một giáo phái đã rút khỏi thế giới để sống trong các cộng đồng, nơi họ thực hành lòng đạo đức nghiêm ngặt để giữ "thanh sạch". Hầu hết các học giả tin rằng các tu sĩ Cumran sống gần Biển Chết và nơi đó người ta khám phá ít nhất là một phần của thư viện Kinh thánh (Các cuộn bản thảo Biển Chết) thuộc giáo phái Ét-xê-ni-en.
Những người dân bình thường: (gồm cả Giê-su và hầu hết các môn đệ của Ngài) hầu hết dưới ảnh hưởng của những người Pha-ri-siêu (những người vẫn khinh thường họ vì họ không tuân thủ một cách chi li Lề luật) và nhưng người Zé-lốt, những dùng chủ nghĩa dân tộc để quyến rũ và điều khiển họ.
b. Chờ đợi Đấng Cứu Thế
Những sự kiện bi thảm trong lịch sử Ít-ra-en không thể dập tắt trong lòng người Do Thái, niềm hy vọng đến từ những lời hứa mà Thiên Chúa đã thực hiện cho họ thông qua các Ngôn sứ: Thiên Chúa sẽ chiến thắng kẻ thù của Ngài và thiết lập triều đại của Ngài (Is 8,23 đến 9,6; 11,6-10, Êd 34,25-29, v.v.). Vương quốc của Thiên Chúa sẽ xuất hiện qua phương tiện một vị Vua Cứu thế, đến từ gia đình của Đa-vít (Mk 5,1-5, Gr 23,1-6, Is 11,1, Ed 34,23-24, vv ...). Hy vọng này được khơi dậy vì ách thống trị La Mã đè nặng lên Ít-ra-en trong thế kỷ đầu tiên trước Chúa Kitô. Nhưng một số phong trào có thể được phân biệt trong sự chờ đợi Đấng Cứu thế này:
- Đối với một số người, Triều đại Thiên Chúa sẽ được công bố qua một sự đổi mới tinh thần ngôn sứ. Các ngôn sứ đã im lặng trong năm thế kỷ. Nhưng tiếng nói của họ sẽ được nghe lại: người ta chờ đợi một Ê-li-a mới hoặc một Giê-rê-mi-a mới (Mt 16,14; Mc 6,15 và 9,11-13).
- Những người khác chờ đợi một sự can thiệp siêu nhiên của Thiên Chúa, đến từ trời một "Con Người”đại diện cho "dân các Thánh của Đấng Tối cao”(Đn 7). Cụm từ "Con người”của Đa-ni-en đã đóng một vai trò rất quan trọng trong niềm hy vọng của người Do Thái. Người ta thấy có trong cuốn sách của Hê-nóc, một tác phẩm thuộc thể loại khải huyền, có niên đại từ thế kỷ thứ I trước Công nguyên (nhưng cuốn sách này được biên soạn với nhiều mảnh khác nhau, chúng ta không định được niên đại của những đoạn văn liên quan đến “con người").
Điều chắc chắn vào thời đại La Mã chúng ta có một số lượng rất lớn sách "khải huyền”của người Do Thái, trong đó chiến thắng của Thiên Chúa trước kẻ thù được ca tụng trong một ngôn ngữ biểu tượng và mật mã. Nhưng những cuốn sách này chưa bao giờ được nhận vào quy điển. Chúng thường được gọi là "pseudépigraphes”(là một bản văn gắn cho một tác giả không soạn thảo nó) bởi vì chúng được gán cho các tổ phụ ngày xưa.
- Nhưng Đấng cứu thế mà hầu hết người Do Thái mong đợi là một vị vua như Đa-vít, công chính và hùng mạnh, người sẽ giải thoát Ít-ra-en khỏi kẻ thù của mình bằng cách đánh đuổi kẻ chiếm đóng La Mã. Đấng Cứu Thế sẽ là người mang hy vọng dân tộc, giống như người Zé-lốt chủ trương, và sẽ thành lập một vương quốc trần gian.
KINH THÁNH, ĐỌC VÀ HIỂU ĐỐI VỚI CHÚNG TA HÔM NAY
MỞ ĐẦU
Việc thành lập các Hiệp hội Kinh thánh (Tin Lành) vào đầu thế kỷ XIX đã tạo ra một động lực mới cho việc truyền bá Kinh thánh trên thế giới; truyền bá Lời Chúa, cộng tác với các hội truyền giáo, là mục tiêu của các Hiệp hội Kinh thánh. Ở các quốc gia nơi đó Kinh thánh hiện diện, Hiệp hội Kinh Thánh đã cố gắng làm cho Kinh thánh được biết đến với số lượng lớn nhất thông qua các giáo hội hoặc thông qua công việc của những người loan truyền Kinh thánh. Ở những Kinh thánh không được biết đến, Hiệp hội đã cố gắng dịch, in, truyền bá sách Kinh thánh.
Năm 1800, Kinh thánh được dịch ra 78 thứ tiếng, trong đó có 50 ngôn ngữ châu Âu. Năm 1975, Kinh Thánh được dịch, ít nhất là một phần, sang hơn 1500 ngôn ngữ (khoảng 250 ngôn ngữ cho Kinh thánh toàn bộ, 300 ngôn ngữ khác cho Tân Ước).
Vào năm 1973, các Hiệp hội Kinh thánh phát hành khắp thế giới gần 6 triệu Kinh thánh, bao gồm 65.000 ở Pháp, gần 14 triệu Tân Ước mới và gần 45 triệu một phần sách Kinh thánh.
Nhờ sự quyên góp của các Kitô hữu cho các Hội Kinh Thánh, họ có thể cung cấp Kinh Thánh hoặc Tân Ước với mức giá dễ mua cho những người có ngân quỹ khiêm tốn nhất.
Nhưng để có một cái nhìn về toàn bộ việc phát hành Kinh thánh, đặc biệt là trong một vài thập kỷ, bởi các nhà xuất bản Công giáo, gần như cần phải tăng gấp đôi con số trên.
Kinh thánh chắc chắn là cuốn sách phổ biến nhất trên thế giới hiện nay.
Liên đoàn Kinh thánh Công giáo (Catholic Biblical Federation, CBF[10]) được thành lập vào tháng 4 năm 1969 với sự khuyến khích của Giáo hoàng Phao-lô VI để thực thi Hiến pháp của Công đồng Vatican II,Dei Verbumvà đặc biệt là chương nói vềKinh thánh trong đời sống của Giáo hội.
Kinh nghiệm phong phú của các thành viên CBF trong việc chia sẻ Kinh Thánh và phát triển các bản dịch với sự đa dạng của các nền văn hóa thế giới, cung cấp một kho tàng quý giá cho mục vụ Kinh thánh của tất cả các tổ chức và hiệp hội Công giáo, cống hiến cho sứ mệnh quan trọng của Giáo hội.
I. CHUYỂN DỊCH KINH THÁNH
1. Lý do
Để Kinh thánh ở trong tầm tay của mọi người, Kinh thánh phải được dịch sang tất cả các ngôn ngữ. Rất ít người có thể đọc Kinh thánh trong ngôn ngữ gốc (tiếng Híp-ri và tiếng Hy Lạp). Chúng ta đã thấy (trong các bài học trước) rằng Kinh thánh đã được dịch từ rất sớm sang các ngôn ngữ khác. Nhưng nỗ lực dịch thuật và phổ biến đã chậm lại và thậm chí gần như dừng lại khi triều đại Ki-tô giáo phát triển khắp Âu châu. Đế chế La Mã trở thành "Ki-tô giáo", động lực truyền giáo đã giảm xuống trong Đế chế. Vì, tiếng Latin là ngôn ngữ chung của toàn bộ Giáo hội của Đế chế, dường như không cần thiết phải dịch Kinh thánh.
Do đó, vào thời Trung cổ (một thời kỳ lịch sử quan trọng của Âu châu, trải dài từ thế kỷ thứ V đến cuối thế kỷ thứ XV), Kinh thánh là một cuốn sách dành riêng cho các Tư tế và giáo sĩ đặc biệt là có học.
Trở lại với việc Lời Chúa được lưu truyền trong Kinh thánh, giáo hội Cải cách (giáo hội Tin lành) cảm thấy cần phải dịch Kinh thánh sang ngôn ngữ của người dân mỗi quốc gia để tất cả có thể đọc và hiểu nó.
Phong trào truyền giáo đã tạo nhu cầu cho các bản dịch mới sang các ngôn ngữ khác cần thiết.
Trong một thời gian dài, Giáo hội Công giáo không quan tâm lắm đến việc dịch Kinh thánh. Nhưng kể từ vài thập kỷ, nhiều bản dịch Công giáo đã xuất hiện. Công giáo đã quyết tâm khuyến khích các tín hữu đơn giản đọc Kinh thánh sau một thời gian đấu tranh khá dài cho vấn đề này. Đường lối mới của Giáo hội công giáo La Mã được thể hiện trong một tuyên bố của Giáo hoàng Gio-an XXIII: "Chúng tôi chỉ có thể khuyến khích bất kỳ nỗ lực nào để thu hút các tín hữu hướng đến Kinh thánh, một nguồn sống của giáo lý thiêng liêng."
2. Các khó khăn
Để chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, mà không phản bội gì cả, không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, ngay cả khi người ta biết cả hai ngôn ngữ một cách hoàn hảo.
Mỗi ngôn ngữ có cách “nói” riêng của nó. Cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ không thể được chuyển dịch chính xác trong một ngôn ngữ khác;ví dụ, tiếng Hy Lạp thường sử dụng các câu rất dài (xem Ep 1,3-4 chỉ có một câu trong tiếng Hy Lạp); người dịch có nghĩa vụ phải cắt chúng thành nhiều câu để chúng có thể hiểu được trong một ngôn ngữ khác.
Một số ngôn ngữ có vốn từ vựng phong phú hơn các ngôn ngữ khác và thường nghĩa của từ này hoặc từ đó không khớp chính xác với ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác. Từ "hesed” trong tiếng Híp-ri thường được dịch sang tiếng khác là "lòng thương xót"; kiểu dịch này bỏ qua hay sao nhãng một khía cạnh thiết yếu của "hesed” đó là tình yêu chung thủy, lòng trung thành. Từ "hesed” diễn tả cả tình yêu và sự trung tín của Thiên Chúa (Xuất hành 34,7; Thánh vịnh 85,5; I-xa-i-a 63,7; Mi-kha 7,20, v.v.). Tương tự, từ "berith”trong tiếng Híp-ri có nghĩa là cả "di chúc”và "giao ước";đó là một giao ước, nhưng một giao ước được ban cho như một ân sủng, không phải là một giao ước giữa những những người bình đẳng với nhau.
Một khó khăn khác của dịch thuật đến từ thực tế bối cảnh xã hội, kinh tế, văn hóa của những con người trong Kinh Thánh rất khác với chúng ta; khi Kinh thánh nói về "người thu thuế” hoặc "quan chức thuế vụ", chúng ta phải giải thích về một nhân vật như vậy vào thời điểm đó. Nhưng nếu người ta dịch "người thu thuế", vẫn còn một sự hiểu lầm; những người thu thuế ngày nay ít có điểm chung với những người thu thuế thời Kinh thánh, nhất là trong xứ thuộc đế chế La-mã.
Trong mỗi ngôn ngữ, có những từ có nghĩa kép. Trong tiếng Hy Lạp, ví dụ, từ "pneuma” có nghĩa là là "gió”và "thần khí". Điều này cho phép các kiểu chơi chữ không thể được chuyển dịch qua một ngôn ngữ khác, ví dụ Gio-an 3,8: “Gió muốn thổi đâu thì thổi;ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy”. Vẫn trong Gio-an 3, từ Hy Lạp "anothen”(câu 3) có thể có nghĩa là "một lần nữa”hoặc "trên cao". Thuật ngữ này chắc chắn được sử dụng có chủ ý để diễn đạt rằng có một sự sinh ra mới đến từ trên cao, có nghĩa là từ Thiên Chúa.Nhưng làm thế nào để chuyển dịch ý nghĩa kép này trong các ngôn ngữ khác?
Một ví dụ cuối cùng. Từ "psyché”có ý nghĩa là “sự sống”cũng như “tâm hồn”. Không phải lúc nào cũng dễ dàng để biết từ được sử dụng theo nghĩa nào. Trong Mc 8,35-37, bản dịch của ông Segond phải nại đến hai từ tiếng Pháp để dịch chỉ có một từ tiếng Hy Lạp. "Ai muốn cứu mạng mình sẽ mất nó, nhưng ai mất mạng vì ta và tin mừng sẽ cứu nó, và có ích gì khi con người chiếm hữu tất cả thế giới nếu anh ta mất linh hồn?([35]ὃς γὰρ ἐὰν θέλῃ τὴνψυχὴναὐτοῦ σῶσαι ἀπολέσει αὐτήν· ὃς δ᾽ ἂν ἀπολέσει τὴνψυχὴναὐτοῦ ἕνεκεν ἐμοῦ καὶ τοῦ εὐαγγελίου σώσει αὐτήν.[36]τί γὰρ ὠφελεῖ ἄνθρωπον κερδῆσαι τὸν κόσμον ὅλον καὶ ζημιωθῆναι τὴνψυχὴναὐτοῦ;[37]τί γὰρ δοῖ ἄνθρωπος ἀντάλλαγμα τῆςψυχῆςαὐτοῦ; ([Mk 8,35-38 BGT]) Có ý nghĩa gì khi chúng ta dịch từ "psyché”(Ψυχή) chỉ là tâm hồnhaylinh hồn:Có ý nghĩa gì khi con người đổi lấy linh hồn của mình?“Hầu hết các bản dịch mới giữ ý nghĩa "sự sống” trong suốt các câu này.
Những người dịch Kinh thánh sang ngôn ngữ của họ có thể thể hiện một cách hoàn hảo bằng ngôn ngữ của họ. Tuy vậy họ luôn gặp khó khăn. Nhưng khi một nhà truyền giáo dịch Kinh thánh sang ngôn ngữ mà chính họ phải học và họ chỉ sở hữu một cách không hoàn hảo, các khó khăn được nhân lên.
Làm thế nào để dịch "người chăn chiên tốt”nơi xứ sở những người Ét-ki-mô chưa bao giờ thấy các con cừu?
Để dịch câu "Mh. tarasse,sqw u`mw/n h`kardi,a\ pisteu,ete eivj to.n qeo.n kai. eivj evme. pisteu,eteÅ” Phụng vụ các giời kinh dịch “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.“(Ga 14,1). Trong ngôn ngữ của người Udaks ở Ethiopia cần phải nói "gan của bạn không run rẩy”và "tâm trí của bạn không giết chết bạn” trong ngôn ngữ người da đỏ Navajo.
Nhưng người dịch không tránh khỏi sai lỗi - đôi khi gây cười. Do đó, trong ngôn ngữ của Liberia, bản dịch "chớ để chúng con sa chước cám dỗ", có nghĩa là thực tế là "đừng làm chúng tôi ngạc nhiên khi chúng tôi câu cá”...
Dịch giả Kinh Thánh cần sự hỗ trợ cầu nguyện của tất cả các Kitô hữu cho nhiệm vụ khó khăn và quan trọng của họ.
3. Bản dịch mới
Chúng ta hiểu một cách dễ dàng rằng cần dịch Kinh thánh sang một ngôn ngữ ở đó chưa có bản dịch. Nhưng nếu một khi đã có những bản dịch Kinh Thánh tốt trong ngôn ngữ đó, chẳng hạn,tại sao lại tạo ra những bản mới?Đôi khi chúng ta đặt câu hỏi. Sau đây là ba câu trả lời có thể cho câu hỏi:
1 - Có nhiều tiến bộ đã được thực hiện trong lãnh vực kiến thức của các văn bản gốc, nhờ vào việc khám phá và nghiên cứu các bản thảo cổ. Không còn nghi ngờ gì nữa, các bản văn Tân Ước Hy Lạp làm cơ sở cho các bản dịch hiện đại gần với bản gốc hơn bản của Tân ước tiếng Hy lạp thực hiện bởi Erasme vào thế kỷ XVI (1516), quy tụ 6 hay 7 bản thảo như sau (Minuscule 1, 2, 817, 2814, 2815, 2816, 2817). Các bản dịch vào thời đó đều dựa trên bản tiếng Hy lạp này.
2 - Ngôn ngữ của một dân tộc phát triển. Một bản văn trong thế kỷ mười sáu hoặc mười tám gây những khó khăn cho những người của thời đại chúng ta. Ý nghĩa của một số từ đã thay đổi. Ngữ pháp đã hết giá trị. Điều này đúng ngay cả với một bản dịch tiếng Pháp tốt của Segond của Tin lành, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19.
Trong Gl 4,5 chúng ta đọc: “i[na tou.j u`po. no,mon evxagora,sh|( i[na th.n ui`oqesi,an avpola,bwmen"; "... hầu chúng ta nhận được ơn làm con nuôi". Nó luôn luôn đúng ngữ pháp, nhưng nó không được sử dụng nữa. Trong Hr 12,1 chúng ta đọc: “Toigarou/n kai. h`mei/j tosou/ton e;contej perikei,menon h`mi/n ne,foj martu,rwn( o;gkon avpoqe,menoi pa,nta kai. th.n euvperi,staton a`marti,an( diV u`pomonh/j tre,cwmen to.n prokei,menon h`mi/n avgw/na". "Như thế, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta". Diễn đạt này có nghĩa gì đối với một người trẻ ngày nay?
Trong câu Hr 12,2: Chúa Giêsu được gọi là avforw/ntej eivj to.n th/j pi,stewj avrchgo.n kai. teleiwth.n VIhsou/n( "người khai mở và người kiện toàn đức tin".
3 - Các bản dịch khác nhau đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Một bản dịch sẽ không nhất thiết phù hợp với người Kitô hữu bình thường đọc Kinh thánh và những người muốn nghiên cứu sâu hơn về Kinh thánh. Bản dịch này nhắm cho việc đọc công chúng, bản dịch khác cho việc đọc riêng tư. Hầu hết, khi một bản dịch Kinh thánh mới xuất hiện, bản đó tương ứng với một nhu cầu. Nếu không làm như thế, bản dịch Kinh thánh đó sẽ khó được sử dụng và sẽ bị lãng quên nhanh chóng.
Nhưng Kitô hữu thường gắn liền với phiên bản mà họ biết, qua đó Thiên Chúa nói chuyện với họ. Họ thường nhận được bản dịch mới với sự nghi ngờ. Khi thánh Giê-rô-ni-mô dịch Kinh thánh sang tiếng Latin, từ bản gốc tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp, phiên bản của ông không được chào đón. Tuy nhiên, bản dịch của ông đã trở thành phiên bản chính thức của Giáo hội La Mã. Khi Kinh thánh của Tyndale[11]được xuất bản năm 1525 tại Anh, một giám mục đã viết: "Phiên bản này tệ đến mức chúng tôi không thể hy vọng sửa nó.”"Thà dệt một mảnh vải mới còn hơn là dùng lưới đánh cá có các lỗ rách". Hiện nay, bản văn Kinh thánh của Tyndale, một khi được sửa đổi, đã trở thành "Phiên bản được ủy quyền", vẫn được sử dụng ở các nước nói tiếng Anh trong các giáo hội Tin lành.
Các dịch giả của phiên bản được ủy quyền này (hoặc Kinh thánh của Vua Gia-cô-bê) đã bị nó bị buộc tội là báng bổ, lừa dối, tham nhũng đáng tội chết ... Một nhà thần học đã đi xa đến mức tuyên bố: "Tôi thà quỷ bị xé xác bởi những con ngựa hoang hơn là cho phép đọc một bản Kinh thánh như vậy trong các giáo hội tội nghiệp của chúng ta". Điều này đã không ngăn cản Kinh thánh tiếng Anh được chúc phúc bởi hàng triệu người kể từ đầu thế kỷ 17.
Con người thường gắn bó với “chữ viết”nhiều hơn là “tinh thần bản văn”.
Tất nhiên, không có bản dịch nào hoàn hảo, không có người dịch nào không có những sai lầm. Nhưng Thiên Chúa có thể sử dụng mỗi người trong số họ để truyền đạt Lời của Ngài. Khi sử dụng, người ta nhận ra rằng một bản dịch cho phép nhiều người nghe Lời Chúa, người ta có thể tin rằng Chúa Thánh Thần đã dẫn dắt các dịch giả.
-----------------------------
Chú thích:
[10] The Catholic Biblical Federation (CBF) is a worldwide "fellowship" of administratively independent Catholic Bible associations and other organizations committed to biblical-pastoral ministries in 126 countries. It exists primarily to promote and coordinate the work of translating, producing, and disseminating Bibles among Catholic laity for devotional purposes.
The Federation also encourages the formation of small study groups for Bible reading as well as the creation of educational tools for use in these settings. First organized under the name The World Catholic Federation for the Biblical Apostolate in 1969, the Federation shorted its name in 1990 at its fourth Plenary Assembly held in Colombia. With the support of Cardinal Augustino Bea, its establishment was made possible by several provisions concerning lay access to Bibles that were contained in Second Vatican Council documents, especially Dei verbum.
That document called for "easy access" to the Bible for "all the Christian faithful" and opened the way to cooperation with the Interconfessional United Bible Societies, particularly in the work of translation. In 1972 the Federation moved its headquarters from Rome to Stuttgart and in 1986 began publishing the quarterly Bulletin DEI VERBUM. In 2009 the General Seceretariat was moved from Stuttgart to Sankt Ottilien in Germany.
Every six years the Federation holds a Plenary Assembly. The first was held in Austria in 1972 and the most recent from 19 to 23 June 2015 in Nemi. In 1985 the Federation adopted its Constitution which was approved by Rome in accordance with the norms of Canon Law. The Constitution was revised to its present form at the fifth Plenary Assembly held in Hong Kong in 1996 and approved by Rome the following year. The last revision was voted during the Plenary Assembly in Nemi.
The Plenary Assembly is the highest decision-making authority within the Federation and is presided over by the General Secretary and an Executive Committee. The General Secretary is elected by the Executive Committee for a six-year renewable term. The Executive Committee consists of three ex officio members, including the General Secretary, as well as six voting members. Of this latter group members are drawn from each of the Federation's four sub-regions: Africa, the Americas, Asia/Oceania, and Europe/the Middle East. Jan J. Stefanów SVD has been General Secretary since January 2014. The appointment of Cardinal Luis Antonio Tagle of Manila as its President was confirmed by the Vatican on March 5, 2015.
[11] William Tyndale (sometimes spelled Tynsdale, Tindall, Tindill, Tyndall; c. 1494 – c. 6 October 1536) was an English scholar who became a leading figure in the Protestant Reformation in the years leading up to his execution. He is well known as a translator of the Bible into English, influenced by the works of Erasmus of Rotterdam and Martin Luther.
II. KINH THÁNH TIẾNG VIỆT
1. Bản dịch Kinh Thánh nào tốt nhất?
Đây là một câu hỏi (1-2) trong tác phẩm101 Questions and Answers on the Bible, Paperback – September 1, 2003 của R. E. BROWN.
Như chúng ta đã biết về khó khăn và nhu cầu việc dịch thuật vừa đề cập trên đây, chúng ta có thể nói rằng, không có bản dịch nào tốt hay xấu; nhưng chúng ta phải hỏi rằng bản dịch nào thích hợp hay không cho chúng ta, cho mục đích của việc đọc Kinh Thánh. Việc đọc nơi công cộng, chẳng hạn những bài đọc trong thánh lễ hoặc trong các giờ kinh nguyện chung, đòi hỏi sự trang trọng. Vì thế, dùng bản dịch quá bình dân thì sẽ không hợp. Trái lại, khi đọc riêng để suy niệm, hoặc cầu nguyện, thì nên dùng một bản dịch được trình bày đẹp mắt, lời văn dễ đọc, dễ hiểu. Ngoài ra, khi đọc để học hỏi, nghiên cứu, thì nên có một bản dịch sát từng chữ - một bản dịch vẫn còn giữ lại sự hàm hồ tối ý của bản gốc.
Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần nhắc lại các điều sau đây: các bản gốc của Kinh thánh bằng tiếng Híp-ri, tiếng A-ram, hoặc tiếng Hi-lạp, có nhiều đoạn phức tạp khó hiểu, nhiều câu hàm hồ tối ý. Có khi tác giả viết không rõ ràng, và rồi dịch giả phải đoán ý. Vì thế, họ phải quyết định hoặc dịch sát từng chữ và giữ nguyên sự hàm hồ tối nghĩa, hoặc dịch tự dọ rộng rãi hơn và cố gắng làm sáng tỏ sự hàm hồ tối nghĩa đó. Bản dịch sát cần có những bài dẫn giải in kèm, hoặc có phần chú thích ở dưới chân các trang, trình bày những giải pháp hiện có cho các đoạn tối nghĩa.
Mặt khác, trong bản dịch tự do, dịch giả đã tự định đoạt ý nghĩa cho những đoạn tối nghĩa. Xét theo một khía cạnh nào đó thì lời chú giải đã được khai triển sẵn trong mạch văn của bản dịch, và vì lý do này, bản dịch tự do đọc thì dễ, nhưng dùng để nghiên cứu thì khó.
Chúng ta cũng nên xem qua câu trả lời của R. E. BROWN dành cho các bản Kinh Thánh Anh ngữ được dịch ra sau đây để chúng ta có thể nhận ra cách lựa chọn một bản dịch:
"Trong những bản dịch sát của Anh ngữ, tôi thấy có 4, 5 dùng được. (Tôi thường dùng những bản dịch sát khi dạy học vì tôi muốn sinh viên của tôi biết đến những trắc trở của bản dịch.) Tôi xin được nhắc nhở các bạn một điều: Nhiều bản dịch có tầm mức đã được sửa lại cặn kẽ vào cuối thập niên 1980, hoặc đang được hiệu đính vào đầu thập niên 1990. Vì thế, mỗi người phải cẩn thận để mua cuốn hiệu đính mới nhất của bất cứ bản dịch Kinh Thánh nào.
Bản dịch mà tôi thường dùng nhất là The Revised Standard Version (Bản Tiêu Chuẩn Hiệu Đính). Mặc có nhiều khó khăn, nói chung thì bản này đọc được, cũng như được dịch sát chữ một cách cẩn thận. (Đây là bản hiệu đính của Bản King James, nhưng không may, thỉnh thoảng nó cũng bị xa vào một vài vết lầy của Bản King James.) Nó làm cho người Công Giáo hơi khó chịu vì việc sử dụng các chữ cổ để nói về Thiên Chúa (như Thou và Thee). Song điều này đã được sửa đổi trong bản mới, tức là The New Revised Standard Version (Bản Tiêu Chuẩn Bổ Túc Mới), xuất bản năm 1990. Nói chung thì người Tin Lành chính tông dùng bản này nhiều nhất, nhưng người Tin Lành bảo thủ thì vẫn còn ưa Bản King James.
Phần đông giáo dân Công Giáo tại Mỹ dùng bản The New American Bible (NAB)[12](Bản Kinh Thánh Mới của Giáo hội Công giáo Hoa kỳ). Những bài đọc trong thánh lễ thường được trích từ đó. Phần Cựu Ước của bản này dịch rất hay, và nói chung thì khá hơn phần Cựu Ước của bản Revised Standard Version. Tuy nhiên, phần Tân Ước còn nhiều thiếu xót trầm trọng, và một trong những lý do là sau khi bản dịch rời khỏi tay những dịch giả đầu tiên thì đã bị sửa đổi nặng nề, đặc biệt bốn Phúc âm. Song việc sửa đổi này có phần hơi vụng về, chẳng hạn như thay chữ "reign”["sự trị vì"] cho chữ "kingdom”["nước”như "nước trời"]. Ngoài sự thiếu chính xác, phiên dịch như thế rõ ràng không hợp với những đoạn Phúc âm diễn tả một nơi (nước, vương quốc), thay vì một hành động (trị vì, cai trị). Thêm vào đó, sửa đổi như thế còn gây hiểu lầm vì Giáo dân Mỹ thường nghe "reign”["trị vì"] ra chữ "rain”["mưa"] (vì "reign-trị vì”và "rain-mưa”đều phiên âm là "rên", nhưng "reign-trị vì”thì không thông dụng). Tuy nhiên, vấn đề này đã không còn nữa vì phần Tân Ước trên vừa được dịch lại hoàn toàn vào cuối thập niên 1980; nó sẽ được ra mắt với quí vị trong các giờ phụng vụ vào đầu thập niên 1990 .
Tại Anh quốc, tín hữu Công Giáo dùng bản The Giê-ru-sa-lem Bible (Kinh Thánh Giêrusalem) trong phụng vụ, và bản này có nhiều liên-ki-tô. Bản Giêrusalem đầu tiên của Anh ngữ có nhiều thiếu xót vì nó được dịch phần lớn theo bản Giêrusalem tiếng Pháp, và đôi khi dịch giả đã không tra khảo các nguyên bản cặn kẽ hơn. (Bản Giêrusalem tiếng Pháp thì chính xác hơn.) Tuy nhiên, nhận xét này đã lỗi thời vì bản Anh Ngữ trên vừa được sửa chữa kỹ càng trong thập niên 1980. Phần chú thích của bản Giêrusalem đầu tiên xem ra đã rất đầy đủ và giá trị, thế nhưng phần chú thích của bản Giêrusalem mới lại còn hoàn hảo hơn."
2. Các bản dịch Kinh thánh tiếng việt
Các dấu mốc lịch sử
Giáo hội Công giáo xuất bản sáchgiáo nghi, trong đó có một số sách Phúc âm, phát hành tại Bangkok, Thái Lan năm 1872.
Jean Bonnet thuộc Trường Ngôn ngữ Đông phương Paris dịch Phúc âm Lu-ca sang tiếng Việt dựa trên bản Kinh Thánh Pháp ngữ Ostevald, và được Thánh Kinh Hội Anh Quốc xuất bản tại Paris năm 1890, đến năm 1898, được tái bản lần đầu tiên.
Thánh Kinh Hội Anh Quốc (Tin lành) phát hành Phúc âm Mác-cô năm 1899, Phúc âm Gio-an năm 1900, và Công vụ Tông đồ năm 1903.
Năm 1913, P.M. Hosler thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp dịch lại Phúc âm Mác-cô ra chữ Nôm, và xuất bản tại Quảng Tây, Trung Hoa.
Năm 1913-14, Giáo hội Công giáo xuất bản Thánh Kinh Cựu Ước song ngữ với bản Vulgata, và bản Tân Ước in song ngữ Việt – La-tinh theo bản Vulgata (năm 1916) do Albert Schlicklin (Cố Chính Linh) thực hiện, và được phát hành tại Hồng Kong.
Năm 1925, Giáo hội Công giáo cho xuất bản cuốn Các sách Phúc âm của Mác-cô Gispert-Forcadell.
Chúng ta có thể trình bày Kinh thánh Công giáo tiếng Việt như sau:
1) Các bản dịch từ những ngôn ngữ thứ hai
a) Từ tiếng La tinh:
ChaTrần Đức Huânđã dịch toàn bộ Kinh thánh từ bản La tinh Phổ thông: phần Tân Ước được xuất bản năm 1959 và Cựu Ước năm 1968. Xem ra bản này không còn thịnh hành lắm. Ngoài ra, bản Kinh thánh của Ủy Ban Phụng Vụ dịch trước năm 1975 cũng từ bản La tinh Phổ thông. Các bài đọc trong thánh lễ được trích từ bản này. Vì vội nên bản dịch này còn nhiều thiếu xót và không được xuất bản. Tuy nhiên, nhà xuất bản báo Trái Tim Đức Mẹ (Dòng Đồng công) đã gom góp những bài Phúc âm trong sách lễ, và cho xuất bản cuốn "Tin Mừng Chúa Giêsu”năm 1988. Bản này có lẽ sẽ được sửa và xuất bản vào năm 1996.
b) Từ tiếng Pháp:
Bản "Kinh Thánh Tân Ước”của cố Hồng y Trịnh Văn Căn, năm 1981. Bản này bình dân, dễ đọc. Đây là một công trình rất thiện chí nhưng giới hạn.
c) Từ tiếng Trung Hoa:
Bản Tân Ước của Cha Trần văn Kiệm được xuất bản tại Hoa kỳ năm 1994. Bản dịch này phần lớn dựa theo một bản tiếng Trung hoa. Dĩ nhiên bản tiếng Trung hoa được dịch từ nguyên bản, và dịch giả đã tham khảo những bản dịch của các ngôn ngữ khác như bản New Jerusalem Bible và bản New American Bible của Anh ngữ.
2. Toàn bộ Kinh thánh dịch từ nguyên ngữ
a) Bản dịch của Cha Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, là bản duy nhất có cả Cựu Ước và Tân Ước dịch từ các nguyên ngữ Kinh thánh.Cha Thuấn đã làm việc trong 20 năm trời, nhưng rất tiếc cha đã qua đời năm 1975, trước khi hoàn thành công trình này. Vì thế, ba sách Huấn ca, Gióp và Ba-rúc, cộng thêm phần chú giải của ba sách đó, đã được dịch sau này, và toàn bộ Kinh thánh được in sau năm 1975. Nhìn chung, đây là một công trình khoa học uyên bác, rất có ích cho người nghiên cứu.Theo quan niệm phiên dịch cổ điển, bản này dịch bám sát từng chữ. Thêm vào đó, cha lại dùng nhiều từ Hán Việt nên câu văn tiếng Việt đôi khi khó hiểu. Ngoài ra, đây là công trình do một người làm, và vì thế, ưu điểm của nó là dễ thống nhất, tất nhiên khuyết điểm của nó là giới hạn khả năng của một người.
b) Bản dịch của nhóm "Các Giờ Kinh Phụng vụ", năm 1994. Đây là một công trình tập thể đầu tiên trong lãnh vực phiên dịch Kinh Thánh tại Việt nam. Ban làm việc gồm: một số chuyên viên Kinh thánh tốt nghiệp Thánh kinh Học viện (Rôma) và Ecole Biblique (Giêrusalem) hoặc tại Việt nam, một số chuyên viên về phụng vụ (học tại Pháp), và một số tốt nghiệp các trường thần học (Rôma). Phần chú thích được soạn để đáp ứng nhu cầu của các độc giả Việt nam, chưa có sách chú giải để tham khảo. Trong các bản dịch tiếng Việt, đây là bản dịch chính xác nhất hiện nay. Hy vọng phần Cựu Ước sẽ được xuất bản trong một ngày gần đây.
3. Bản Tân Ước dịch từ tiếng Hi-lạp
Bản "Tin Mừng của Thiên Chúa Cha” của Cha An-sơn Vị, năm 1977. Bản dịch của cha Vị là một công trình cá nhân. Cha Vị không được đào tạo chuyên môn về Kinh thánh, nhưng có một vài trực giác hay, có thiện chí và chịu khó nghiên cứu. Rất tiếc, khi vận dụng các trực giác ấy quá mức thì câu tiếng Việt nhiều khi trở thành ngộ nghĩnh. Phần dẫn nhập và chú thích của bản này thì lấy từ bản TOB [Noveau Testament - Traduction Oecumenique de la Bible] và Bible de Jérusalem. Tổng hợp lại:đây là một công trình thiện chí hơn là khoa học.
Bản dịch Kinh thánh của người Tin Lành
Chỉ 5 năm sau khi Tin Lành truyền bá đến Việt Nam, năm 1916, những nhà lãnh đạo Tin Lành đã khởi sự dịch thuật toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt. Đến năm 1926, cộng đồng Tin Lành tại Việt Nam đã có bộ Kinh Thánh đầu tiên bằng ngôn ngữ của mình.
Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt xuất bản năm 1926 là bản dịch đầu tiên toàn bộ Kinh Thánh do ông Phan Khôi dịch sang tiếng Việt, được phát hành tại Việt Nam. Bản Kinh Thánh Việt ngữ 1926 được phổ biến rộng rãi và rất được yêu thích trong cộng đồng Tin Lành tại Việt Nam. Đối với nhiều tín hữu Tin Lành, bản dịch này đã ghi dấu ấn sâu đậm trên tình cảm tôn giáo của họ.
Phan Khôi (1887-1959) là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, thành viên nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, cháu ngoại của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu, đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi nhưng lại mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới.
Ông còn là một nhà báo tài năng, một người tích cực áp dụng tư tưởng duy lý phương Tây, phê phán một cách hài hước thói hư tật xấu của quan lại phong kiến và thực dân Pháp. Ông cũng là một trong số ít nhà báo tiếp thu nhiều tư tưởng mới, đa văn hóa từ Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp... Ông còn nổi tiếng vì sự trực ngôn, trước 1945 được mang danh làNgự sử văn đàn. Ông phê phán chính sách cai trị của người Pháp một cách sát sườn, đối thoại với các học giả từ Bắc đến Nam không e dè kiêng nể. Những năm 1956 - 1958 cũng vì cung cách nói thẳng ấy ông đã buộc phải dừng sáng tác. Ông qua đời vào năm 1959.
Thực ra bản dịch Kinh thánh Tin lành không phải chỉ do ông Phan khôi.
William C. Cadman và vợ, Grace Hazenberg Cadman - bà Cadman đã hoàn tất chương trình cao học chuyên ngành tiếng Híp-ri và tiếng Hy Lạp, hai ngôn ngữ được sử dụng để viết Cựu Ước và Tân Ước - bắt đầu công cuộc dịch thuật từ năm 1914. Với sự trợ giúp của một học giả tên Nho, họ đã kịp hoàn thành các sách Phúc âm Gio-an, Mat-thêu, Mác-cô, Lu-ca, cũng như sách Công vụ các Tông đồ, và thư Rô-ma trước khi Toàn quyền Pháp ra lệnh đóng cửa các cơ sở truyền giáo và trục xuất năm nhà truyền giáo vào cuối năm 1915. Đến năm 1918, bản Quốc ngữ của các sách này được ấn hành tại Thượng Hải, trong khi bản chữ Nôm được ấn hành ở Hà Nội.
Từ đầu năm 1921 đến cuối năm 1922, với sự cộng tác của Trần Văn Dõng, một dịch giả chuyên nghiệp, J. D. Olsen đảm trách công cuộc dịch thuật những sách còn lại của Tân Ước, in tại Thượng Hải và phát hành tại Việt Nam trong năm 1922, rồi được tái bản ngay trong năm sau. Kể từ năm 1920, chữ Quốc ngữ được chọn làm ngôn ngữ duy nhất để dịch Kinh Thánh, việc phiên dịch Kinh Thánh sang chữ Nôm bị dừng lại mặc dù bảy bản Kinh Thánh chữ Nôm vẫn được xuất bản cho đến giữa thập niên 1930.
Năm 1919, ông bà Cadman trở lại với công việc dịch thuật Kinh Thánh, lần này có sự cộng tác của học giả Phan Khôi. Đến năm 1925, họ hoàn tất bản dịch Cựu Ước.
Tuy nhiên,vì là một ấn bản khá cổ xưa, văn phong trong một số câu, đoạn của Bản Kinh Thánh Việt ngữ 1926 không còn thích hợp với ngữ cảnh hiện nay, cũng như một số từ ngữ trở nên khó hiểu với độc giả đương đại. Nhiều bản dịch Kinh Thánh khác đã được phát hành, nhưng cho đến nay, chưa có bản dịch nào có thể thay thế vị trí của Bản Kinh Thánh tiếng Việt 1926.
Tuy vậy, nay giáo hội Tin lành có nhiều bản dịch, chúng ta có thể liệt kê sau đây:
- Bản truyền thống (1926)
- Bản dịch 2011
- Bản dịch mới
- Bản phổ thông
- Bản diễn ý
Vào dịp kỷ niệm 100 năm các giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp truyền Tin Lành tại Việt Nam, một bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ mới được phát hành. Bản dịch này được gọi là Bản Dịch 2011, do Mục sư Đặng Ngọc Báu thực hiện.
Công trình phiên dịch Kinh Thánh này được thực hiện từ năm 1996. Vào năm đó, Phúc Âm Gio-an được xuất bản để làm sách giới thiệu niềm tin Cơ Đốc, đồng thời được sử dụng tại vài Hội Thánh. Vài tháng sau, Phúc Âm Mat-thêu, Mác-cô, Lu-ca, rồi Thánh vịnh, Châm Ngôn lần lượt được xuất bản. Tân Ước được phát hành vào năm 2002 và toàn bộ Kinh Thánh được phát hành vào năm 2011.
Ưu điểm của bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ 2011 là văn mạch trong sáng, từ ngữ chính xác, và ngôn ngữ phổ thông. Những từ ngữ địa phương hoặc cổ xưa ít thông dụng đã được thay đổi. Bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ 2011 thích hợp cho cả học giả Kinh Thánh, các tín hữu lẫn những độc giả mới làm quen với Kinh Thánh. Vài thay đổi về danh từ riêng trong bản dịch này có thể làm các độc giả quen thuộc với bản dịch truyền thống hơi ngỡ ngàng, nhưng không trở ngại cho độc giả phổ thông.
Bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ 2011 phát hành tại Hoa Kỳ hơn một năm và đã được phép xuất bản tại Việt Nam. Điều đáng ngạc nhiên là bản Kinh Thánh này được phổ biến trên internet, dùng trong computer, điện thoại và các sản phẩm điện tử cầm tay nhiều hơn là bản in truyền thống.
3. Chúng ta lựa chọn Kinh Thánh như thế nào?
Đối với các thần sinh viên Thần học, thật tốt khi chọn một ấn bản của Kinh Thánh tương ứng với việc nghiên cứu hay khảo sát, có ít nhất là các tài liệu tham khảo, để có thể tìm thấy, từ một văn bản, các đoạn văn liên quan đến cùng một chủ đề.
Mục đích là để nghiên cứu sâu về một bản văn, chúng ta có thể đọc nhiều bản dịch khác nhau để so sánh. Chúng ta sẽ nhận ra rằng khía cạnh này của thông điệp được thể hiện tốt hơn trong một bản dịch, một khía cạnh khác tốt hơn trong một bản dịch khác, v.v ... Khôn ngoan nhất là chúng ta trung thành với bản Kinh thánh mà chúng ta đã quen đọc cá nhân mỗi ngày; nhưng chúng ta nên đọc thêm các bản khác để tránh khỏi việc chỉ thấy một quan điểm, để không trở thành nô lệ cho thói quen.Nếu chúng ta gặp khó khăn ngay khi chúng ta nghe những lời Kinh thánh ở dạng khác với những gì chúng ta đã quen, vì có lẽ chúng ta gắn bó với nghĩa đen, nghĩa sát chữ, nghĩa văn chương bản văn hơn là đi tìm thánh ý Thiên Chúa sao?
Nếu Kinh Thánh là Lời của Thiên Chúa cho tất cả mọi người, thì điều quan trọng là tất cả mọi người đều có thể đọc và hiểu nó. Không có gì nghi ngờ các tác giả của các sách Kinh Thánh khác nhau không viết dành riêng cho các chuyên gia, nhưng cho những người bình thường; họ tìm cách viết cho mọi người hiểu và không chỉ bởi một nhóm học giả ưu tú.
Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn đến được cho tất cả mọi người, ngày nay điều này vẫn là điều cốt yếu của thông điệp Kinh Thánh. Không cần nghiên cứu thông thái để hiểu được Tin Mừng: "Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.”(Mt 11,25). Điều này không có nghĩa là không có những đoạn khó trong Kinh thánh, nhưng bản chất của thông điệp là rõ ràng cho bất cứ ai đọc hoặc nghe với lòng thành.
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc đọc Kinh thánh, ngay cả trong một bản dịch hiện đại, gây ra một số khó khăn. Các tác giả Kinh Thánh là những người đến từ thời đại khác, từ một nền văn hóa khác, sống trong hoàn cảnh lịch sử khác xa với chúng ta. Đầu tiên họ viết cho những người đương thời của họ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi cách họ thể hiện bản thân, nhiều tài liệu tham khảo của họ về một tình huống tôn giáo, kinh tế hoặc chính trị mà chúng ta biết ít, cho chúng ta những vấn đề trong việc hiểu những gì họ muốn nói. Thánh Phê-rô nhận ra trong thư thứ 2 của mình rằng thư của Phao-lô đôi khi rất khó tiếp cận (2 Pr 3,15-16: "[15]Và anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ, như ông Phao-lô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông. [16]Ông cũng nói như vậy trong tất cả các thư của ông, khi bàn đến các vấn đề này. Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu; những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh, bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy hoạ diệt vong"). Và thánh Phê-rô nói thêm rằng một số người “những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc ‘’có nghĩa là ‘vặn vẹo ý nghĩa của thánh thư’.
Đây là vấn đề của việc đọc Kinh Thánh với ý đồ xấu vừa được nêu ra ở đây. Đó là, việc có nhiều người có thể hiểu sai thông điệp của Kinh Thánh. Trong một số trường hợp, đây chỉ là lỗi chi tiết hình thức; ở những người khác, đụng chạm đến ý nghĩa sâu sắc của bản văn bị bóp méo. Chúng ta đã thấy điều đó trong các Tin mừng: Chúa Giêsu phản đối việc giải thích Cựu Ước: ví dụ; Những người Sa-đuc-sê-en trong Mt 22-23-33 trích dẫn một đoạn văn Cựu Ước để diễn giải sai lạc khác với ý nghĩa thông điệp của bản văn. Lịch sử của Giáo hội cũng cho thấy những khác biệt đáng kể đã xảy ra trong việc giải thích Kinh thánh.
--------------------
Chú thích:
[12] The New American Bible (NAB) is an English translation of the Bible first published in 1970. The 1986 Revised NAB is the basis of the revised Lectionary, and it is the only translation approved for use at Mass in the Roman Catholic dioceses of the United States and the Philippines, and the 1970 first edition is also an approved Bible translation by the Episcopal Church in the United States.
Stemming originally from the Confraternity Bible, a translation of the Vulgate by the Confraternity of Christian Doctrine, the project transitioned to translating the original biblical languages in response to Pope Pius XII's 1943 encyclical Divino afflante Spiritu. The translation was carried out in stages by members of the Catholic Biblical Association of America (CBA) "from the Original Languages with Critical Use of All the Ancient Sources" (as the title pages state). These efforts eventually became the New American Bible under the liturgical principles and reforms of the Second Vatican Council (1962–1965).
III. ĐỌC KINH THÁNH NHƯ THẾ NÀO?
1. Các nguy cơ
Khả năng sai sót trong việc giải thích Kinh thánh thường khiến các đấng bản quyền tôn giáo ở Ít-ra-en và Kitô giáo giao phó sứ mệnh phiên dịch và giảng dạy Kinh thánh cho một lớp chuyên gia. Nó hơi giống như các kinh sư và giáo sĩ Do Thái giáo.
Trong một thời gian dài, người ta đã nói một cách sai lầm rằng Giáo hội Công giáo đã từ chối các Kitô hữu đơn giản quyền đọc Kinh thánh[13]. Chỉ có các Tư tế mới có quyền truy cập vào nó, và họ phải tuân theo sự giải thích của Huấn quyền. Giáo hội được phân chia giữa một bên là Giáo hội giảng dạy và một bên là Giáo hội được dạy. Thực ra, vào thời Trung cổ, chúng ta có Kinh thánh trên các giấy cói và các cuộn giấy da trong những thế kỷ đầu của Ki-tô giáo. Không ai thực sự có "Kinh thánh” vào thời Trung cổ, mỗi cuốn Kinh thánh đều được sao chéo bằng tay. Hầu hết mọi người không biết đọc chữ. Đó là lý do tại sao họ sử dụng cửa sổ kính màu (vitraux) và nghệ thuật để kể những câu chuyện Kinh thánh (Máy in không được phát minh cho đến năm 1436 bởi Johann Gutenberg).
Có thể ủy quyền việc đọc Kinh thánh cho tất cả mọi người, nhưng lưu ý rằng mọi người không đọc bất cứ điều gì ngoài những gì huấn quyền giáo hội muốn anh ta hiểu. Trong các giáo hội Tin lành, việc đọc Kinh thánh được khuyến khích; nhưng sự giải thích được xác định một lần và mãi mãi trong các tác phẩm của giáo phái, phải đi kèm với Kinh thánh.
Trong thực tế, bất kỳ sự giải thích chính thức nào của Kinh Thánh đều có thể rơi vào sai lầm. Đó là một đe dọa đặc biệt. Và nếu một đoạn văn dường như đi ngược lại với giáo huấn chính thức, hoặc xoắn ý nghĩa. Chúng ta có thể nhân lên các ví dụ. Do đó, đối với người Công giáo, anh em của Chúa Giêsu chỉ là anh em họ; trong Lu-ca 1,28. Bản dịch Kinh thánh của nhóm Nhân Chứng Giê-hô-va cũng chứa những cách giải thích có chủ đích: trong Cl 1,16-17, văn bản Hy Lạp nói rõ rằng "tất cả mọi thứ được tạo ra bởi Chúa Kitô"; nhưng khi giáo lý của họ duy trì rằng chính Chúa Kitô đã được tạo ra, họ dịch. "Tất cả (những thứ khác) được tạo ra bởi Ngài". Việc thêm "(những người khác)”là một cách giải thích không chính đáng của văn bản Kinh thánh.
Tuy vậy, giáo hội Công giáo cũng như các giáo hội Tin lành nhận ra rằng có sự nguy hiểm khi chỉ dành cho một vài người việc giải thích có thẩm quyền, vì họ có thể làm theo quan điểm của họ và Lời Chúa có thể bị che chắn. Một mục sư hoặc tiến sĩ của các Giáo hội có thể tự coi mình (tự nguyện hay không) là thông dịch viên đáng tin cậy duy nhất. Kết quả là các tín hữu đơn giản để cho mình được lãnh đạo thay vì tìm cách tự hiểu. Họ vẫn là những Kitô hữu nhỏ, gắn bó với một cách giải thích nhất định hơn là chính Kinh thánh.
2. Thẩm quyền các nhà thông thái
Một mối nguy hiểm tương tự cũng xuất hiện ngày hôm nay: nghiên cứu khoa học về Kinh Thánh (lịch sử, văn học, ngôn ngữ học) cho phép làm rõ ý nghĩa của nhiều đoạn văn, để làm cho bản dịch an toàn hơn. Nhưng sự phổ biến kết quả của khoa học Kinh thánh có thể làm nản lòng những tín hữu đơn giản: nếu người ta phải biết lịch sử, ngôn ngữ cũ như tiếng Aram, Hy-lạp, Híp-ri, v.v ... để hiểu Kinh Thánh, thì sách Thành này không dành đại đa số người đọc như chúng ta. Các học giả Kinh thánh phải giải thích cho chúng ta. Chỉ có họ được trang bị kiến thức để hiểu nó. Ngay cả trong đạo Tin lành bắt đầu xuất hiện một sự bỏ bê việc đọc Kinh thánh, việc này cũng có lý do nằm ở đây.
Chúng ta thấy rằng nghiên cứu mang tínhkhoa họccó thể phục vụ thực sự cho việc đọc Kinh Thánh. Nhưng nó tuyệt đối không được trở thành một trở ngại, khiến người ta xa rời bản văn Kinh thánh. Các phương pháp mang tính khoa học phải phục vụ chúng ta trong việc đọc Kinh Thánh của người tín hữu. Khoa học không được phép tạo ra một giai cấp các kinh sư và tiến sĩ luật mới.
3. Đọc và hiểu
Chúng ta mở Kinh Thánh với những động lực rất khác nhau. Yêu thích lịch sử hoặc văn học, sự tò mò đơn giản, mong muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi mà người ta tự hỏi, vì đức tin của chúng ta cần được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa chứ không phải chỉ đơn giản là thói quen.
Nhưng cho dù quan điểm của chúng ta là gì, dù chúng ta có phải là tín hữu hay không, chúng ta đặt mình trước một bản văn mà chúng ta phải hiểu.
Bất kể dùng phương pháp gì để hiểu, điều bắt buộc đầu tiên người đọc phải hiểu rõ. "Bạn có hiểu những gì bạn đang đọc không?”Philiphê hỏi hoạn quan người Ê-ti-ô-pie (Công vụ 8,30:Ông Phi-líp-phê chạy lại, nghe thấy ông kia đọc sách ngôn sứ I-sai-a, thì hỏi: “Ngài có hiểu điều ngài đọc không?”). Phản ứng của hoạn quan cho thấy rằng người ta không thể hiểu được ngay lập tức dù với lòng chân thành.
Ba cấp độ hiểu một bản văn Kinh thánh
1- Đọc trực tiếp. Ý nghĩa của một đoạn văn xuất hiện với tôi ít nhiều rõ ràng trong việc đọc. Đôi khi chỉ một lần đọc là đủ để thông điệp (những gì tác giả muốn nói) rõ ràng ngay lập tức với chúng ta. Đôi khi chúng ta phải đọc lại một hoặc nhiều lần. Nhưng thông thường, đọc cẩn thận chúng ta có thể hiểu văn bản.
2- Chú giải (exegesis) (nghiên cứu tìm kiếm ý nghĩa). Đôi khi chúng ta không hiểu ý của tác giả khi đọc một bản văn, hoặc ý nghĩa đó khá mơ hồ đối với chúng ta; hoặc chúng ta do dự giữa một số giải thích có thể. Do đó, chúng ta tự hỏi: "Tác giả muốn nói điều gì?” Chú giải là nỗ lực hiểu biết này,nghiên cứu bản văn để khám phá ý nghĩa của nó. Chú giải kêu gọi các ngành khoa học như lịch sử, địa lý, ngữ pháp, ngôn ngữ học, v.v ... Người dịch cố gắng đưa ra ý nghĩa chính xác của một đoạn văn, Tư tế chuẩn bị một bài giảng trên một bản văn, các Kitô hữu tham gia cùng nhau trong một nghiên cứu Kinh Thánh đều là chú giải.
Chú giải là một quá trình khoa học (quá trình muốn đi đến một kết quả khách quan nào đó, cho dù người đó có phải là tín hữu hay không, người ta có thể đi đến kết luận giống như ý nghĩa về phần bản văn: "đó là điều tác giả muốn nói"), người ta sử dụng kiến thức chính xác (lịch sử, ngôn ngữ, v.v.). Những người không chuyên môn đôi khi bị chán nản bởi tính chất kỹ thuật của chú giải. Sự thiếu hiểu biết của họ làm họ nản lòng. Nhưng chúng ta không được quên rằng chúng ta phải yêu Chúa "với tất cả những suy nghĩ của chúng ta"; Thật là nghiêm trọng nếu chúng ta không mang đến cho việc nghiên cứu Kinh Thánh sự nghiêm túc và chú ý dành cho các bận tâm khác. Một Kitô hữu hiểu rõ Kinh Thánh và nghiên cứu tiếp thu kiến thức thiết yếu sẽ cho phép họ hiểu được ý nghĩa của hầu hết các đoạn văn.
3- Diễn giải, chú giải hoặc áp dụng (ngày nay chúng ta gọi là "thông diễn”hermeneutic) đặt ra câu hỏi:bản văn này cho chúng ta thông điệp gì?Nhưng không thể đủ để chúng ta hiểu ý nghĩa của bản văn, nếu chúng ta chỉ đọc với sự tò mò khoa học. Một bản văn được phân tích và hiểu một cách văn chương và vẫn là một bản văn với những "chữ chết”(lettre morte)(2 Cr 3,4-6:[4]Nhờ Đức Ki-tô, chúng tôi dám tin tưởng vào Thiên Chúa như vậy.[5]Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa,[6]Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống). Điều cần thiết là bản văn này nói cho người đọc, hay đúng hơn là Thiên Chúa nói với mỗi người đọc chúng ta bằng phương tiện này.
Làm thế nào để những gì được viết cho những người con người trong quá khứ để áp dụng cho tình huống của mỗi người chúng ta ngày hôm nay?Nói đúng hơn, đây là một tiếp cận đức tin, tiếp cận này yêu cầu chúng trước hết là phải lắng nghe và lấy thời gian tư duy để nhận biết những gì Thiên Chúa muốn nói.
Nhưng để chắc chắn không nhầm lẫn ý tưởng hay mong muốn của chính người đọc với Lời Chúa, với thánh ý Thiên Chúa, chúng ta phải cẩn thận để không đi lạc khỏi thông điệp Kinh Thánh; Trước tiênchúng ta phải hiểu bản văn, hiểu các bối cảnh của bản văn, hiểu kinh nghiệm đức tin qua chúng ta của những người thời đó.Chú giải bắt buộc chúng ta phải tôn trọng Lời Chúa và không phát minh suy diễn những gì đến từ tâm lý và đến từ các yếu tố ngoài bản văn đem vào.
Các khó khăn phải vượt qua
1 - Những khó khăn trên phương diện lịch sử: Thiên Chúa đã mặc khải chính mình trong một lịch sử, lịch sử của Ít-ra-en, sau đó là lịch sử của Chúa Giêsu và các Tông đồ. Nhiều bản văn Kinh Thánh nêu lên các sự kiện hoặc nhân vật trong lịch sử. Thông thường đọc Kinh thánh là đủ để nhận biết họ: những gì chúng ta biết về Mô-sê, Đa-vít, Giê-su hay Phao-lô, chúng ta nắm bắt những thông tin này từ chính Kinh thánh. Các nhân vật khác được đề cập trong Kinh Thánh cũng được lịch sử và khảo cổ học trần thế biết đến. Thật hữu ích có thể quy chiếu đến các thông tin mà các khoa học đời thường cung cấp cho chúng ta về một vị vua ngoại giáo như Xan-khê-ríp (Sennacherib) hoặc một thống đốc La Mã như Philatô.
Mặt khác, Kinh Thánh chứa nhiều tài liệu hàm chỉ về các phong tục, các nhóm xã hội, tình huống chính trị hoặc kinh tế mà chúng ta không thể đoán được. Làm thế nào để đọc các Tin mừng, chẳng hạn, mà không biết ai là những người Pha-ri-siêu, người Xa-đúc-sê-en, người zê-lốt, người thu thuế; hoặc không biết tình hình chính trị của người Do Thái, bị người La Mã chiếm đóng?
Bình luận Kinh Thánh, các chú thích ở cuối trang hoặc ở cuối sách, các bài giảng hoặc các bài giáo lý ngày chủ nhật, không kể đến các tác phẩm chuyên ngành, các thông tin cho chúng ta về những sự kiện, những phong tục, những nhân vật này.
2 - Khó khăn trên bình diện địa lý: Trong Kinh thánh có nhiều tên của các quốc gia, thành phố, sông, núi, v.v., nơi đã xảy ra các sự kiện trong lịch sử của Ít-ra-en hoặc của Kitô giáo. Để độc giả định vị những sự kiện này, hầu hết các ấn bản Kinh Thánh đều chứa một loạt bản đồ địa lý cho phép xác định những sự kiện này. Nhưng nếu bạn có được một tác phẩm chứa đựng bản đồ Kinh Thánh, với các ghi chú giải thích, chúng ta sẽ có một công cụ làm việc tốt hơn.
3 - Khó khăn về chiều kích văn hóa: Thế giới con người trong Kinh thánh rất khác với thế giới chúng ta. Nền văn minh chăn nuôi và nông nghiệp ngày xưa không có điểm chung với thế giới công nghiệp, cơ giới hóa, nhân tạo chúng ta ngày nay. Các giải thích là cần thiết. Từ "teraphim[14]“(Sáng thế 31-34) là gì? Phong tục chuộc lại (sách bà Rút) có nghĩa gì? Một talent (nén bạc) trong dụ ngôn Tin mừng có giá trị gì? Một đồng denier có giá trị gì? Các phong tục hôn nhân nêu lên trong nhiều dụ ngôn là gì? Họ đã ăn mặc như thế nào? Họ đã ăn gì?...
Chính Kinh thánh trả lời cho chúng ta nhiều câu hỏi này (đặc biệt là các câu hỏi liên quan đến tôn giáo Ít-ra-en). Nhưng các thông tin này thường nằm rải rác trong Kinh thánh. Các nhà sử học, nhà chú giải đã tập hợp chúng cho chúng ta trong các ghi chú kèm theo bản văn, hoặc trong các chú giải.
4 - Khó khăn về ngôn ngữ: Chúng ta đã thấy, trong phần liên quan đến Dịch thuật Kinh Thánh, công việc này không phải lúc nào cũng dễ dàng để chuyển ra ý nghĩa chính xác từ một từ Do Thái hoặc Hy Lạp. Vì vậy, có những khó khăn từ vựng. Khi Kinh thánh nói về sự công chính, vinh quang, tội lỗi, đức tin, hoán cải, Nước Thiên Chúa, v.v. Ví dụ nổi bật là việc sử dụng từ "Lời”trong Tin mừng Gio-an trong chương 1 để chỉ về Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, ở đây, chính bản văn làm sáng tỏ ý nghĩa của từ này (câu 1,14):
"Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật".
Ở những nơi khác, chúng ta phải nghiên cứu việc sử dụng từ này trong một loạt các đoạn văn để nắm bắt ý nghĩa. Do đó, Luther, khi đọc Rôma 1,17:
"Vì trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép: Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống."
Đối với Luther, công lý chỉ có thể là hành động của thẩm phán lên án thủ phạm. Nhưng nghiên cứu về Cựu Ước, nói riêng về các Thánh vịnh, đã khiến Luther hiểu rằng công lý của Thiên Chúa là hành động mà Ngài biện minh cho tội nhân. Công lý không đối nghịch với ân sủng, đó là biểu hiện của nó (Thánh vịnh 85,9-14; 89,15; 98,2-3, v.v.).
Cũng có những từ có nguồn gốc Kinh thánh được truyền qua ngôn ngữ của chúng ta, nhưng ít nhiều được hiểu:hỏa ngục, tông đồ, cứu chuộc, thánh thiện, giáo hội, v.v. ... Một số phiên bản của Kinh thánh từ bỏ chuyển dịch một từ không có tương đương qua ngôn ngữ của mình. Chẳng hạn, bản dịch TOB (Đại kết tiếng Pháp) phiên âm trực tiếp từ tiếng Hy Lạp "Paraclet”trong Gio-an 14,16 ở đó những chỗ khác dịch "đấng an ủi”hoặc "luật sư”hoặc "đấng bảo vệ", từ Hy Lạp có tất cả ý nghĩa đó cùng một lúc. Các từ Đức Kitô, bí tích rửa tội, bí tích Thánh Thể, trong ngôn ngữ Pháp v.v. đều là phiên âm các từ Hy-lạp trong Kinh thánh, có nghĩa là được xức dầu, dìm xuống nước, tạ ơn. Thật tốt khi chúng ta biết ý nghĩa ban đầu của một từ.
Ngoài các vấn đề từ vựng, có những khó khăn đến từ các cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ. Tiếng Híp-ri không có các thì (quá khứ, hiện tại và tương lai) của các động từ tiếng Pháp hay tiếng Anh và rất xa lạ đối với tiếng Việt của chúng ta. Tiếng Híp-ri thích các câu ngắn, để bên cạnh nhau. Ngược lại, tiếng Hy Lạp cho phép các câu rất dài, điều mà một người biết một ngôn ngữ khác khó theo dõi. Các dịch giả cố gắng tạo ra cùng một ý nghĩa trong các hình thức khác nhau, nhưng họ cố gắng làm điều đó cho tốt.
Mỗi ngôn ngữ có những tiến trình văn chương của nó. Thơ ca tiếng Híp-ri (Thánh vịnh, Ngôn sứ) không quan tâm đến vần điệu, nhưng sử dụng sự lặp lại. Một ý nghĩ tương tự được lặp lại với bằng cách sùng từ khác, với các sắc thái nhẹ (điều này được gọi là "song song"). Các sưu tập Thánh vịnh có rất nhiều ví dụ: 51, 62, 119, v.v ...
Bằng cách so sánh các bản dịch khác nhau và tham chiếu những bình giải tốt, người ta có thể tránh được những ngược ý mà sự thiếu hiểu biết về các tinh tế của ngôn ngữ khác có thể tạo ra.
Chú thích:
[13] No. Ideas like that come from Protestant sources that distort the truth. For example, in book entitled, “Roman Catholicism” claims: Bible forbidden to laymen, placed on the Index of Forbidden Books by the Council of Valencia . . . [A.D.] 1229.”—Lorraine Boettener in his book, “Roman Catholicism”. There’s not truth to that claim:The Index of Forbidden Books didn’t exist until 300 years later and there has never been a “Council of Valencia”. Maybe Boettner was confused with a Council held in 1229 in Toulouse, France? That council does get cited by anti-Catholics as supposed “evidence” that the Church banned the bible and its the year he claims. However, the Council of Toulouse doesn’t prove what he claims. The Council in Toulouse wasn’t an ecumenical council. It was called to deal with alocalproblem, the Albigensian heresy. The Albigensians were usingcorrupt vernacular versions of the Bibleto support their heresies. It wasinaccurate versionsthat were banned to help put the heresy to rest.
[14] Teraphim (Hebrew: תרף teraph; plural: Hebrew: תרפים teraphim) is a Hebrew word from the Bible, found only in the plural, of uncertain etymology. Despite being plural, Teraphim may refer to singular objects, using the Hebrew plural of excellence. The word Teraphim is explained in classical rabbinical literature as meaning disgraceful things (dismissed by modern etymologists), and in many English translations of the Bible it is translated as idols, or household god(s), though its exact meaning is more specific than this, but unknown precisely.
ĐỌC KINH THÁNH NHƯ THẾ NÀO CHO TỐT
I. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
1 - Hãy để bản văn Kinh thánh nói: thường xuyên, chúng ta chỉ đọc Kinh thánh để tìm một ý tưởng thân cận đối với chúng ta. Thế thì sau đó, có nguy cơ chỉ tìm thấy những gì chúng ta đang tìm kiếm, để hiểu những gì chúng ta muốn hiểu. Việc sử dụng Kinh Thánh trong một cuộc thảo luận, tìm kiếm các "chứng cứ” Kinh Thánh hiếm khi tránh được mối nguy hiểm này. Chúng ta phải có một thái sẵn sàng trước Lời Thiên Chúa. Chúng ta phải có quyền tự do nghe những gì Kinh thánh thực sự nói, và không phải những gì chúng ta muốn Kinh thánh nói. Các định kiến của chúng ta, những ý tưởng sẵn có của chúng ta, ước muốn của chúng ta là đúng, cản trở hành động của Chúa Thánh Thần.
2 - Hãy xem xét bối cảnh: người ta thường trích dẫn những câu Kinh thánh cô lập mà không quan tâm đến bối cảnh phù hợp câu đó. Điều này có thể làm cho chúng ta bỏ qua ý nghĩa thực sự. Để hiểu rõ, chúng ta phải tự hỏi. "Tác giả muốn nói điều gì? Và ông ta đã viết những từ này với ý định gì?” Do đó, cần phải biết tình trạng của tác giả và những người nhận và nghe của văn bản, vị trí của đoạn văn trong toàn bộ lập luận (ví dụ trong các thư tín) hoặc về một tường thuật (trong các Tin mừng) bối cảnh lịch sử, xã hội, tôn giáo, chính trị, v.v ... Nói cách khác, chúng ta nên đặt các câu hỏi kinh điển: Ai? Cho ai? Khi nào? Ở đâu? Cái gì? Tại sao? Thế nào?
Đúng là một số bản văn và thậm chí một số câu có thể được hiểu mà không có một kiến thức kỹ lưỡng về bối cảnh. Người ta có thể trích dẫn Gio-an 3,16 một cách đơn lẻ mà không làm sai lệch ý nghĩa của nó; nhưng để tách biệt dụ ngônĐứa con hoang đàng(hoặccon chiên lạc) khỏi hai câu đầu của Tin mừng Lu-ca chương 15 và khỏi bối cảnh xã hội và tôn giáo của Ít-ra-en (cho phép định vị trí những người Pharisêu và các người thu thuế), là làm suy yếu bản văn. Tương tự như thế, chúng ta se hiểu không tốt thông điệp của các ngôn sứ nếu chúng ta không tính đến thực tế là họ gởi đến trước tiên cho người Do Thái sống trong một tình huống lịch sử cụ thể (ví dụ, việc thờ hình tượng ở Ít-ra-en, mối đe dọa nước ngoài xâm lược, bất công xã hội).
Bối cảnh văn học cũng rất quan trọng:điều gì đến trước và sau đoạn văn này? Có bất kỳ tương đồng với văn bản này và giáo huấn của nó? Có những đoạn dường như nói các điều gì khác với bản văn đang đọc trên cùng một vấn đề?(ví dụ, Phao-lô và Gia-cô-bê nói khác nhau về đức tin và công việc). Nhưng cũng xem xét đến: đâu là vị trí của bản văn này trong toàn bộ Kinh thánh, trong lịch sử Mặc khải?
3 - Hãy xem xét đến thể loại văn chương: chúng ta không đọc một bài thơ như chúng ta đọc một tường thuật văn xuôi, như chúng ta đã thấy điều đó rồi. Nhiều Kitô hữu tin rằng cách tốt nhất để đọc Kinh thánh là đọc mọi thứ theo nghĩa đen, nghĩa sát chữ. Nhưng tông đồ Phao-lô cảnh báo chúng ta. "Chữ giết chết ...”(la lettre tue) (2 Cô-rinh-tô 3,6):"Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống."
Điều này càng đúng khi chúng ta đọc các bản dịch và không phải bản gốc. Ngôn ngữ thơ, ví dụ, sử dụng hình ảnh. Trong Thánh vịnh 22, tác giả viết: "Quanh con cả đàn bò bao kín, thú Ba-san ùa đến bủa vây“(c. 13) và "quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay”(c. 17).
Tác giả nói về kẻ thù của mình, ông không nói về các sinh vật thực sự. Các ví dụ có rất nhiều trong các Thánh vịnh, các sách Ngôn sứ (Ed 36:trái tim bằng đá và trái tim xác thịt) hoặc trong Tin Mừng (rơm và xà, Mt 7,1-5). Đôi khi một từ thông dụng được sử dụng theo nghĩa mạnh hơn hoặc yếu hơn nghĩa thông thường. Trong Luca 14,26 cụm từ "nếu họ không ghét cha mình, v.v.”có cùng ý nghĩa với cụm từ "họ yêu cha mình... hơn tôi”trong văn bản song song của Mt 10,37.
Các con số tất nhiên có một giá trị số học chính xác, nhưng cũng rất thường xuyên là một giá trị tượng trưng, đặc biệt là trong sách Khải huyền: 7 là con số hoàn hảo, 12 là con số của dân Thiên Chúa (mười hai chi tộc), v.v.
4 - Giải thích Kinh thánh bằng Kinh thánh: đôi khi chúng ta sử dụng nhiều kiến thức đa dạng: tâm lý học, lịch sử tôn giáo, xã hội học, v.v ... để diễn giải các bản văn Kinh thánh. Kiến thức như vậy có thể phục vụ công việc chú giải. Nhưng chúng chỉ có thể đóng một vai trò bổ sung, một ý kiến để chúng ta dựa vào cho một giải thích. Điều chính yếu của những gì chúng ta cần biết để hiểu thông điệp Kinh Thánh nằm ở trong Kinh thánh. Kinh thánh hình thành một tổng thể, trong đó mỗi phần không có cùng tầm quan trọng. Các trang khác nhau của Kinh thánh được tổ chức theo vị trí của chúng trong chương trình của Thiên Chúa, trong chương trình cứu độ. Trung tâm của Kinh thánh là Chúa Giêsu Kitô. Chính trong Ngài, Thiên Chúa mặc khải đầy đủ.
Chính Ngài mang lại ý nghĩa cho toàn bộ Kinh thánh. Thiên Chúa không mặc khải tất cả ý định của Ngài trong mỗi trang của Kinh thánh. Đôi khi chỉ một khía cạnh hành động của Ngài hoặc của thánh ý Ngài xuất hiện. Chúng ta không được suy diễn đoạn văn này nói nhiều hơn những gì bản văn muốn nói. Mỗi đọa văn là một phần của toàn bộ Kinh thánh, ở đó mỗi đoạn văn không đóng cùng một vai trò như các văn bản khác. Điều này giải thích tại sao các đoạn khác nhau dường như nói những điều khác nhau, nếu không các đoạn văn sẽ mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, thật điên rồ khi đối lập một bản văn của sách Châm ngôn vời một ngôn từ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng.
Cùng một mặc khải ngắn ở khắp nơi trong Kinh thánh, nhưng chỉ trong Chúa Giêsu Kitô, điều nđó mới có thể được nắm bắt trọn vẹn.
Thư mục cho phân đoạn này
Berkhof Louis,Principles of Biblical Interpretation. Grand Rapids: Baker Book House, 1950. A reliable and sober introduction, from a conservative Reformed perspective.
Bruns Gerald L.,Hermeneutics Ancient and Modern. Yale Studies in Hermeneutics. New Haven and London: Yale University Press, 1992.
Caird George Bradford,The Language and Imagery of the Bible. Philadelphia: Westminster, 1980. Reprinted Grand Rapids: Eerdmans, 1997. Caird, a Professor of Exegesis at Oxford Univerity, writes from a moderately liberal perspective, but much of his book is nevertheless worthwhile. A readable and interesting study of the interpretation of metaphorical language in the Bible.
Carson Donald A. and H.G.M. Williamson, eds.It Is Written: Scripture Citing Scripture. Essays in Honour of Barnabas Lindars. Cambridge: Cambridge University Press, 1988.
Carson Donald A., Exegetical Fallacies. Grand Rapids: Baker Book House, 1984. Discusses many grammatical, logical, and historical fallacies.
Corley Bruce, Steve Lemke, and Grant Lovejoy, eds.Biblical Hermeneutics: A Comprehensive Introduction to Interpreting Scripture. Nashville: Broadman and Holman, 1996. 2nd ed. 2002. An intermediate level anthology including contributions from 27 conservative Baptist scholars. Extensive but unannotated bibliographies are provided for most chapters.
Gio-anson Elliott E.,Expository Hermeneutics: An Introduction. Grand Rapids: Zondervan, 1990. Gio-anson was for years a professor at Dallas Theological seminary, and his introduction is intended for seminary students. The orientation is conservative and dispensationalist.
Jowett Benjamin, "On the Interpretation of Scripture,”inEssays and Reviews(London, 1860), reprinted inEssays and Reviews: The 1860 Text and Its Reading, edited by Victor Shea and William Whitla. Victorian Literature and Culture Series. Charlottesville: University Press of Virginia, 2000. ISBN 0-8139-1869-3. A classic statement of liberal hermeneutics.
Ngô Đình Sĩ,Đọc và diễn giải Kinh thánh, Nxb Tôn giáo, 2015.
II. CÁC TÀI LIỆU GIÚP ĐỠ CHÚNG TA TRONG VIỆC ĐỌC KINH THÁNH
1. Các tài liệu cơ bản
1. Như chúng ta đã nói trên đây, chính Kinh thánh giải thích Kinh thánh, một trong những công cụ có quý báu nhất là thể loại sách "Đối chiếu các bản văn song song”(concordance). Một cuốn Kinh thánh song song sẽ phục vụ nhiều cho sinh viên khảo sát một bản văn Kinh thánh (nhưng chúng ta phải biết nhận định và chọn các quy chiếu).
2. Một cuốn từ điển Kinh Thánh cung cấp các thông tin chúng ta cần. Thật không may chúng ta chưa có thể loại sách này trong tiếng Việt.
3. Một sưu tập bản đồ của Kinh Thánh (atlas) cung cấp thông tin địa lý, lịch sử và khảo cổ. Có một số sách ngoại quốc với giá cả hợp lý.
4. Các sách chú giải khác nhau liên quan đến các sách khác nhau của Kinh Thánh cũng có lợi cho việc đọc và khảo sát Kinh thánh. Một số có cấp độ khoa học hơn, những số khác phù hợp với trình độ chúng ta hơn. Các sách này đáp ứng các nhu cầu khác nhau và bổ sung cho nhau hơn là cạnh tranh với nhau.
5. Chúng ta đã nói về các bản dịch khác nhau và ghi chú của kèm theo. Cần phải luôn nhớ rằng các ghi chú của các dịch giả và của các bình luận gia không phải là những lời Tin Mừng, có chân lý như lời Thiên Chúa. Chúng có thể giúp hiểu một văn bản, nhưng không thể thay thế việc nghiên cứu bản văn đó.
2. Ý thức và tâm hồn người đọc
Chúng ta đừng quên rằng tất cả các kỹ thuật, tất cả các lời khuyên để hiểu Kinh thánh, chỉ có giá trị nếu chúng phục vụ việc lắng nghe thực sự Lời Chúa, phục vụ cho chúng ta sẵn sàng nhận ra những gì Thiên Chúa muốn nói với chúng ta qua Kinh thánh. Một thái độ cầu nguyện ("Hãy nói, Chúa ơi, tôi tớ Chúa đang lắng nghe") là điều kiện đầu tiên để hiểu thông điệp Kinh Thánh.
Thông điệp Kinh Thánh đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt nhiều thế kỷ. Tất cả mọi người mọi giới đã nhận biết "lời ban sự sống vĩnh cửu". Khi họ đọc Kinh thánh, họ cảm thấy Chúa đang hỏi họ, thách thức, và họ đã khám phá Tin mừng cứu độ.
Ngày nay đã hai mươi mốt thế kỷ trôi qua với một khoảng cách dài như vậy, lời của các tác giả Kinh Thánh được Thánh Thần linh hứng nói với chúng ta, soi sáng hiện tại của chúng ta, gởi đến những tình huống khác nhau mà chúng ta đang sống. Kinh thánh vẫn luôn là một Lời sống động, không phải là các "chữ giết chết".
Nhưng nếu thông điệp cơ bản vẫn giống nhau, cách thức con người hiểu thông điệp có thể khác nhau. Chúng ta đã nói nhiều lần trong môn học của chúng ta về tầm quan trọng của việc hiểu chính xác những gì Kinh thánh muốn nói với chúng ta. Mục đích của chú giải là cố gắng đưa ra một cách an toàn và khách quan nhất ý nghĩa của bản văn Kinh thánh. Bởi vì nếu chúng ta hiểu điều gì khác ngoài những gì tác giả muốn nói, chúng ta sẽ hiểu sai, đi lệch ra ngoài Lời Chúa.
Một khi ý nghĩa của bản văn được hiểu, vẫn còn một câu hỏi: "Bản văn này nói gì với tôi?” Hoặc hơn nữa: "Chúa nói gì với tôi qua bản văn này?” Chính là công việc chuyển dịch sang ngôn ngữ hiểu biết của tôi, đi vào thánh hóa suy nghĩ của riêng tôi, vào hoàn cảnh sống của riêng tôi, những gì một con người từ thời đại khác, một thời đại xa xưa nói, diễn đạt đôi khi theo phương cách xa lạ với tôi. Nỗ lực dịch thuật và ứng dụng thông điệp này chính là những gì chúng ta đặt tên là diễn giải, chú giải (hay thông diễn).
Mỗi Kitô hữu làm điều này một cách tự nhiên khi họ tìm cách làm nhân chứng Tin mừng bằng cách giải thích một đoạn Kinh thánh cho một người bạn. Họ tìm cách chỉ ra cách thông điệp của bản văn đang đề cập gửi đến bạn của họ; Người Ki-tô hữu nhấn mạnh những điểm tương đồng và sự khác biệt giữa hoàn cảnh của những con người trong Kinh thánh (tác giả hoặc các người nhận nghe đoạn văn được xem xét) và tình hương của người bạn này (và của chính họ).
3. Thái độ của Chúa Giê-su
Chúa Giê-su chắc chắn là người diễn giải lớn nhất của Kinh thánh. Nếu người ta gọi Ngài là "giáo sĩ”Do thái (là thầy), vì đó là Ngài không những biết giải thích Cựu Ước (với thẩm quyền không so sánh được, Mt 7,28-29: "Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ"), mà Ngài còn cho thấy thông điệp của Ngài liên quan đến mọi người như thế nào, những người nghe Ngài. Diễn giải của Ngài trên Lề luật trong Mt 5,20-48 là một ví dụ điển hình - hoặc phản ứng của Ngài đối với việc ly dị: Mt 19,1-9.
Việc đọc Tin Mừng cũng cho chúng ta thấy rằng việc diễn giải Kinh thánh của Chúa Giêsu rất khác so với các kinh sư thời của Ngài. Các kinh sư cho rằng Chúa Giêsu đã nhầm lẫn bởi vì Ngài không giải thích Kinh thánh theo cách riêng của họ, theo truyền thống của họ - và bởi vì Ngài đã không đi theo trường học của họ.
Điều này cho chúng ta thấy có nhiều cách khác nhau để diễn giải Kinh Thánh. Một số chú giải không vượt qua thử thách của duyệt xét: ví dụ, khi sử dụng chế độ đa thê của các tổ phụ để biện minh cho chế độ đa thê ngày nay; Kinh thánh được sử dụng để biện minh cho chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc. Khi có lối chú giải như thế này, thường là vì các nhà chú giải đó có ý đồ xấu hoặc không hiểu biết tới nơi tới chốn. Nói cách khác, những người này không hề quan tâm đến việc lắng nghe Kinh Thánh hơn là lợi dụng Kinh thánh để đưa vào phục vụ cho họ bằng cách sử dụng Lời Thiên Chúa theo cách của quỷ đã dùng trong đoạn văn Chúa Giê-su bị cám dỗ trong sa mạc (x. Lc 4,9-11):
"Quỷ lại đem Đức Giê-su đến Giê-ru-sa-lem và đặt Người trên nóc Đền Thờ, rồi nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn. Lại còn chép rằng: Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá."
Nhưng làm thế nào để chúng ta có thể chắc chắn không nói về Kinh Thánh những gì chúng ta muốn muốn nói?Tất nhiên, chúng ta không làm điều đó một cách tự nguyện. Nhưng phải thành thật thừa nhận rằng chúng ta rất giỏi trong việc tìm ra lý do để tin những gì chúng ta muốn tin và làm những gì chúng ta muốn làm. Khi chúng ta nhìn vào một vật thể, chúng ta thấy nó từ một viễn cảnh nào đó, từ một góc độ nào đó. Cái nhìn chúng ta có thể bị biến dạng, khi chúng ta nhìn thấy điều chúng ta đang đọc dưới một góc độ khác, chúng ta không nhận ra nó. Điều tương tự cũng có thể đúng với Kinh thánh; nếu chúng ta chỉ xem xét bản văn chỉ với viễn cảnh của chúng ta, từ quan điểm của chúng ta, bằng cách chỉ chú ý những gì chúng ta quan tâm, chúng ta ưa thích, như thế chúng ta không sẽ hiểu rõ về bản văn. Vì lý do này, chúng ta cần tham khảo đến cách các nhà chú giải tiếp nhận bản văn, hiểu bản văn.
Thiên Chúa không chỉ nói riêng với tôi. Ngài nói qua Thần khí của Ngài với toàn thể dân Ngài. Và nếu, bất cứ lúc nào, Giáo hội hoặc một phần thành viên của Giáo hội không thể tự cho mình quyền bất khả ngộ, không thể sai lầm trong việc giải thích Kinh thánh, chúng ta không nên xem thường việc toàn thể người Kitô hữu đọc nghe thấy thông điệp của Thiên Chúa như thế nào. Một Ki-tô hữu cô lập, bị cắt đứt khỏi "sự hiệp thông của các thánh”có nhiều khả năng bị sai lầm, có một viễn cảnh bị bóp méo hơn là một người lắng nghe thông điệp của Thiên Chúa trong sự hiệp thông với anh em của mình. Vì thế, chúng ta nên biết lịch sử diễn giải Kinh Thánh sau đây.
III. LỊCH SỬ DIỄN GIẢI KINH THÁNH
1. Diễn giải Kinh thánh của người Do thái thời Chúa Giê-su
Sau khi trở về từ bị giam cầm, người Do Thái, dưới sự lãnh đạo của Ét-ra, đã nhận thức được tầm quan trọng của sự vâng phục Lề luật, trong khuôn khổ của Giao ước, để duy trì sự tồn tại của Ít-ra-en: Nơ-khê-mi-a 8,3; 8,18; 10,29. Ét-ra là khuôn mẫu của các kinh sư, người dạy luật cho Ít-ra-en (Ét-ra 7,10). Việc giải thích Kinh thánh ngày càng trở thành vấn đề của các kinh sư. Mối quan tâm chính của họ là theo dõi sự tuân thủ chính xác các giới răn của Thiên Chúa. Điều này buộc họ phải làm rõ ý nghĩa và giới hạn của các yêu cầu thánh thiêng. Chúng ta có một ví dụ trong Nơ-khê-mi-a 13.
Mô-sê đã loại trừ Ammonite và Moabite khỏi cộng đồng Thiên Chúa, Nơ-khê-mi-a quyết định loại trừ tất cả các dân ngoại, bên ngoài Ít-ra-en và thậm chí cả phụ nữ nước ngoài.
Cùng một chương tương tự của Nơ-khê-mi-a cũng nhấn mạnh đến cần thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt ngày Sa-bát. Lệnh Sa-bát đã giữ một vị trí lớn trong cuộc sống của Ít-ra-en: đó là một phong tục giúp tách biệt rõ ràng dân Ít-ra-en với các dân tộc láng giềng, do đó là một điểm quan trọng tạo sự thống nhất quốc gia.
Để gìn giữ sự tôn trọng ngày Sa-bát, các kinh sư đi đến việc xác định chi tiết những gì cho phép và bảo vệ vào ngày đó. Do đó, một truyền thống được thiết lập bên cạnh giới răn của Thiên Chúa. Mục đích của truyền thống này là gìn giữ các giới răn, bao quanh giới răn bằng một hàng rào. Nhưng từng chút một, truyền thống (vốn chỉ là một cách diễn giải nhân loại) cuối cùng đưa ra tầm quan trọng tương tự như giới răn ngày Sa-bát. Chúng ta có rất nhiều ví dụ trong Tin Mừng.
Các trường phái khác nhau tồn tại trong lòng Do Thái giáo. Hai bậc thầy vĩ đại của lề luật vào thời Chúa Giê-su là Hillel và Shammai. Ông Shammai là một nhà chú giải cứng nhắc và hình thức, trong khi đó Hilel chứng tỏ là một nhà chú giải linh hoạt và tự do hơn. Ông Gamaliel, thầy của Phao-lô thành Tarsus (xem Công vụ 5,34-39) là cháu trai của thầy Hillel.
2. Chúa Giê-su diễn giải Kinh thánh thế nào
Cũng như các ví dụ của các kinh sư, Chúa Giê-su đặt nền tảng giáo huấn của Ngài trên Kinh thánh. Ngài thường nhắc đến thẩm quyền của Môi-se, của các ngôn sứ hoặc của vua Đa-vít (Mt 4,4; Mc 11,17; 12,36; 10,6). Nhưng Ngài tự do thoát khỏi những truyền thống thêm vào lề luật (như ngày Sa-bát, Mc 2,23-27; 3,1-6, Gio-an 5,1-18; 9,1-41, v.v. ... hoặc như các nghi thức thanh tẩy, Mt 15,1-20, v.v.).
Thật vậy, Chúa Giêsu luôn tìm cách trở về với ý định chính của giới răn: Mc 2,27; 3,4; Mt 15,11 và 20; 19,4-6 v.v. ... Ngài cố gắng làm nổi bật mục đích của giới răn, để mặc khải giới răn trong tất cả các yêu cầu của chính nó: Mt 5,17-48. Ý định của giới răn không gắn liền với các từ, các chữ, mà gắn bó với tinh thần của lề luật. Đây là lý do tại sao Ngài tóm lược toàn bộ luật trong giới răn nhân đôi của tình yêu (Mt 22,37-40).
Chúa Giêsu diễn giải Cựu Ước để minh chứng sứ mệnh của chính Ngài được loan báo như thế nào. Ngài muốn giúp người nghe hiểu các hành động của Ngài và nhận ra nơi Ngài là Đấng Thiên Sai, như thánh ý của Thiên Chúa, chứ không phải như ý muốn mà con người tưởng tượng ra. Khi dựa vào Kinh thánh, Ngài mặc khải ý nghĩa và mục đích của sứ mệnh của Ngài: Lu-ca 4,16-20; 20,9-18; 20,41-44; 22,37; 24,25-27; Mt 12,38-42; 21,12-17; 26,31, v.v.
Trong khi các giáo sĩ Do thái thường bám vào những tranh luận về các từ và các chi tiết, Chúa Giêsu cố gắng làm nổi bật chính yếu của thánh ý Thiên Chúa, ý nghĩa sâu xa của chương trình của Thiên Chúa. Cuộc thảo luận của Chúa Giê-su với những người Sa-đu-sê-en trong Mt 22,23-33 là một ví dụ (hoặc Mt 15,3-9; 23,16-24).
3. Diễn giải Kinh thánh nơi các môn đệ của Chúa Giê-su
Kinh thánh Kitô giáo tiên khởi dĩ nhiên là Cựu Ước. Việc sử dụng chính của Kinh thánh được mô tả trong sách Công vụ cho thấy Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a được các ngôn sứ loan báo:
Ví dụ, Công vụ 17,2-3. 5. Các rao giảng của các Tông đồ qua bản văn của thánh sử Lu-ca, trích dẫn rất nhiều Cựu Ước: Công vụ 2,14-36; 3,11-26; 4,9-11; 8,26-35; 13,16-41. Dường như các Kitô hữu tiên khởi đã hình thành một bộ sưu tập các bản văn Cựu Ước để minh chứng rằng Chúa Giêsu là Đấng Mêsia Thiên Chúa đã hứa. Các trích dẫn xuất hiện thường xuyên hơn trong Tân Ước: Is 53; Thánh vịnh 118,22; 110,1; 16,8-11; Is 28,16; 59,20-21; Gr 31,31-34.
Tông đồ Phao-lô đã nhận được một đào tạo giáo dục dành cho giáo sĩ Do Thái. Cách Phao-lô trích dẫn Kinh thánh đôi khi làm chúng ta ngạc nhiên. Phao-lô thường sử dụng phương pháp diễn giải "dạng thức học”hoặc "kiểu hình học”(typologie). Nói cách khác, Thánh Phao-lô nhìn thấy trong một số sự kiện và nhân vật trong Cựu Ước là một trong "các loại”(các ví dụ, khuôn mẫu, tương đồng) của các biến cố của Giao ước mới hoặc con người của Chúa Kitô. Chẳng hạn, trích dẫn song song Adam-Ki-tô (Rm 5,12-21) ở đây Adam được gọi là "hình loại”của Đấng sẽ đến (câu 14) - hoặc song song giữa biến cố Xuất hành, tiếp theo sau việc lữ hành của Ít-ra-en trong sa mạc và sự cứu rỗi của các Kitô hữu, nhưng bị đe dọa bởi cám dỗ (1 Cr 10,1-11 - từ ngữ "thể loại”xuất hiện trong câu 6 và câu 11) - hoặc ví dụ về Áp-ra-ham, cha của những kẻ tin (Rm 4; Gl 3 và 4).
Trong thư gởi tín hữu Ga-lát 4,21-31, thánh Phao-lô nhìn thấy ở Sara và Hagar một phúng dụ (allegory) về hai giao ước - Giao ước với Ít-ra-en theo xác thịt và với Ít-ra-en theo thần trí (dân tộc của những kẻ tin). Phương pháp phúng dụ (allegory) chệch khỏi ý nghĩa lịch sử nhiều hơn là phương pháp "loại dạng thức”(typology). Phương pháp này cho phép nhìn thấy trong một sự kiện hoặc một nhân vật có một bài học ẩn dấu. Phương pháp phát hiện ra một ý nghĩa "thiêng liêng”bên cạnh ý nghĩa thực sự.
Thư gởi cho tín hữu Híp-ri thường được đặt song song Giao ước cũ với Giao ước mới, bản thân của Chúa Kitô và các nhân vật của Giao ước cũ (Mô-sê, thượng tế tối cao, v.v.) Melchisedek xuất hiện như một hình (loại, type) của Chúa Kitô.
4. Lịch sử diễn giải Kinh thánh Ki-tô giáo
Quan sát mở đầu
Bắt đầu từ thế kỷ thứ ba, có hai khuynh hướng đối lập với nhau trong Giáo hội: một là cách đọc phúng dụ Kinh Thánh, có trung tâm ở Alexandria và một trường phái lịch sử, có trung tâm ở Antioch. Alexandria, trước thời Chúa Kitô, đã là một trung tâm triết học người Do Thái, nơi đó phương pháp phúng dụ được áp dụng để thuyết phục các nhà triết học Hy Lạp về giá trị và chân lý của Do Thái giáo. Kinh thánh không còn được diễn giải theo nghĩa đen, nghĩa sát chữ, nhưng người ta tìm kiếm ở đó một ý nghĩa ẩn giấu. Chính như thế người ta thấy trong nhân vật Mô-sê một triết gia vượt trội hơn cả triết gia Platon. Sara, ví dụ, đại diện chokhôn ngoan Thiên Chúa, Hagar làkhôn ngoan con người.
Các Kitô hữu miền Alexandria đã theo khuôn mẫu này. Nhà thần học vĩ đại Origen đã phân biệt ba cấp độ diễn giải:
1) Diễn giải lịch sử hoặc nghĩa sát chữ: ý nghĩa đầu tiên của bản văn là quan trọng;
2) Diễn giải đạo đức, qua đó người ta tìm cách rút ra một bài học đạo đức, một ví dụ về hành vi (do đó, khi Chúa Giêsu nhắc đến ví dụ của Đa-vít liên quan đến ngày Sa-bát, Mc 2,25-26;
3) Diễn giải thánh thiêng hoặc phúng dụ, tìm kiếm ý nghĩa sâu sắc, ẩn dấu đằng sau nghĩa đen. Ví dụ, ý nghĩa thiêng liêng của thành Giê-ri-cô sụp đổ trong sách Giô-suê, chính là sự sụp đổ của sự thờ hình tượng, thờ tà thần khi Chúa Giêsu đến. Một phương pháp diễn giải phúng dụ về dụ ngôn Samaritanô tốt lành là hình ảnh của quán trọ Giáo hội và trong rượu và dầu, là hình ảnh các bí tích.
Origen không phủ nhận giá trị lịch sử của Cựu Ước, nhưng giáo phụ nghĩ rằng những tường thuật mà thông điệp thiêng liêng không rõ ràng (như Nô-ê say rượu, những người phụ nữ và các nàng hầu của Gia-cốp, câu chuyện về Giu-đa và Tama , v.v.) chỉ có thể có trong Kinh thánh nếu chúng có ý nghĩa thiêng liêng ẩn giấu.
Các nhà thần học ở Antioch gắn bó hơn với nghĩa đen và nghĩa lịch sử. Phương pháp phúng dụ có vẻ nguy hiểm đối với họ, bởi vì phương pháp để lại một cánh đồng rộng mở cho những diễn giải cá nhân và tự do. Họ là những người đầu tiên bảo vệ một chú giải nghiêm túc, người ta gần như có thể nói là khoa học.
Nhưng, xét về tổng thể, phương pháp phúng dụ đã được sử dụng rộng rãi.
Để chống lại những kẻ dị giáo, nhiều nhà tư tưởng Kitô giáo đã tuyên bố rằng Kinh thánh chỉ có thể được diễn giải theo quy tắc đức tin được xác định bởi Giáo hội. Các Tông đồ đã nhận được từ Chúa Kitô chân lý của thông điệp Kitô giáo và truyền lại cho những người kế vị của họ trong Giáo hội. Đó là bước đi đầu tiên hướng đến Giáo hội Công giáo La Mã.
Một chút lịch sử
Như chúng ta đã nói trên đây, sự kiện Kitô hữu tiên khởi coi trọng Kinh Thánh có thể dễ nhận thấy qua việc nghiên cứu các bài giảng, phụng vụ, nhận xét và nghệ thuật của Kitô Hữu. Họ đồng ý về tính cách linh ứng của Kinh Thánh (tuy có sự bất đồng ý về tính cách quy điển của các sách) và coi Kinh Thánh là "công trình độc nhất của một Tác Giả độc nhất.”Trong những học giả Kinh Thánh vĩ đại của Kitô Giáo tiên khởi là Ambrôse, Giêrôme, Augustine, và ĐGH Grêgôriô Cả ở Tây Phương, trong khi ở Đông Phương có Athanasius, Gioan Kim Khẩu và các Giáo Phụ Cappadocian (Basil Cả, Grêgôriô Nazianzus, Grêgôriô ở Nyssa).
Trong khi một số giáo phụ, tỉ như, Melito ở Sardis, Clemente ở Alexandria, Origen, đưa ra các quy tắc để dẫn giải Kinh Thánh, trong thời kỳ tiên khởi này, tổng quát, các quy tắc vẫn còn uyển chuyển. Việc dẫn giải có tính cách ngụ ý của các văn bản thánh được chấp nhận một khi sự ngụ ý này hướng về Đức Tin Kitô Giáo và không thay đổi nhiều với Tông Truyền. Câu châm ngôn nổi tiếng của Vincent ở Lerins là quy tắc của thời ấy:quod ubique, quod semper, quod ab omnibus(điều [được dậy bảo] ở mọi nơi, luôn luôn, và bởi mọi người).
Chân lý của Kinh Thánh được hiểu theo nghĩa đen, có giá trị lịch sử thường được các Giáo Phụ mặc nhiên chấp nhận. Tuy nhiên, một vài ngoại lệ của điều này được thấy trong Học Phái Alexandria. Thí dụ, Origen dậy rằng các biến cố trong Cựu Ước không nhất thiết phải chính xác về lịch sử, nhưng được dùng như các câu chuyện để nói lên các chân lý có giá trị tinh thần. Trái lại, Học Phái Antiôkia tỉ như Gioan Kim Khẩu mạnh mẽ tẩy chay phương cách tiếp cận này, và duy trì tính cách xác thực lịch sử của Kinh Thánh.
Khi các thế kỷ trôi qua, sự quen thuộc tự nhiên với ngôn ngữ Kinh Thánh (tiếng Hy Lạp và cổ Do Thái) và các truyền khẩu tiên khởi giảm dần. Bởi đó, phát sinh nhu cầu cần có các quy tắc dẫn giải và chú thích. Từ từ, việc phát triển liên tục về nghệ thuật và khoa học của việc nghiên cứu Kinh Thánh đã đưa đến truyền thống Công Giáo về bốn ý nghĩa của Kinh Thánh.
Ý nghĩa đầu tiên là nghĩa đen (theo văn tự) mà theo T. Tôma Aquinas, là ý nghĩa mà tất cả các ý nghĩa khác phải dựa vào đó. Nghĩa đen thì đơn giản là ý nghĩa trực tiếp và đúng theo mặt chữ, tuy điều này có bao hàm phép ẩn dụ (tỉ như, Con của Sấm Sét vẫn là nghĩa đen tuy nó có tính cách ẩn dụ).
Ba ý nghĩa khác, ngụ ý, loại suy, và luân lý cùng hợp thành ý nghĩa tinh thần. Nghĩa ngụ ý chú ý đến ý nghĩa biểu tượng được phát sinh bởi chữ. Những hình ảnh tiên báo trong Cựu Ước và Tân Ước là thí dụ của ý nghĩa này. Nghĩa loại suy nhắm đến sự liên can của chữ với điều người Công Giáo gọi là "cánh chung;”có thể nói là sự chết, sự phán xét, thiên đường, và hỏa ngục. Sau cùng, nghĩa luân lý dậy chúng ta cách sống. Tính cách dậy bảo của bốn ý nghĩa này được tóm tắt trong bài thơ nổi tiếng thời trung cổ:
Littera geta docet, quid credas allegoria,
moralis quid agas, quo tendas anagogica.
Theo nghĩa bóng, câu này có thể lược dịch như sau: "văn tự dậy chúng ta về điều đã xảy ra; điều bạn phải tin được gọi là ngụ ý; điều bạn phải thi hành được gọi là nghĩa luân lý; ý nghĩa loại suy có liên quan đến chung cuộc đời bạn."
Việc nghiên cứu Kinh Thánh phát đạt trong suốt thời trung cổ, một thời đại mà thần học và nghiên cứu Kinh Thánh được coi là "cực điểm của kiến thức”và "hoàng hậu của khoa học.”Trong thời Trung Cổ, Giáo Hội Công Giáo duy trì và trao truyền lại Kinh Thánh. Người ta nói rằng nếu hai đan sĩ làm việc toàn thời gian thì phải mất bốn năm mới chép xong toàn bộ Kinh Thánh. Bởi đó, vì giá trị không thể tưởng được và vì không muốn bị mất cắp nên bộ Kinh Thánh đôi khi được giữ bằng giây xích trong nhà thờ và thư viện, chứ không phải vì Giáo Hội âm mưu muốn giữ làm của riêng không cho công chúng biết, như một vài người cáo buộc. Ngược lại, Giáo Hội đã làm mọi sự trong khả năng để phổ biến Kinh Thánh trong thời Trung Cổ cũng như giúp duy trì văn hóa và kiến thức của Tây Phương.
Thời đại này đề cao việc tìm kiếm sự thật ở bất cứ đâu. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy trong thời này, các đại học, thư viện, và nghệ thuật và khoa học nở rộ. Việc nghiên cứu Kinh Thánh và lưu ý đến ngôn ngữ nguyên thủy đã bành trướng trong thời gian này. Tỉ như, Công Đồng Viena (1311) ra lệnh các đại học phải có môn cổ ngữ.
Có lẽ phong trào nổi tiếng trong thời Trung Cổ về nghiên cứu Kinh Thánh là Học Phái Kinh Viện. Các học giả vĩ đại của thời này, trong đó có Bernard ở Clairvaux, Albert Cả, Tôma Aquinas, và Bonaventura, tìm cách tổng hợp lý lẽ với đức tin. Học phái này nghiên cứu triết học và Luật Tự Nhiên trong ánh sáng lời Chúa. Thí dụ, Aquinas giải thích đức tin Kitô Giáo dưới ánh sáng hiểu biết của Aristotle với ý định chứng minh rằng Kitô Giáo là một đức tin hữu lý, và chân thật. Tuy nhiên, cũng có giá trị để nhận xét rằng Giáo Hội thận trọng chủ trương rằng bất kể giá trị của lý lẽ và triết học, cần có ơn sủng để đạt được đức tin, đức cậy, và đức ái. Đó là,người ta có thể lý luận để tìm ra sự thật qua các phương tiện tự nhiên, nhưng chỉ nhờ ơn siêu nhiên, người ta mới có thể tin và được cứu độ.
Thần học gia thời Trung Cổ dựa nhiều vào bài nhận định của các Giáo Phụ và họ thờ ơ với các cách dẫn giải mới và có sáng kiến. Các học giả tỉ như sử gia và thần học gia người Anh là Bede, Phê-rô Lombard, và Tôma Aquinas xuất bản các công trình là sự thu lượm các văn bản và ý kiến của các Giáo Phụ. Một học giả khác là thí dụ điển hình cho thời đại này khi ông viết, "Tốt hơn đừng mất thời giờ với các ý tưởng được cho là mới mẻ này, nhưng hãy ngập tràn với nguồn xưa cũ."[15]
Sự học hỏi Kinh Thánh cũng dựa nhiều vào ý nghĩa ngụ ý của Kinh Thánh. Thật vậy, trong con mắt nhiều người ngày nay, một số cách dẫn giải này dường như "giầu tưởng tuợng,”nếu không muốn nói là ngớ ngẩn. Mác-cô Holtz giải thích:
Nhờ bởi Hugh ở Victor (1090-1141), chúng ta được biết chiều dài của con tầu ông Nôe, 300 cubít, là dấu của Thánh Giá, vì con số 300 được tượng trưng là chữ "tau”(T) trong tiếng Hy Lạp, mà nó có hình dạng chữ thập. Rupert ở Deutz (1075-1129) nói cho chúng ta biết rằng câu trong sách Châm Ngôn (19,12), "Cơn giận của một ông vua thì giống như tiếng sư tử rống,”nói về Đức Kitô trên thập giá, vì sau đó Vua của các vua gào thét vào mặt Lũ Qủy.[16]
Chắc chắn, tối thiểu một số giải thích được đưa ra trong thời Trung Cổ có thể bị ngày nay gạt bỏ vì quá hăng say dùng đến ý nghĩa thiêng liêng. Tuy nhiên, nó cũng phản ánh sự tin tưởng sâu đậm của các thần học gia thời đại đó vào sự linh ứng của Kinh Thánh. Trái với sự chú giải tự do tân thời, họ có thể thấy Thiên Chúa là tác giả sau cùng của Kinh Thánh. Hậu quả là, ngay cả những câu trần tục nhất cũng thường được coi có giá trị thiêng liêng và đưa đến những giải thích có tính cách ngụ ý.
Trong thế kỷ 16, Giáo Hội phải đương đầu với những thử thách nghiêm trọng khi người Thổ Nhĩ Kỳ xâm lăng đến gần Vienna, và sự Cải Cách Tin Lành. Trên nhiều khía cạnh, Giáo Hội thấy tinh thần hăng say dần dà suy đồi kể từ thế kỷ 13. Các vấn đề này bao gồm sự thối nát trong hàng giáo sĩ, không đủ người dậy giáo lý cho giáo dân, và cuộc Đại Ly Khai thật tai tiếng, trong thời gian này hai giáo hoàng tự cho mình là đại diện hợp pháp của Thánh Phêrô-một ở Rôma và một ở Avignon, Pháp.
Giáo Hội đáp ứng với cuộc Cải Cách Tin Lành qua Công Đồng Trentô. Các giáo phụ của công đồng nhìn nhận lỗi lầm của Giáo Hội Công Giáo trong sự suy thoái luân lý và giảng dậy trong đời sống Kitô Hữu. Tuy nhiên, Công Đồng đã nhắc lại các học thuyết truyền thống để trả lời cho những cách chú giải Kinh Thánh mới của Tin Lành. Bộ Vulgate được tái xác nhận là không có sai lầm gì về đức tin và luân lý. Tính cách quy điển truyền thống của Vulgate cũng được duy trì, bao gồm những thư quy của Cựu Ước (được người Tin Lành gọi là "ngụy thư", họ tẩy chay những sách này không thuộc về chính lục). Quy điển này thường được Giáo Hội chấp nhận trong nhiều thế kỷ như được thấy hiển nhiên trong Công Đồng Hippo (393) và Carthage (397), và các công đồng khác. Tuy nhiên, Công Đồng Trentô không có lý do gì để hồ nghi, và mạnh mẽ dứt khoát xác định quy điển.
Trong Giáo Hội thời Cải Cách, việc nghiên cứu Kinh Thánh lại phát triển. Các Tư tế dòng Tên như Phê-rô Canisius, Robert Bellarmine, và Francisco Suarez là những thần học gia lỗi lạc nhất. Việc học ngôn ngữ nguyên thủy lại tiếp tục gia tăng. Tỉ như, Thomas More khẳng định, "Làm thế nào có thể biết thần học nếu không biết tiếng cổ Do Thái và Hy Lạp và Latinh?"
Việc tẩy chay quyền bính Giáo Hội bùng nổ trong thời Cải Cách đã mở cửa cho các phương cách tiếp cận có tính cách phê phán và hoài nghi đốivới Kinh Thánh. Trong giai đoạn Hậu Khai Sáng, trong các thế kỷ 17 và 18, các học giả Kinh Thánh Tin Lành tự do bắt đầu tẩy chay tính cách không thể sai lầm của văn tự trong Kinh Thánh. Trong thế kỷ 19 phương pháp phê bình-lịch sử đối với Kinh Thánh chiếm ưu thế, nó nghiên cứu Kinh Thánh trong ánh sáng của các tiến trình lịch sử mà trong đó được viết xuống. Các học giả phái phê bình-lịch sử chịu ảnh hưởng của Hegel và các nhà tư tưởng hiện đại khác. Hậu quả là họ tìm hiểu Kinh Thánh với những phỏng đoán duy lý và tự nhiên, theo đó bất cứ biến cố siêu nhiên nào trong Kinh Thánh đều được giải thích là sản phẩm của thần thoại.
Các phương pháp của những người duy lý bị Giáo Hội lên án khi lịch sử bước sang đầu thế kỷ 20. Thí dụ, thông điệpProvidentissimus Deus(1893) của ĐGH Lêô XIII mạnh mẽ tẩy chay thái độ từ chối chân lý và từ chối tính cách linh ứng của Kinh Thánh, ngài coi đó là lạc giáo và thiếu nền tảng đức tin, trong khi khuyến khích người Công Giáo hãy nghiên cứu. Năm 1943, ĐGH Piô XII viết thôngđiệp Divino Afflante Spiritu, để kỷ niệm năm mươi năm ngày ban hành thông điệp Providentissimus Deus. Đức thánh cha viết rằng khoa phê bình văn học đã phát triển đến mức nó có thể được dùng để nghiên cứu Kinh Thánh một cách an toàn mà không phương hại đến ý nghĩa đích thật của Kinh Thánh. Người cũng khuyến khích các học giả Kinh Thánhhãy theo sát các cuộc nghiên cứu về khảo cổ học, văn hóa, và lịch sử để hiểu biết hơn về văn tự của các văn gia trong Kinh Thánh.
Trong các văn kiện của Công Đồng Vatican II,Dei Verbum(Lời Chúa) là một trong những văn bản hay nhất. Văn kiện này tóm lược lập trường của Giáo Hội Công Giáo về sự Mặc Khải của Thiên Chúa. Nó tái khẳng định kho báu vĩ đại mà Kitô Hữu đang có trong Kinh Thánh, giá trị không thể lường được của Kinh Thánh để dậy bảo chân lý và giúp chúng ta đi theo Chúa Kitô. Nó cũng dậy rằng cáchình thức văn chương, các khung cảnh lịch sử, và các "yếu tố nhân bản”khác phải được lưu ý trong việc học hỏi Kinh Thánh. Ảnh hưởng mạnh trong việc hình thành Dei Verbum là Sancta Mater Ecclesia (Mẹ Giáo Hội Thánh Thiện), được công bố bởi Ủy Ban Kinh Thánh năm 1964. Tài liệu này đưa ra sự hiểu biết của Công Giáo về các Phúc Âm, nhấn mạnh đến tính cách lịch sử và sự liên quan với các truyền khẩu của tông đồ.
Buồn thay, chúng ta phải than thở rằng trong thời hậu công đồng Vatican II, nhiều người trong Giáo Hội đã làm sái lệch ý định đích thực của công đồng để cổ vũ nhiều điều thường bị Giáo Hội lên án công khai. Tỉ như việc giải thích các phép lạ trong Kinh Thánh chỉ là thần thoại và chấp nhận phương cách phê bình-lịch sử một cách không hạn chế (hoàn toàn bỏ qua thông điệpProvidentissimus Deus,Divino Afflante Spiritu, và toàn thể truyền thống dẫn giải Kinh Thánh của Giáo Hội). Có rất nhiều câu chuyện của các giáo dân bị bối rối khi nghe giảng rằng ma qủy chỉ là "sự giải thích những xáo trộn tâm lý của thế kỷ thứ nhất,”hoặc phép lạ của Chúa Giêsu là huyền thoại được cộng đồng Kitô Hữu tiên khởi dựng nên sau này.
ĐGH Gioan Phaolô II cùng với ĐHY Ratzinger (khi còn là Trưởng Thánh Bộ Tín Lý) từ từ nhưng bền bỉ đưa giáo hội trở về con đường nguyên thủy được các Giáo Phụ của Công Đồng Vatican II đề ra. Sách Giáo Lý Công Giáo mới, được phát hành năm 1994, chứa đựng một đoạn tuyệt diệu về Kinh Thánh. Sách Giáo Lý trình bầy học thuyết chính thống của Công Giáo và có một giá trị vô giá để giúp dẫn dắt Giáo Hội trong những năm sắp tới. Ngoài ra sách này còn có một đoạn phi thường về sự mặc khải của Thiên Chúa, trong đó diễn tả bốn ý nghĩa của Kinh Thánh. Hành động này được nhiều người giải thích: rõ ràng là Vatican xác nhận giá trị của quan điểm truyền thống về Kinh Thánh.
Một văn kiện then chốt khác là "The Interpretation of the Bible in the Church”(1993) của Ủy Ban Kinh Thánh. Trong khi văn kiện này duy trì việc sử dụng phương cách phê bình-lịch sử đối với Kinh Thánh như một phương tiện để hiểu biết ý nghĩa Kinh Thánh chính xác hơn trong ánh sáng của khung cảnh lịch sử, văn hóa mà nó được viết ra, tài liệu này cảnh giác những nguy hiểm có thể xảy ra từ phương pháp này, nhất là khi nó được dùng để loại trừ sự dẫn giải có tính cách thiêng liêng. Tài liệu này tái xác nhận rằng sự dẫn giải Kinh Thánh không chỉ là công việc của các học giả. Đúng ra,Kinh Thánh là lời tích cực, sống động của Thiên Chúa, chủ yếu sống trong tâm hồn của các phần tử Giáo Hội.
Chắc chắn sẽ là điều ngây thờ và quá lạc quan khi nói rằng Giáo Hội Công Giáo đã thoát ra khỏi tình trạng buồn chán của giai đoạn hậu công đồng. Tuy nhiên, người tín hữu Công Giáo nhìn đến tương lai với đầy hy vọng, tin vào quan điểm của ĐGH Gioan Phaolô II rằng Giáo Hội đang có sự quân bình ở đầu một mùa xuân mới-một mùa hoa mà chắc chắn bao gồm sự nhấn mạnh đến việc canh tân học hỏi Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội.
6. Khác biệt việc đọc Kinh thánh trong Giáo hội Công giáo và tin lành
Đối với Giáo hội Công giáo
Đối với Công giáo, giáo huấn chính thức của Giáo hội bảo đảm cho việc diễn giải đúng Kinh thánh. Đường hướng diễn giải các sách ngôn sứ và các Tông đồ phải "phù hợp với ý nghĩa giáo hội và công giáo”(Vincent de Lérins). Do đó, Giáo hội phải kiểm soát mọi sự diễn giải để tránh lạc giáo và gìn giữ kho tàng đức tin.
Dù với ý định này, giáo huấn của Giáo hội không chỉ giới hạn trong giáo huấn của các tông đồ. Các giáo lý đã dần được thêm vào thông điệp tông đồ; các thực hành sinh ra và được Giáo hội biện minh, mà không được các tông đồ dạy. Chúng ta có thể nghĩ, thêm vào đó, về vai trò của Đức Trinh nữ và các thánh trong việc thờ phượng và lòng đạo đức. Một thói quen sử dụng phương pháp phúng dụ đã cho phép tìm thấy trong Kinh Thánh các giáo huấn không rõ ràng. Giáo hội Công giáo thường dùng đến các lý lẽ "tương hợp": một giáo lý không được giảng dạy rõ ràng trong Kinh thánh, nhưng nó phải được suy luận từ giáo huấn của các tông đồ. Do đó, quan niệm vô nhiễm về Đức Maria không được đề cập trong Kinh thánh. Nhưng thật phù hợp khi nghĩ rằng Mẹ Thiên Chúa đã được thụ thai mà không phạm tội.
Ngày nay, người Công giáo có nhiều người tự do hơn để đọc Kinh thánh. Nhưng trong một thời gian dài, việc diễn giải Kinh thánh bị hạn chế bởi giáo điều. Như trong Do Thái giáo, một truyền thống được ghép trên bản văn Kinh thánh, đến nỗi Kinh thánh không còn thể hiện ý nghĩa một cách độc lập.
Đối với Giáo hội Cải cách
Đối với giáo hội cải cách, họ chủ trương trả lại cho Kinh thánh một vị trí trung tâm và thẩm quyền không bị chia sẻ trong Giáo hội. Đặt dưới thẩm quyền của Kinh thánh có nghĩa là để Kinh thánh tự do nói với chính mình. Nói cách khác, phấn đấu trên tất cả để hiểu những gì Kinh thánh đang nói trong thực tế của cuộc sống. Nghĩa đen là một trong những vấn đề. Do đó họ đi đến việc nghiên cứu nghiêm túc về bản văn, dựa trên ngữ pháp, lịch sử, bối cảnh. Luther và Calvin là những nhà chú giải đáng chú ý về Kinh thánh.
Tính ưu tiên của nghĩa đen đi đôi với nguyên tắc sáng tỏ của Kinh Thánh. Điều này có nghĩa là bản chất của thông điệp Kinh thánh, và đặc biệt là Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô, có thể tất cả các độc giả chân chính, không chỉ là chuyên gia ngôn ngữ Kinh thánh hay nắm vững phép phúng dụ, có thể được truy cập. Không còn nghi ngờ gì nữa, vẫn còn những đoạn văn tối nghĩa. Họ yêu cầu được giải thích, nhưng có thể được giải thích bằng chính Kinh thánh, dưới những đoạn văn có ý nghĩa rõ ràng. Ngoài ra, các tín hữu tin lành có thể tin tưởng vào chứng nhân nội tại của Chúa Thánh Thần, qua đó Thiên Chúa mặc khải qua Kinh thánh. Theo giáo hội Cải cách, mọi Kitô hữu đều có thể hiểu Kinh Thánh.
Chính Chúa Giêsu Kitô, như trung tâm của thông điệp Kinh thánh, là Đấng cho chúng ta chìa khóa để hiểu toàn bộ Kinh thánh. Cựu Ước loan báo Chúa Kitô, Tân Ước tuyên bố điều này. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên dùng phương pháp phúng dụ để tìm thấy Thiên Chúa trong mỗi trang của Cựu Ước. Phương pháp "hình dung học”an toàn hơn. Chúa Kitô là kho báu ẩn giấu, viên ngọc quý giá của Cựu Ước.
7. Thế nào là phê bình Kinh thánh?
Từ thế kỷ XIX, các nhà thông thái đã tìm cách nghiên cứu Kinh Thánh bằng cách sử dụng các khoa học thế tục, như đối với các cuốn sách khác. Do đó, phê bình Kinh Thánh (theo nghĩa khảo sát) là ứng dụng vào Kinh thánh các nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ học, khảo cổ học, v.v. Thay vì chấp nhận các quan điểm truyền thống liên quan đến tác giả, niên đại của sách, v.v.
Người ta phải đặt lại mỗi câu hỏi và trả lời với sự trợ giúp thông tin khách quan được cung cấp bởi lịch sử, văn học, v.v., Kinh Thánh hay không. Nghiên cứu này đã cho phép tiến bộ lớn trong kiến thức Kinh Thánh. Nhưng công việc này cũng có một số hậu quả ít tốt đẹp. Người ta bắt đầu đọc Kinh thánh với ít quan tâm đến việc lắng nghe Lời Chúa hơn là có những kiến thức trí tuệ.
Người ta đã đánh mất sự thống nhất của thông điệp Kinh Thánh để nghiên cứu từng tác giả hoặc cuốn sách một cách riêng biệt, ngay cả họ đối lập các sách với nhau. Thông điệp Kinh Thánh phụ thuộc vào khoa học của con người, bỏ ra ngoài bất cứ điều gì không phù hợp với quan niệm con người đương đại về sự thật (ví dụ, họ tìm nỗ lực giải thích một cách tự nhiên các phép lạ hoặc nghi ngờ chúng).
KẾT LUẬN
Các xu hướng khác nhau đã xuất hiện trong quá khứ tiếp tục tồn tại ngày nay. Không mong muốn, chúng ta thường đọc Kinh Thánh giống như một trong những trường phái diễn giải được đề cập ở trên. Khi chúng ta tự hỏi: "Có thể cho phép một Ki-tô hữu làm điều đó không?", Chúng ta có thể trả lời theo cách của các kinh sư. Hoặc, để tìm ý nghĩa trong một đoạn khó, chúng tôi dùng phương pháp phúng dụ. Bất cứ khi nào gỗ được đề cập trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy thập giá của Chúa Kitô chẳng hạn.
Chúng ta có vài nguyên tắc phải tuân theo để có một diễn giải Kinh Thánh lành mạnh và đúng thánh ý?
a) Chúng ta tự hỏi tác giả thực sự muốn nói điều gì. Điều này ngụ ý một chú giải tốt. Nghĩa đen, nghĩa đầu tiên luôn mang tính quyết định.
b) Chúng ta diễn giải Kinh thánh bởi Kinh thánh. Ngay cả các tác giả Kinh Thánh trình bày thông điệp Thiên Chúa từ các góc độ khác nhau, không thể có mâu thuẫn cơ bản giữa các bản văn Kinh thánh. Ngược lại, có thể có một sự tiến triển. Người ta không thể yêu cầu mọi trang trong Cựu Ước chứa đựng toàn bộ Tin Mừng. Các tổ phụ đã hiểu một số điều chính yếu: sự cần thiết của đức tin, sự trung tín của Thiên Chúa với lời hứa của Ngài, nhưng họ ứng xử như những con người của thời đại họ, và không phải là Kitô hữu, ít nhất là trong một số lĩnh vực nào đó. Hơn nữa, Phao-lô cho chúng ta thấy rằng lề luật đóng vai trò “sư phạm”đã được thay thế bằng sự hiểu biết về Chúa Giê Su Ki-tô (Gl 4).
c) Chúng ta diễn giải Kinh Thánh "một cách Ki-tô học”- vì chính trong Chúa Kitô, thánh ý của Thiên Chúa được mặc khải đầy đủ cho chúng ta. Điều này không có nghĩa là nhìn thấy Chúa Kitô trong mọi nhân vật của Cựu Ước, nhưng để hiểu rằng tất cả sự mặc khải được sắp đặt cho sự xuất hiện của Chúa Kitô. Điều này ngụ ý, trong số những điều khác, Chúa Giêsu là "Lời cuối cùng của Thiên Chúa". Những gì Đức Ki-tô mặc khải cho chúng ta về Thiên Chúa là tuyệt đối chính xác. Đối lập Ngài với một phong tục hay giới răn của Giao ước cũ là một lỗi nghiêm trọng. Kinh thánh là sách mặc khải. Kinh thánh cho chúng ta thấy chương trình của Thiên Chúa đã được hoàn thành như thế nào trong dòng lịch sử. Nhưng chính sự mặc khải trọn vẹn trong Chúa Kitô đã soi sáng toàn bộ.
d) Chúng ta phải sử dụng cẩn thận phương pháp “hình dung loại “(typologie). Trong Cựu Ước, có những hình dung loan báo Chúa Giêsu Kitô, bởi vì hành động của Thiên Chúa được thể hiện theo những dòng quyền năng nào đó, có thể được thấy trong những tình huống rất khác nhau. Phương pháp "typologie”là một phần của các suy nghĩ của những con người của Kinh thánh. Người ta có thể thiết lập một song song minh chứng giữa biên cố Xuất hành và sự cứu độ trong Chúa Kitô. Trong cả hai trường hợp, Thiên Chúa can thiệp để cứu chuộc dân Ngài, hành động cứu chuộc của Ngài đã mang lại kết quả cho một Giao ước giữa Thiên Chúa và loài người. Vì thế thánh Phao-lô gọi Đức Kitô là "Lễ Vượt Qua của chúng ta". Vua David, tương tự, là một hình dung ngôn sứ của Chúa Giêsu. Một số thánh vịnh liên quan đến nhà vua, David hoặc hậu duệ, chỉ tìm thấy ý nghĩa đầy đủ trong Chúa Kitô.
e) Chúng ta tránh các phúng dụ dễ dàng, có thể làm cho Kinh thánh nói bất cứ điều gì chúng muốn.
f) Chúng ta cũng tránh sự thu hẹp của chủ trương diễn giải theo nghĩa chữ, nghĩa làm cho chúng ta không thể thừa nhận rằng Chúa có thể nói bằng hình ảnh, bằng các biểu tượng, khi Kinh thánh sử dụng các tiến trình văn chương trong thời gian sách được soạn thảo.
g) Trên tất cả, chúng hãy sẵn sàng đón nhận Lời Chúa, nhờ chúng cứ nội tại của Chúa Thánh Thần. Chúng ta không đọc Kinh thánh để biết kiến thức hoặc để chứng minh rằng chúng ta có lý nhưng để nghe những gì Chúa nói với chúng ta. Đọc Kinh thánh giống như đọc một lá thư từ một người thân yêu.
Khi chúng ta nghe một bản nhạc thâu băng, chúng ta nghe một bản ghi âm, chúng ta nghe thấy một số tiếng ồn ào, vô tình. Tuy nhiên, chính giọng hát của ca sĩ phải được lắng nghe. Cũng vậy, chính Chúa nói với chúng ta trong Kinh thánh. Ngài nói chuyện với chúng ta thông qua các tác giả con người. Nhưng chính đó là giọng nói của Thiên Chúa mà chúng ta phải lắng nghe.
GIỚI THIỆU CỰU ƯỚC
Khảo sát dẫn nhập môn Kinh Thánh không cho phép chúng ta dấn thân vào một nghiên cứu chi tiết về tất cả các sách của Cựu Ước. Nhưng khi để mắt đến các sách Cựu Ước, chúng ta tự hỏi nội dung của sách là gì, tại sao sách được viết và ai đã viết cuốn sách, để giúp mọi người đào sâu kiến thức về Cựu Ước để khi họ có dịp đọc lại với một sự hiểu biết tốt hơn.
DẪN NHẬP: LỀ LUẬT VÀ NGÔN SỨ
Nhiều lần trong Tân Ước, chúng ta thấy cụm từ "Lề luật pháp và Ngôn sứ” được sử dụng bởi Chúa Giêsu hoặc các Tông đồ (Mt 5,17; 7,12; 22,40; Lc 16,16, Công vụ 13,15; 24,14; Rm 3,21). Diễn đạt này chỉ định hai phần của Cựu Ước, lần đầu tiên được người Do Thái công nhận là Kinh thánh (nên nhớ rằng "các Ngôn sứ”không chỉ có các sách Ngôn sứ trong thư quy Công giáo, mà theo thư quy Do thái, chúng ta có tiền Ngôn sứ (các sách lịch sử) và hậu Ngôn sứ ".
Phần thứ ba của Kinh thánh Do Thái không được công nhận ngay thời Đức Ki-tô là sách linh hứng. Vào thời này, vẫn còn hiện hữu các cuộc thảo luận về thẩm quyền thiêng liêng của một số "tác phẩm”này, chẳng hạn như sách Diễm ca. Mãi đến năm 90 sau Đức Ki-tô, một quyết định chính thức được đưa ra liên quan đến thư quy Cựu Ước tại Hội đồng Jamnia của Do Thái. Nhưng trong thực tế, thẩm quyền của hầu hết các "tác phẩm”đã không bị nghi ngờ ngay thời kỳ Kitô giáo. Cựu Ước của Chúa Giêsu cũng giống như chúng ta hôm nay. Tuy nhiên, thông thường họ vẫn dùng cụm từ "Lề luật và các Ngôn sứ” để chỉ định toàn bộ Kinh thánh.
Chúng ta sẽ nhắc lại ở đây vấn đề "thư quy”Cựu Ước
Thẩm quyền của Lề luật (năm cuốn sách của Mô-sê) là lâu đời nhất và được công nhận rộng rãi nhất. Đối với những người Sa-đu-sê-en, Torah (Lề luật) có thẩm quyền lớn hơn các sách khác. Đối với người Samari, họ chỉ công nhận linh hứng Ngũ thư.
I. Ngũ thư
1. Các sách Torah
Trong truyền thống Rabinic[15], từ Tôrâh gồm năm cuốn sách đầu tiên của Thánh Kinh Do Thái và kết thúc với cái chết của ông Mô-sê (Đnl 34), bộ sách mang tên chung là Tôrâh,Sách lề luật(Le livre de la Loi), hoặcLề luật Mô-Sê (la Loi de Moïse), hoặc gọi một cách thu gọn,Sách Lề Luật(La Loi).
Các Giáo phụ, chẳng hạn như Tertullien (150-160/220, Carthage, Tunisie, nhà thần học lớn đầu tiên trong ngôn ngữ La Tinh), Origène (185/253, Alexandrie, cha đẻ chú giải KT, nhà thần học, theo lời của hồng y Gio-an Danielou, ngài là thiên tài giỏi nhất của Thiên Chúa Giáo cùng với thánh Âu-gút-ti-nô), có lẽ theo truyền thống lâu đời, có thể từ lúc Kinh Thánh tiếng Hippri, được dịch sang tiếng Hy Lạp, trong bản 70 (La Septante), đã gọi tên bộ sách này là Pentateuque, Ngũ Kinh hay Ngũ Thư trong tiếng việt. Từ ngữPentateuque, đến từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa đen là 5 túi, nghĩa là sách 5 cuộn hay 5 tập (volume).
Đối với người Do Thái, họ lấy từ ngữ đầu tiên mỗi bản văn để đặt tên cho sách, như thế chúng ta có:
Cuốn thứ nhất,Bereschith: Lúc khởi đầu (Au commencement);
Cuốn thứ hai,Veelléschemoth: Sau đây là tên (Et ce sont ici les noms);
Cuốn thứ ba,Vajjikera: Và ngài đã gọi (Et il appela);
Cuốn thứ tư,Vajedabber: Và ngài phán (Et il dit); họ cũng gọi sách này làBammidbar: trong sa mạc (Dans le désert), tên gọi đến từ nội dung của sách;
Cuốn thứ năm,Elléhaddevarim: Đây là những lời (Ce sont ici les paroles), đôi khi cũng được gọi:Mischné-hatthora: Nhắc nhở hay thực tập lề luật (Répétition de la loi).
Các dịch giả Hy Lạp (72 người) thành Alexandrie đã đặt tên cho các cuốn này theo nội dung của sách trong bản 70 (La Septante, 270 trước Giê-Su Ki-Tô, hay trước Công Nguyên):
Genesis, có nghĩa là nguyên thủyorigine, và trong tiếng việt sách Sáng Thế;
Exodos, có nghĩa là Ra đisortie, sách Xuất Hành;
Levitikon, có nghĩa là cuốn sách anh em nhàLê-vi, sách Lê-vi;
Arithmoi, có nghĩa là Sốnombres, vì sách bắt đầu bằng việc kiểm tra dân số, sách Dân Số;
Deuteronomion, có nghĩa là Luật thứ hai (seconde loi), sách Đệ nhị luật.
- Các giáo phụ ít khi dùng từpentateuque, các ngài dùng cụm từ "sách Lề luật", hoặc "sách Lê luật của Mo-sê”đối chiếu với "Ngôn sứ", như những người Do thái và Tân Ước đã dùng.
Có nhiều bản văn cổ xưa cũng nhắc đến 5 cuốn sách lề luật. Và có lẽ trong các văn bản của Cum-ran, chúng ta có thấy viết trên một mảng văn cụm từ như sau:kwl [s]prym hwmšym, chúng ta tạm dịch như sau: tất cả sách của Ngũ Thư. Chúng ta cũng đọc thấy việc phân chia thành 5 cuốn sách trong bộ thánh vịnh của Kinh Thánh híp-ri: Tv 1-41; 42-72; 73-89; 96-106; 107-150. Có lẽ, người Do thái xem các thánh vịnh là những suy gẫm về 5 cuốn sách Tora (Lề luật). Tv 1,2: "nhưng vui thú với lề luật CHÚA, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày".
- Tin mừng thánh Mát-thêu có 5 diễn văn kết thúc với biểu thức gần giống nhau (Mt 7,28; 11,1; 15,53; 19,1; 26,1). Trước mắt Mát-thêu, Đức Giê-su là Mô-sê mới, và Tin mừng của Ngài như mà một Ngũ thư mới. Tin mừng của Mát-thêu khởi đầu vớibiblos geneseôs"sách gia phả", tương đương với St 2,4 và 5,1 trong bản LXX.
- Những lời đầu tiên của Tin Mừng theo thánh Gio-an,en archèicũng là những lời đầu của sách đầu tiên của Ngũ thư phiên bản LXX, cũng chuyển dịch từ Kinh thánh Do thái beresit.
- Philon, văn sĩ Do thái viết tiếng Hy lạp, trước khi các Tin Mừng ra đời, đã viết rằng cuốn sách đầu tiên của 5 cuốn sách chứa đựng các lề luật thánh được gọi là "Genèse”do chính Mô-sê.
- Từ Đệ nhị luật được bản LXX dịch từ cụm từmisneh hattorah(Đnl 17,18), "một bản chép lại của Tora, nhà vua phải có và đọc mỗi ngày.
- Khoảng cuối thế kỷ thứ 1 sau CN, Flavius Josèphe nói rõ rằng "5 cuốn sách của ông Mô-sê” trong một đoạn văn củaContre Apion, I, VIII, 37-41.
Các chứng cứ vừa nói trên xác định chúng ta biết rằng xung quanh thời gian ra đời của Đức Ki-tô, truyền thống Do thái đã thiết lập 5 cuốn sách đầu của Kinh Thánh là các sách nền tảng của lề luật, và đó là tác phẩm của Mô-sê. Thẩm quyền của Tora cao hơn các sách gán cho các Ngôn sứ.
2. Ý nghĩa của từ Torah
a) Như đã nói đến trong phần trên, từ hy-lạp penta teuce có nghĩa đen là 5 túi hay 5 cuộn sách xếp trong 5 túi. Nhưng trong tên gọi tiếng Do Thái, trong từ điển Hipri-tiếng Pháp, tôrâh có nhiều nghĩa:enseignement, directive, loi. Chúng ta có thể dịch ra trong tiếng việt như sau: giảng dạy, chỉ thị hay nghị định, lề luật.
Khi chúng ta xem xét nội dung văn chương của Ngũ thư-Tôrâh, chúng ta thấy bộ sách này chứa đựng các bộ luật quan trọng:
- Xh 20, 22 - 22, 30: bộ luật giao ước (le code de l’alliance)
- Lv 17-26 hay toàn bộ sách Lê-vi: bộ luật về sự thánh thiện (la loi de sainteté)
- Đnl 12-16: Đệ nhị luật
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy trong Ngũ Thư có những tập hợp các tường thuật đáng kể. Như thế chúng ta có thể kết luận rằng tường thuật và lề luật được tập hợp trong bộ sách được Thánh Kinh Do Thái đặt tên là Tôrâh.
b) Để các bạn hiểu sâu hơn, chúng ta sẽ thực hiện một tìm kiếm theo phương pháp ngữ nguyên học (étymologie) của cách sử dụng từ này trong Thánh Kinh Do Thái.
- Wilhem Gesenius, một chuyên gia ngữ học và đông phương học người Đức (1786/1842), đã cho rằng từ Tôrâh đến từ căn gốc của động từ nguyên thủyyârâhcó nghĩa làném, phóng(jeter, lancer) trong thể chủ độngqal.
- Julius Wellhausen, nhà thần học tin lành người Đức (1844/1918), cha đẻ lý thuyết « bộ tài liệu JEDP » cấu trúc bộ sách Ngũ Thư, cũng đồng ý rằng từ Tôrâh với động từyârâhnhưng ở thể Hiphil, thể chủ động liên quan đến một nguyên nhân (ví dụ, ở thể chủ độngqal, chúng ta nói,tôi ném, hay tôi phóng… nhưng ở hiphil, có nghĩa làtôi gây ra việc ném đi hay tôi là nguyên nhân việc phóng đi..)
- Giả thuyết nguyên ngữ học thứ ba cho rằng từ Tôrâh là phiên bản tiếng hipri của từ tertu trong ngôn ngữakkadien, đến từ căn gốc động từ waru:donner des ordre, des instructions, envoyer un message(hạ lệnh, cho những chỉ thị, gởi một thông điệp).
c) Chúng ta tìm thấy 220 từ Tôrâh trong cuốn Thánh Kinh Hipri (Do Thái), 44 chữ trong bộ sách Ngôn Sứ, 22 trong Đệ Nhị Luật, 44 trong các sách Biên Niên Sử, Ét-ra, Nơ-khe-mi-a.
Từ Tôrâh được dùng trong các bản văn rất biểu tượng của Thánh Kinh.
- Ml (Malakhi) 3,22: «Hãy ghi nhớ lấy luật Môsê, tôi tớ của Ta - mà Ta đã truyền cho nó ở Khoreb - luật điều và phán quyết dạy cho tất cả Ít-ra-en».
- Nk (Na-khum) 13,1; Er (Et-ra) 6,18; 2Sb 25,4.
Từ Tôrâh là chìa khóa diễn giải mà quy chiếu tất cả các bản văn khác của Kinh Thánh.
Ý nghĩa từ Tôrâh dùng trong sách Đệ Nhị Luật khai sáng cho chúng ta: Đnl 1,5…
Theo sách Đnl, từ ngữ Tôrâh không những có ý chỉ toàn bộ lề luật, nhưng cũng có ý nghĩa một giảng dạy, giảng dạy của Thiên Chúa dành cho dân Ngài, giảng dạy lịch sử cho Dân Thiên Chúa.
Torah là nền tảng của cuộc sống và đức tin của Ít-ra-en. Nói cách khác, Torah hình thành hiến pháp của dân Thiên Chúa; Torah cho thấy cách thức và lý do tại sao dân tộc này đã nhận từ Thiên Chúa sự hiện hữu của Ngài và cách Ngài phải sống trong thế giới giữa các dân tộc khác. Sự pha trộn giữa những tường thuật và lề luật là một trong những đặc điểm nổi bật của Ngũ thư nhắc nhở Ít-ra-en rằng sự vâng phục Thiên Chúa là câu đáp trả mà họ phải dành cho Thiên Chúa, Ngài đã yêu mến họ trước tiên (Xh 20,2-3).
3. Sách Sáng thế
Sáng thế là cuốn sách khởi đầu đầu hoặc sách các nguồn gốc. Chương 1 đến chương 11 nói về sự khởi đầu của thế giới và nhân loại, làm thế nào Thiên Chúa tạo ra thế giới và giao phó trái đất cho con người "tạo ra với hình ảnh của mình"; Làm thế nào con người đã không vâng lời Thiên Chúa kéo theo án phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa tuy trừng phạt sự gian trá của con người (deluge) đã cho họ một tương lai: Giao ước với Nô-ê, bao gồm lời hứa sẽ không hủy diệt trái đất (9,11).
Từ chương 12, sách nói về nguồn gốc của Ít-ra-en: Làm thế nào Thiên Chúa gọi Áp-ra-ham và lập giao ước với ông, cho anh ta lời hứa một đất nước và một hậu duệ. Những thăng trầm lịch sử các tổ phụ chỉ góp phần xác nhận sự trung thành của Thiên Chúa với các lời hứa của Ngài. Những tường thuật lịch sử đến với chúng ta hôm nay không được chọn theo chức năng của tầm quan trọng chính trị hay giá trị đạo đức của họ, nhưng vì vị trí của chúng trong chương trình của Thiên Chúa. Những gì có gia trị ở đây, là việc tuyển chọn tự do của Thiên Chúa, Ngài kêu gọi những ai Ngài muốn (Áp-ra-ham, sau đó là Gia-cóp) và các lời hứa mà Thiên Chúa cam kết, khi lập giao ước với Áp-ra-ham và hậu thế của ông; đó cũng là về phần con người, đức tin của Áp-ra-ham đã đón nhận lời hứa và đặt cược tất cả kinh nghiệm và hiện hữu của ông trên Lời Thiên Chúa.
4. Sách Xuất hành
Sách Xuất hành là xứng đáng được gọi là sách Giao ước, trong đó có bộ luật Giao ước. Nếu Thiên Chúa kêu gọi dân Ít-ra-en tham gia vào giao ước của Ngài, bởi vì Người đã mặc khải chính Ngài đã giải thoát họ. Nếu không có sự giải thoát kỳ diệu của Thiên Chúa cho họ khỏi ách nô lệ, sẽ không bao giờ có dân tộc Ít-ra-en. Sự cứu chuộc Ít-ra-en, thoát khỏi nô lệ của Ai Cập, là sự kiện vĩ đại tạo nền tảng cho hiện hữu của Ít-ra-en. Khi cử hành lễ Vượt qua, dân tuyển chọn sẽ luôn nhớ đến biến cố này.
Từ chương 19, chủ đề chính là Giao ước. Nếu Thiên Chúa đã đưa dân tộc của Ngài ra khỏi Ai Cập, là để dân tộc này thuộc về Ngài, gắn bó với Ngài và trở thành một quốc gia thánh, nghĩa là được thánh hiến cho Thiên Chúa, ở giữa các dân tộc khác. Do đó, Thiên Chúa lập giao ước với Ít-ra-en trên núi Sinai. Phần của Ít-ra-en trong Giao ước là tuân theo luật thiêng thánh. Lề luật mô tả sự hiện hữu quốc gia xã hội, tôn giáo và đạo đức của dân thánh, của dân Thiên Chúa. Rất nhanh chóng, giai đoạn bê vàng phá vỡ hiệp ước ký kết với Thiên Chúa, nhưng Ngài tha thứ và lập một Giao ước mới.
Một chủ đề khác của sách Xuất hành là hành trình trong sa mạc. Sách Xuất hành cho biết làm thế nào Thiên Chúa dẫn dắt và bảo vệ một dân tộc cứng đầu. Lều tạm tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa với Ít-ra-en. Sụ mô tả và xây dựng Lều tạm chiếm một phần lớn trong sách Xuất hành.
5. Sách Lê-vi
Sách Lê-vi chủ yếu là một bộ sưu tập các lề luật. Một phần lớn các luật này liên quan đến chức tư tế và các hy lễ. Đây chính là sự thờ phượng của dân được tuyển chọn và do đó cách thức thờ phượng được quy định.
Nhưng sự thờ phượng không bao giờ tách rời khỏi cuộc sống đối với Kinh Thánh. Các luật khác xử lý các hành vi của toàn dân, đời sống cá nhân và xã hội của người Ít-ra-en. Có những luật liên quan sự thuần khiết và không thuần khiết (chương 8-10). Một số luật có thể được biện minh với các lý do vệ sinh, nhưng chúng cũng có một giá trị biểu trưng: để tiếp cận với Thiên Chúa, con người phải cẩn thận để không ở trong tình trạng không thanh sạch. Thiên Chúa là thánh: chúng ta không được xem nhẹ vấn đề. Sự thánh thiện của Thiên Chúa thường được nhấn mạnh trong sách Lê-vi: luật điều khiển tất cả hành vi các tín hữu, ngay cả trong quan hệ của họ với những người khác (ví dụ Lê-vi 19,1-18).
Giới tư tế được tách biệt (chương 8-10) và nghi thức hy tế (chương 1-7 và 16) cũng ra từ sự thánh thiện của Thiên Chúa. Sự chuộc tội bằng máu lễ hy tế (xem ch. 16 và 17,11) sẽ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của cái chết của Chúa Giêsu.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi một số lề luật và nghi thức của Luật Mô-sê đặt song song trong các tôn giáo khác và các luật đương thời. Thiên Chúa không cần phát minh ra các nghi lễ tôn giáo hoàn toàn mới. Ngài đã sử dụng các nghi lễ hiện có, có thể được dân Ngài hiểu (như các hy tế) và mang lại cho họ một ý nghĩa mới.
6. Sách Dân số
Sách Dân số chứa các lề luật và các tường thuật lịch sử. Chủ đề của các tường thuật, chính là giai đoạn hành trình trong sa mạc. Sau cuộc kiểm tra dân số, sự cung hiến Lều tạm và mừng lễ Vượt qua (chương 1 đến 9), dân rời Sinai để đến vùng đất hứa. Nhưng các cuộc nổi dậy, những lời xì xào và nhất là sự thiếu tin tưởng vào Thiên Chúa (khi họ gửi các do thám đến Kadesh, chương 13 và 14) làm kéo dài hành trình ngang qua sa mạc. Thất bại không phải là vĩnh viễn, bởi vì Thiên Chúa, nếu Ngài trừng phạt dân của Ngài, vẫn tiếp tục hướng dẫn và dẫn dắt họ, cho họ chiến thắng kẻ thù (20-25). Chương 33 và 34 tóm tắt các giai đoạn hành trình trong sa mạc và phác thảo các ranh giới của đất nước.
7. Sách Đệ nhị luật
Từ này có nghĩa là "luật thứ hai”nên chúng ta gọi là Đệ nhị luật. Trên thực tế, đó là một giải trình thứ hai của lề luật, nhân bài diễn văn của Mô-sê gởi cho dân trước khi vào vùng đất hứa. Mô-sê nhớ lại con đường đã đi qua. Xuất hành, quà tặng Lề luật, thử thách sa mạc và chiến thắng kẻ thù. Ông đổi mới lời hứa chinh phục đất nước. Nhưng trên hết, ông muốn vạch rõ ý nghĩa những sự kiện này, mọi hành vi Ít-ra-en phải dựa trên ân sủng và sự trung tín của Thiên Chúa (chương 4 đến 11). Giao ước và lề luật chứa trong đó một chúc lành cho Ít-ra-en - nếu dân vẫn luôn trung thành; nếu không, các chúc phúc sẽ trở thành lời nguyền (Ch 11,29 và 30). Mỗi thế hệ phải tái tạo mới Giao ước. Chương 12 đến 26 lấy lại một số lượng lớn các đạo luật luân lý, xã hội và tôn giáo. Phần cuối của cuốn sách (chương 31-34) liên quan đến cái chết của Mô-sê, sứ mệnh được giao phó cho Giô-suê, bài ca và những lời chúc phúc của ông Mô-sê.
8. Soạn thảo Ngũ thư
Truyền thống Do Thái (phần lớn được chứng thực trong chính Kinh thánh) và truyền thống Kitô giáo xem Mô-sê là tác giả của Ngũ thư. Trong Tân Ước, người ta thường nhắc đến Lề luật Mô-sê, hay "Mô-sê và các Ngôn sứ”đồng nghĩa với "Lề luật pháp và các Ngôn sứ”(Luca 16,29; Công vụ 26,22; v.v.). Đối với Chúa Giê-su và các Tông đồ, như đối với các ngôn sứ của Cựu Ước (Danien 9,11; Malachi 4,4), lề luật được viết bởi Mô-sê.
Phương pháp phê phán hiện đại đã đặt ra nghi ngờ về truyền thống này. Người ta đã lưu ý trong Ngũ thư một số tường được sao chép trùng lập (sáng tạo: Sáng thế 1 và 2) hoặc trong cùng một tường thuật, có hai câu chuyện song song và đan xen, đôi khi rất khó để hòa giải (câu chuyện Nô-ê: 19 và 7,2). Người ta đã suy luận rằng Ngũ thư không phải là tác phẩm của một tác giả, mà là sự tổng hợp của một số nguồn, thường được xem như thuộc phần lớn về các hậu duệ của ông Mô-sê.
Chúng ta nên nghĩ gì?
Bản thân Ngũ thư không mang tựa đề cũng không có chữ ký. Nếu Thiên Chúa không thấy phù hợp để chỉ định rõ các tác giả của những cuốn sách này (giống như nhiều cuốn sách khác trong Kinh thánh), chúng ta không nên biến nó thành một vấn đề quyết định cho đức tin.
Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng không phải vô cớ mà Chúa Giêsu và các tông đồ nhận ra uy quyền của Mô-sê trong Ngũ thư. Mô-sê là nhà lập pháp vĩ đại của Ít-ra-en. Trong Xuất hành 24,4 và 7 và Đệ nhị luật 31,9 chúng ta được biết rằng Mô-se đã soạn thảo luật. Vai trò ông Mô-sê đóng trong Giao ước và giáo dục ông Mô-sê đã nhận được ở Ai Cập xác nhận khẳng định này (trái với quan điểm đôi khi được trích dẫn rằng Mô-sê không biết đến văn viết). Các đoạn văn khác cho chúng ta thấy Mô-sê soạn thảo các tường thuật (Xuất hành 17,8-14; Dân số 33,2). Không có gì ngăn cản chúng ta tin rằng chính ông đã soạn thảo lịch sử Ít-ra-en.
Tuy nhiên, không gì là không thể, một số tường thuật của sách Sáng thế nói riêng đã lưu hành từ lâu dưới dạng truyền thống truyền khẩu, kể lịch sử các tổ tiên. Những tường thuật dân gian phổ biến này, được truyền tải trong các canh thức cầu nguyện, có thể đi theo những con đường khác nhau, điều này giải thích tại sao, khi chúng được thu thập và soạn thảo, các lặp lại và trùng lập vẫn còn. Đây là trường hợp của hai tường thuật về sáng tạo: phần thứ nhất (1,1 đến 2,3) trình bày một bức tranh toàn cảnh rộng lớn ở cấp độ toàn thế giới, trong đó mỗi phần và mỗi sinh vật được Thiên Chúa tạo ra và đặt vào vị trí; phần hai (2,4-25) có dạng một tường thuật dân gian phổ biến về các nguồn gốc con người. Sự lặp lại này không phải là vô ích: ở đây chúng ta có hai hình thức văn học, truyền tải theo cách riêng của họ, một thông điệp đến từ Thiên Chúa.
Cuối cùng, cần phải chỉ ra rằng một số đoạn văn của Ngũ thư khó có thể được soạn thảo bởi Mô-sê (tường thuật về cái chết của ông - Đnl 34 - Sáng thế 12,6; 13,7; 36,9-43; Dân số 12,3; 21,14; Đnl 3,14 nơi đó chúng ta không thể thấy các bổ sung sau này để thông báo cho người đọc. Vì vậy phải nghĩ rằng các nhà văn khác đã góp phần lên các sách của Lề luật sau cái chết của Môi-se. Cũng có thể một số Lề luật đã được hiện đại hóa để đáp ứng với các tình huống đã phát triển.
Nhưng phần lớn, chúng ta có thể thấy lý do tại sao truyền thống xem "các sách Lề luật”là tác phẩm của Mô-sê. Ngay cả khi các nhà văn khác đến sau can thiệp hoàn thành và bổ sung Ngũ thư, thì việc người Ít-ra-en công nhận uy quyền của Mô-sê trong suốt Ngũ thư, được linh hứng bởi Thiên Chúa. (Chúng ta cũng thấy vấn đề tương tự cho các Thánh vịnh, truyền thống xem Đa-vít là tác giả).
II. CÁC SÁCH LỊCH SỬ VÀ TRUYỆN
Phần các sách lịch sử và truyện gồm có 16 cuốn: Giôsuê, Thủ lãnh, Rút, 2 sách Samuen, 2 sách các vua, 2 sách Sử ký, Étra, Nơkhêmia, Tôbia, Giuđitha, Étte, 2 sách Macabê.
Trong số này có bốn cuốn sách (in đậm) được gọi là các sách Đệ nhị thư quy.
Có một khác biệt nhỏ giữa các ấn bản của Thánh kinh Công giáo và Tin lành đối với phần Cựu ước: Công giáo có thêm 7 hay 8 quyển. Những quyển này Công giáo gọi là thuộc đệ nhị thư quy, còn Tin lành gọi là nguy thư.
Chữ "Thư quy”có nguồn gốc là chữCanon, nghĩa là "quy luật": quyển sách nào được công nhận làm quy luật cho đức tin thì là "hợp quy". Thư quy các sách thánh là toàn thể những quyển sách được nhìn nhận là quy luật cho đức tin.
Các Kitô hữu và các tín hữu Do thái giáo đồng quan điểm với nhau về các sách phần Cựu ước. Tuy nhiên cóhai thư quy khác nhau. Cho tới những năm 90 sau CN, các rabbi ởPalestinachỉ công nhận những quyển viết bằng chữ Híp-ri. Còn những người Do thái ởAlexandriacông nhận thêm một số quyển khác được viết hoặc được viết bằng chữ Hy Lạp, những Kitô hữu nào đọc những ấn bản Thánh kinh chữ Hy Lạp thì nhận Thư quy Alexandria. Phần thánh Jérôme, người dịch Thánh kinh sang chữ Latin vào đầu thế kỷ V, thì theo thư quy Híp-ri.
Trong cuộc Cải Cách thế kỷ XIV, những người Tin lành theo lập trường của thánh Jérôme nên khi in Thánh kinh, họ đã đặt những quyển bị bàn cãi vào phần cuối và gọi những quyển ấy là "nguy thư".
Còn phía Công giáo thì, trong Công đồng Trente, xem những quyển sách vừa nói cũng được linh hứng như những quyển kia, nhưng gọi chúng là "thuộc đệ nhị thư qui". Nghĩa là: được nhận vào thư quy với tư cách hạng nhì.
Những quyển ấy là:Giuđita, Tôbia, 1 và 2 Macabê, Khôn ngoan, Huấn ca, những đoạn bằng chữ Hy Lạp trong sáchÉtte, BarúcvàThư của Giêrêmia.
Ngoài 4 sách truyện chúng ta có mười hai sách lịch sử trong Kinh thánh. Các sách này ghi lại những biến cố trong cuộc đời Ít-ra-en từ khi vào vùng đất Canaan (vào thế kỷ 13 trước Công nguyên) đến thời đế chế Ba Tư (cuối thế kỷ thứ 5 trước Chúa Giêsu Kitô). Hãy nhớ rằng trong Kinh thánh Do Thái, sáu cuốn sách lịch sử của chúng ta được gọi là "tiền ngôn sứ”(Giô-suê, Thủ lãnh, các sách Samuen và sách các Vua). Điều này cho thấy kiến thức lịch sử như thế không phải là trung tâm quan tâm của các tác giả thánh thiêng. Điều họ đặc biệt muốn truyền đạt là thông điệp từ Thiên Chúa. Các sách lịch sử khác (Rút, Sử biên niên, Ét-ra, Nơ-khê-mi-a và Ét-te) là một phần của các sách khác trong thư qui Do thái.
Có hai lý do giải thích điều này: thứ nhất, đó là các sách của nhóm thứ hai, được soạn thảo chậm trể sau đó, không được công nhận là "Thánh Kinh”mãi đến sau tất cả các sách Ngôn sứ; thứ đến, truyền thống đã quy kết việc soạn thảo các sách nhóm đầu tiên cho rằng Giô-suê là tác giả sách mang tên ông, Samuen là tác giả của các sách Thủ lãnh và các sách Samuen và ngôn sứ Giê-rê-mi-a là tác giả của sách các Vua. Trong khi đó, truyền thống cho rằng nguồn gốc của Ngũ thư được gán cho ông Mô-sê được chứng thực trong Kinh thánh, chúng ta đang đối phó ở đây một truyền thống mà không có gì bắt buộc chúng ta phải chấp nhận. Không có cuốn sách nào được ký tên (các tên sách đã được thêm vào sau đó). Không có nhân vật Kinh Thánh nào tuyên bố là tác giả các bản văn. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận sự thiếu hiểu biết của chúng ta trong vấn đề này.
1. Giô-suê
Dựa vào các truyền thống phía bắc, trình bày cuộc chiếm lãnh Ðất Hứa như một thiên anh hùng ca tiếp nối thiên anh hùng ca của cuộc xuất hành: tất cả các bộ lạc đồng tâm góp sức dưới sự chỉ huy của Giô-suê vượt qua sông Gio-đan như đã vượt qua Biển Ðỏ bốn mươi năm trước, rồi tiến như vũ bão từ chiến thắng này qua chiến thắng khác để chiếm lãnh toàn miền đất Thiên Chúa đã chỉ cho Mô-sê thấy (ch. 1-12). Sau đó là cuộc phân chia đất đai giữa các bộ lạc (ch. 13-21). Và cuối cùng là đại hội toàn dân ở Si-khem. Giô-suê cũng nói những lời cuối cùng theo kiểu Mô-sê khi ở bên kia sông Gio-đan, công bố lại Giao Ước và lập bia chứng ước. Giô-suê là người được Thiên Chúa tuyển chọn để chạy tiếp sức với ông Mô-sê: Mô-sê dẫn dân từ Ai-cập đến bờ sông Gio-đan, Giô-suê dẫn dân vào chiếm lãnh và định cư trên Ðất Hứa. Cuốn sách kết thúc với việc hài cốt ông Giu-se được an táng ở Si-khem tại phần đất ông Gia-cóp đã mua. Thế là cuộc hành trình nhiều thế kỷ của nhà Gia_cóp đã khép kín: từ Si-khem xuống Ai-cập nay lại về đến Si-khem. Lời hứa của Thiên Chúa cho tổ phụ Áp-ra-ham về một miền đất và một dòng dõi đông đúc nay đã thành sự.
2. Sách các Thủ lãnh
Gọi theo danh từ chung chỉ các vị anh hùng trong cuốn sách, họ là những người được Thiên Chúa sai đến cầm đầu các cuộc giải phóng rồi làm người xét xử mọi việc trong dân, vì thế cũng dịch là "quan án", "phán quan”- "xét xử”ở nền văn hoá này đồng nghĩa với cai trị. Về một số vị, sách chỉ nêu tên và số năm "xét xử”chứ không kể một hành động giải phóng nào. Mười hai vị này chẳng bao giờ "xét xử”toàn thể Ít-ra-en mà chỉ giới hạn trong từng bộ lạc. Tuy nhiên, sách Thủ lãnh đã biến họ thành những anh hùng giải phóng hoặc cai trị toàn thể Ít-ra-en, đồng thời phân bổ số năm hoạt động của mỗi vị theo những con số ước lệ: 20, 40, 80 để có được con số bốn trăm tám mươi năm tính từ khi ra khỏi Ai-cập cho đến khi xây đền thờ (1 V 6,1).
Cuốn sách này trải qua nhiều lần biên soạn. Hình thức hiện nay là của các soạn giả thuộc trào lưu đệ nhị luật với một chương (2,6 - 3,6) dẫn nhập tổng quát nêu rõ ý nghĩa tôn giáo của cuốn sách.
3. Sách Sa-mu-en và sách các Vua
Trong bản văn gốc tiếng Do-thái có một sách Sa-mu-en và một sách các Vua. Bản dịch Hy-lạp đã chia thành bốn cuốn "Các triều đại", bản dịch La-tinh (Phổ thông) theo bản Hy-lạp, chia thành bốn cuốn "Các Vua". Các bản dịch mới giữ cách chia bốn, nhưng gọi là sách Sa-mu-en quyển 1 và 2 và sách các Vua quyển 1 và 2.
Sách Sa-mu-en quyển 1 và 2 khởi đầu với nhân vật Sa-mu-en như là vị "thủ lãnh”cuối cùng và là người thiết lập chế độ quân chủ theo yêu cầu của dân. Ông vua thứ nhất được Sa-mu-en xức dầu tấn phong đã không trung thành với Thiên Chúa nên bị Thiên Chúa phế bỏ. Ông vua thứ hai được Sa-mu-en xức dầu tấn phong nổi bật như gương mẫu của sự trung thành với Thiên Chúa. Ông đã hoàn thành cuộc chinh phục và thống nhất miền Ðất Hứa, loại trừ mối đe dọa là dân Phi-li-tinh, mở rộng biên giới phía đông và phía bắc, ông chiếm được Giê-ru-sa-lem, lập làm thủ đô và đưa Hòm Bia Giao Ước về đây. Ông đã được Thiên Chúa hứa cho dòng dõi mãi mãi ngồi trên ngai. Bản dịch Hy-lạp dựa theo một bản Híp-ri có nhiều điểm dị biệt so với bản Híp-ri hiện có trong Sách Thánh (người ta đã tìm được một phần bản gốc Híp-ri này ở Cum-ran).
Sách các Vua quyển 1 và 2 kể về các vua từ Sa-lô-môn đến thời lưu đày. Sau vua Sa-lô-môn, công trình thống nhất của Ða-vít sụp đổ, hai vương quốc bắc và nam kình địch với nhau. Các vua phía nam thì có tám vị được khen là trung thành với Thiên Chúa, nhưng sáu vị vẫn còn để các nơi thờ phượng ngoại đạo tồn tại, chỉ có Khít-ki-gia và Giô-si-a được khen trọn vẹn. Lời phê về các vua đều theo tiêu chuẩn là sự trung thành với Thiên Chúa và với một nơi thờ phượng duy nhất.
4. Sách chuyện bà Rút
Trong bản Hy-lạp, La-tinh và các bản dịch mới, sách Rút được đặt liền sau sách Thủ lãnh. Bản Do-thái đặt trong bộ năm cuốn để đọc trong các dịp lễ nhất định: Diễm ca đọc dịp lễ Vượt Qua; Rút, dịp lễ Ngũ Tuần; Ai ca, ngày 9 tháng Áp, kỷ niệm Ðền Thờ bị thiêu hủy; Giảng viên, dịp lễ Lều; và Ét-te, ngày lễ Pu-rim. Sách kể chuyện một người đàn bà xứ Mô-áp đã trở thành bà cố nội của vua Ðavít. Chính yếu tố này đem lại cho cuốn sách tầm quan trọng đặc biệt.
5. Các sách Lịch Sử thuộc trào lưu (truyền thống) tư tế
Từ khi trở về sau lưu đày, dân xứ Giu-đa đã xây dựng một cộng đồng lấy đền thờ làm trung tâm và Luật Mô-sê làm luật sống. Cộng đồng này vẫn được đế quốc Ba Tư, rồi đế quốc Hy-lạp dành cho một quyền tự trị dưới sự lãnh đạo của tầng lớp tư tế. Nhưng từ ngày hồi hương, họ luôn gặp sự chống đối của cộng đồng Sa-ma-ri ở phía bắc. Cộng đồng này cũng nhận sách Luật Mô-sê do Ét-ra công bố, nhưng vẫn không muốn thuộc quyền giới tư tế ở Giê-ru-sa-lem. Vào những thập niên đầu của đế quốc Hy-lạp (do A-lê-xan-đê Ðại Ðế mở mang), cộng đồng Sa-ma-ri đã xin được quyền xây một đền thờ trên núi Ga-ri-dim. Thế là sự cạnh tranh giữa hai cộng đồng và hai đền thờ trở nên gay gắt (x. Ga 4, câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người đàn bà Sa-ma-ri).
Trong bối cảnh ấy, bộ lịch sử thuộc trào lưu tư tế ra đời gồm các sách 1-2 Sử biên niên, Ét-ra và Nơ-khe-mi-a. Tác giả thuộc giới tư tế, trong thành phần lãnh đạo ở Giê-ru-sa-lem. Sử dụng tư liệu trong các Sách Thánh có trước và nhiều sách khác nay đã thất lạc, tác giả viết lại lịch sử của Ít-ra-en nhằm giúp cho cộng đồng Do-thái lấy lại gốc rễ của mình và nhận ra mình đang sống cùng một lịch sử thánh như các thế hệ trước lưu đày. Tác giả trình bày vua Ða-vít như hình ảnh vương quyền của Thiên Chúa và đền thờ Giê-ru-sa-lem là dấu chỉ sự hiện diện và tình thương của Thiên Chúa. Công và tội của các vua được lượng giá tuỳ sự trung thành với Lề Luật và phụng tự đền thờ. Sự khẳng định ấy đồng thời cũng là một lời kết án và loại trừ đền thờ Ga-ra-dim và cộng đồng quy tụ quanh đền thờ ấy. Nhằm minh chứng quan điểm thượng tôn Giê-ru-sa-lem, tác giả đã đánh bóng khuôn mặt của Ða-vít và coi ông là người đã thiết lập toàn bộ nền phụng tự đền thờ như đang diễn ra ở thời ông. Ét-ra và Nơ-khe-mi-a là hai vị lãnh đạo đã khôi phục Giê-ru-sa-lem, đền thờ, Luật Mô-sê, việc phụng tự và sự trung thành với nòi giống.
Hai cuốn sách Sử Biên Niên
Hai sách Sử Biên Niên và các sách Ét-ra và Nơ-khê-mi-a tạo thành một thể thống nhất. Câu chuyện Ít-ra-en được kể song song với các sách các Vua, nhưng với một quan điểm khác, và sau đó được mở rộng bằng tường thuật các sự kiện xảy ra sau khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Truyền thống Do Thái coi Ét-ra là tác giả của các sách này. Nhiều khả năng, các tác giả là các tư tế của trường phái Ét-ra. Các sách Sử Biên Niên có một vị trí tuyệt vời cho các thế hệ và các thể chế tôn giáo, đặc biệt là Đền thờ và giới tư tế. Nhân vật Đa-vít được nhấn mạnh: lỗi của Đa-vít không được đề cập đến. Sau cuộc chia cách, chỉ còn thấy vấn đề của vương quốc Giu-đa.
Thông điệp thiết yếu của Sử Biên Niên là sự thịnh vượng của Ít-ra-en, phụ thuộc vào sự tuân theo lề luật thánh thiêng. Thiên Chúa là chủ tể của lịch sử (2 Sb 16,9).
Ét-ra và Nơ-khê-mi-a
Hai cuốn sách này tạo thành một tổng thể, vì vậy chúng ta có thể khảo sát chúng cùng nhau. Các sách này tường thuật các sự kiện theo sau Biên niên sử: sự trở lại của người Do Thái lưu đày - trong hai thời điểm: Ét-ra 1-6 mô tả sự trở lại đầu tiên sau sắc lệnh của vua Khi-rô (Cyrus). Việc xây dựng lại Đền thờ bắt đầu, nhưng nó bị gián đoạn bởi sự thù địch của người Samari; một làn sóng lưu vong thứ hai trở lại, dưới sự lãnh đạo của Ét-ra, với sự ủy nhiệm từ nhà vua để áp đặt luật của người Do Thái (Ét-ra 7-10). Để giữ gìn sự trong sạch của người dân, Ét-ra chiến đấu chống lại hôn nhân với phụ nữ ngoại giáo.
Nơ-khê-mi-a kể lại việc xây dựng lại các bức tường của Giê-ru-sa-lem, dưới sự lãnh đạo của Nơ-khê-mi-a, được bổ nhiệm làm thống đốc thành phố. Dân Thiên Chúa, được bảo vệ khỏi kẻ thù của họ, có thể khôi phục lại sự thờ phượng Thiên Chúa, như Ngài xứng đáng được.
Tác giả sử dụng và trích dẫn các nguồn đương đại báo cáo các sự kiện: các chứng thư của các vị vua Ba Tư, danh sách chính thức của những người trở về, hồi ký của Ét-ra và Nơ-khê-mi-a (đoạn đầu tiên).
6. Tô-bi-a, Giu-đi-tha và Ét-te
Bản Phổ thông La-tinh xếp ba cuốn sách này liền sau các sách Lịch Sử, một số thủ bản Hy-lạp cũng xếp như thế, một số thủ bản Hy-lạp khác lại xếp sau các sách Khôn Ngoan. Bản văn của ba cuốn này có nhiều dị biệt theo các truyền thống khác nhau và được nhận vào quy điển khá trễ. Thể văn của ba cuốn này cũng đặc biệt. Các yếu tố lịch sử và địa dư đều rất phóng khoáng đến độ không thể ráp nối với thực tế. Có thể nói đây là ba cuốn tiểu thuyết đạo đức, ra đời ở thế kỷ II trước CN.
Sách Tô-bi-a nhằm đề cao đời sống đạo đức của những người sống xa Ðất Hứa. Chỉ cần trung thành giữ Luật Chúa, cầu nguyện và làm việc lành phúc đức là đẹp lòng Chúa và được chúc phúc.
Sách Giu-đi-tha và sách Ét-te ca ngợi quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa có thể dùng những phụ nữ yếu đuối như thế để cứu cả dân Do-thái, khi họ đặt hết niềm tin vào Người. Hai sách này xuất hiện trong bối cảnh cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê.
Cuốn sách này mô tả chiến thắng của người Do Thái đối với những kẻ bắt bớ họ trong đế chế Ba Tư. Sự giải thoát này là nguồn gốc của ngày lễ Purim (9,26-32). Thật kỳ lạ, tên của Thiên Chúa không xuất hiện ở Ét-te; Tuy nhiên, cuốn sách này nói rằng kẻ thù của anh ta chắc chắn sẽ bị đánh bại.
7. Sách 1-2 Ma-ca-bê
Hai cuốn sách lịch sử cuối cùng của Cựu Ước, không có trong quy điển của người Do-thái, nhưng được nhận vào quy điển của Hội Thánh Công Giáo.
Cuốn thứ nhất viết vào khoảng năm 100 trước CN, kể về giai đoạn lịch sử từ vua An-ti-ô-khi-ô Ê-pi-pha-nê lên ngôi (175 trước CN) đến vua Gio-an Hiếc-ca-nô (134 trước CN): các mưu đồ của vua Hy-lạp nhằm tiêu diệt đạo Do-thái và cuộc kháng chiến thành công của anh em Ma-ca-bê. Chủ đích là chống lại phong trào chạy theo văn hoá Hy-lạp và đề cao sự trung thành với Lề Luật và Ðền Thờ. Tác giả có vẻ muốn biện minh cho dòng họ Ma-ca-bê lúc đó đang bị chỉ trích vì những liên minh chính trị và việc tiếm đoạt chức tư tế.
Sách 2 Ma-ca-bê không phải là phần tiếp theo của 1 Mcb, nhưng được soạn trước, khoảng năm 124 trước CN. 2 Mcb kể về giai đoạn từ vua Xê-lêu-cô IV (trước vua An-ti-ô-khô) đến cái chết của tướng Ni-ca-no.
Sách 1 Ma-ca-bê quan trọng vì cung cấp những khẳng định rõ ràng về sự phục sinh, về sự thưởng phạt đời sau, về việc cầu nguyện cho người chết, về công trạng của các vị tử đạo, sự chuyển cầu của các thánh. Những điều này sẽ được Tân Ước xác nhận.
III. CÁC SÁCH KHÔN NGOAN
Trong Sách Thánh Cựu Ước của Hội Thánh Công Giáo, sau phần các sách Lịch Sử, có bảy cuốn thuộc thể loại giáo huấn (cũng gọi là các sách khôn ngoan).
Mục lục của Kinh thánh thường phân loại các sách dưới mục "Các sách thi ca", sách Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn, Giảng viên và sách Diễm ca. Phần lớn của những cuốn sách này, thực sự, ở dạng thơ. Nhưng điều này không đúng với lời mở đầu và kết luận của sách Gióp, cũng không đúng với sách Giảng viên.
Đôi khi chúng ta thích nói về "các sách khôn ngoan", nghĩa là nói về "minh triết". Người khôn ngoan là người áp dụng vào cuộc sống của mình các chân lý vĩ đại mà Thiên Chúa đã mặc khải cho dân tộc của ngài. Người khôn ngoan là người phản ánh những vấn đề của cuộc sống con người. Gióp, Châm ngôn, Giảng viên là một phần không thể chối cãi của "Văn học khôn ngoan". Nhưng đây không phải là trường hợp của hầu hết các Thánh vịnh, mà là những tác phẩm đạo đức. Tuy nhiên, một số Thánh vịnh như Tv 1, 37, 73 có nội dung tương tự như các sách khôn ngoan. Chúng ta từ chối đưa ra một tựa đề chung áp dụng cho tất cả những cuốn sách này. Chúng ta hãy nhớ rằng các sách này là một phần của "bản văn khác”của thư quy Kinh thánh tiếng Do Thái.
Dân tộc nào cũng biết tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm sống của mình cho các thế hệ đến sau dưới những hình thức đơn giản dễ nhớ, cũng như bằng những thiên sách suy lý về ý nghĩa cuộc sống và cách sống ở đời. Dân Chúa trong Cựu Ước cũng biết thu thập sự "khôn ngoan”của các dân chung quanh và biết tự tìm ra những kinh nghiệm. Có điều đặc biệt là kinh nghiệm sống của Dân Chúa là một kinh nghiệm tôn giáo. Từ chỗ cảm nghiệm về Thiên Chúa hiện diện và hoạt động trong lịch sử từ ban đầu, họ đi tìm cảm nghiệm sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Trào lưu văn học này đã có từ lâu trong lịch sử Ít-ra-en. Nhưng các sách khôn ngoan chúng ta có trong Kinh Thánh hiện nay đều được biên soạn thời sau lưu đày Ba-by-lon.
Tóm lại, trong bảy cuốn sách được xếp vào phần này, có năm cuốn thực sự thuộc thể loại "khôn ngoan": Gióp, Châm ngôn, Giảng viên, Khôn ngoan và Huấn ca. Còn Thánh vịnh và Diễm ca là hai tác phẩm thi ca.
1. Sách Gióp
Là một vở kịch bằng thơ, có lẽ xây dựng trên một cốt truyện có trước bằng văn xuôi. Chủ đề là vấn đề đau khổ. Tác phẩm phản kháng quan niệm cổ điển về thưởng phạt, nhưng chưa đưa ra một giải đáp cụ thể, mà chỉ đặt người ta đối diện với mầu nhiệm của quyền năng Thiên Chúa và đưa đến thái độ im lặng tôn thờ.
Kiệt tác văn học Do Thái này là một bài thơ dài đóng khung trong một tường thuật ngắn (1 và 2 sau đó 42,7-17) kể về sự bất hạnh của Gióp, sau đó ông tìm thấy lại hạnh phúc. Bài thơ bao gồm một loạt các cuộc đối thoại giữa ông Gióp và bạn bè của ông. Nhưng đó là một cuộc đối thoại của người điếc; Vì vậy, Gióp kết thúc việc đưa ra than phiền của mình nói với Thiên Chúa (chương 29,31). Sau đó, một nhân vật khác, Elihu, đã can thiệp (32-37). Nhưng chính Chúa là người có lời cuối cùng (38-41); ông Gióp chỉ có thể cúi đầu khuất phục (chương 42,1-6).
Sách Gióp đề cập đến một trong những vấn đề cấp bách nhất của cuộc sống con người, đó là sự đau khổ và đặc biệt là sự đau khổ không đáng có. Nếu Thiên Chúa là Đấng công chính, tại sao Ngài cho phép quá nhiều đau khổ bất công? (3,20-26)
Nhưng có một câu hỏi khác, cũng quan trọng không kém, và đó là: có thể phục vụ Thiên Chúa vì tình yêu và không chỉ đơn giản là vì lợi ích? Nhìn thấy Gióp, một người công chính và ngoan đạo, đầy những điều tốt đẹp, Sa-tan hỏi: "Có phải vì Gióp không phục vụ Thiên Chúa không?” (1,10-12). Ông sẽ tiếp tục yêu Ngài trong đau khổ và nghèo khổ? Chúa đã chấp nhận rằng chó Sa-tan thử thách Gióp. Vì vậy, ở đây ông Gióp là người mất tất cả. Ông ấy sẽ phản ứng thế nào? Nếu ông nguyền rủa Thiên Chúa, chính Satan có lý: Người ta thờ phượng Thiên Chúa chỉ vì lợi ích. Đức tin là sự tính toán và không phải tình yêu.
Ba người bạn của Gióp muốn thuyết phục anh rằng đau khổ luôn là một hình phạt cho tội lỗi. Nếu Gióp đau khổ, ông đã phạm tội. Ông Gióp từ chối lời giải thích này, đó là suy nghĩ của những người đạo đức cho mình có thái độ tốt. Ông Gióp không làm gì mà đáng bị trừng phạt như vậy. Ông không hiểu. Chỉ Thiên Chúa mới có thể trả lời. Và cuối cùng, Chúa lên tiếng, không trả lời cho các câu hỏi của Gióp, nhưng mặc khải sự toàn năng của Ngài. Thế thì Gióp im lặng: đủ để ông biết rằng Chúa đang ở đó. Ngay cả trong bất hạnh, Gióp cũng không quay lưng lại với Chúa. Satan đã thua cược. Do đó, Thiên Chúa có thể tự do ban cho Gióp sự thịnh vượng của Ngài.
2. Sách Thánh vịnh
Là bộ sưu tập thánh ca gồm những bài ca vịnh được sáng tác ở nhiều thời đại khác nhau, từ thời vua Ða-vít đến thế kỷ III trước CN. Trước thời lưu đày đã có những bộ sưu tập các thánh vịnh để dùng trong phụng vụ ở đền thờ. Sau lưu đày, các bộ sưu tập này lại có thêm những tác phẩm mới để dùng trong đền thờ mới. Ðây là kho tàng kinh nguyện của dân Chúa trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước. Mọi tình huống, mọi tâm tình của con người được diễn tả, bộc bạch trước mặt Thiên Chúa với lòng đơn sơ, dạn dĩ, tin tưởng: cảm tạ, ngợi khen, thống hối, ai oán, than van, vui, buồn, chất vấn Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa chất vấn, khẩn cầu. Hội Thánh Công Giáo sử dụng các Thánh vịng trong các giờ kinh phụng vụ và phụng vụ Lời Chúa. Có thể xếp theo thể loại: tụng ca, vương triều, khẩn cầu, tạ ơn, hành hương, giáo huấn.
Trong các Thánh vịnh, họ là những con người nói với Thiên Chúa, và không phải là Thiên Chúa nói với con người. Tuy nhiên, những lời cầu nguyện và bài thánh ca này cũng là một Lời của Thiên Chúa cho chúng ta. Các Thánh vịnh không chỉ là một câu trả lời cho thông điệp của Thiên Chúa, mà chính Ngài là người đã linh hứng để dạy chúng ta ca ngợi và cầu nguyện.
Từ Thánh vịnh (Psaume) xuất phát từ một nhạc cụ (psaltérion) đi kèm với tiếng hát hoặc đọc những bài thơ này. Tựa đề tiếng Do Thái, Tchillim, có nghĩa là "bài ca". Nhiều thánh vịnh thực sự là những bài thánh ca, mặc dù những bài khác là những lời cầu nguyện cá nhân. Người ta đã nói rằng các Thánh vịnh là bài thánh ca của đền thờ thứ hai của Giê-ru-sa-lem (sau thời lưu đày). Đúng là sau khi trở về từ nơi lưu đày, bộ Thánh vịnh được hình thành. Nhưng nhiều thánh vịnh đã cũ. Rất nhiều trong số đó được quy cho Đa-vít. Đa-vít là một nhà thơ và nhạc sĩ (1 Sm 16,15-23, 2 Sm 1,19-26 và 3,33-34). Ông đã sáng tác nhiều thánh vịnh - đến mức tên của ông đôi khi được sử dụng để chỉ toàn bộ bộ sưu tập. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tựa đề "của Đa-vít”cũng có thể được dịch là "cho Đa-vít", để một số thánh vịnh có thể được viết bởi những người khác và dành riêng cho Đa-vít. Những cái tên khác xuất hiện trong số các tựa đề như Asaph, các con của Korah, v.v.
Kinh thánh chứa rất nhiều thánh vịnh, để tất cả các tín hữu có thể tìm thấy những lời cầu nguyện mà đức tin của họ được bày tỏ. Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt ba thể loại thánh vịnh chính (nhưng không phải tất cả các thánh vịnh đều thuộc loại này, vì sự đa dạng của chúng quá lớn).
1) Các bài thánh ca ca ngợi (ví dụ: thánh vịnh 8, 19, 33, 95 đến 100, 103 đến 106, 145 đến 150), bao gồm một lời khích lệ ca ngợi Thiên Chúa (từ đó xuất phát từ "Alleluia", ca ngợi Thiên Chúa), tiếp theo là những lý do cho lời khen ngợi này: công trình Thiên Chúa Tạo Hóa, lòng thiện hảo của Ngài đối với Ít-ra-en, Sion và Đền thờ (48), triều đại của Thiên Chúa (96 đến 98>, v.v ... Đây là những bài thánh ca được hát trong phụng vụ). Chúng ta có thể xếp vào đây "thánh vịnh các cấp độ”(120 đến 134), được hát bởi những người hành hương đến Giê-ru-sa-lem.
2) Những lời nguyện xin, trong đó các tín hữu dâng lên cho Thiên Chúa những than vãn của họ, tiếng khóc đau khổ của họ, nhưng cũng là biểu hiện đức tin của họ. Sự đau khổ của các tín hữu có thể đến từ kẻ thù của họ (được mô tả bằng thuật ngữ tượng hình đến nỗi khó có thể trình bày lại tình huống của thánh vịnh), những kẻ độc ác và những kẻ dối trá (3, 5, 7, 13, 22, 35, 56, 70, v.v.), của bệnh tật (38, 88); lưu đày (63), nhưng cũng về tội lỗi của họ (6, 51, 130, 143). Những lời cầu xin khác không phải là cá nhân, mà là tập thể. Đó là sự đau khổ con người được trình bày cho Thiên Chúa (74, 79, 83, 85, 106, 137), vì chiến tranh, lưu đày đến Babylon, sự khốn khổ của những người trở về, v.v ...
Các thánh vịnh cầu khẩn thường kết thúc bằng một lời tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa và sự chắc chắn được nhậm lời.
3) Những lời cầu nguyện tạ ơn, nơi đó đau khổ của tín hữu chỉ được đề cập như một cơ hội để tạ ơn Thiên Chúa (18, 21, 30, 34, 65-68, 116, 118, v.v.)
Các thánh vịnh khác bao gồm những thể loại trong đó hai thể loại được trộn lẫn (25, 27, 89) và suy gẫm (hoặc thánh vịnh khôn ngoan) (1, 112, 119, 127).
Chúng ta dành một vị trí cho các thánh vịnh liên quan đến Thiên sai. Đầu tiên là các thánh vịnh vương quốc, những lời cầu nguyện cho nhà vua (đấng được xức dầu hoặc Đấng Thiên sai). Một số được sáng tác trong những thời vương quốc, một số khác sau đó. Chúng luôn được hát trong viễn cảnh của lời hứa dành cho Đa-vít và hậu duệ ông (2 Sm 7,12-16), do đó bày tỏ niềm cậy trông của Ít-ra-en. Thiên Chúa sẽ ban cho dân của Ngài vị vua đã hứa sẽ trị vì trong sự công chính (2; 20; 21; 72; 110). Chúa Giêsu đã áp dụng cho chính mình những lời của nhiều thánh vịnh này. Nhưng Ngài cũng đề cập đến các thánh vịnh khác (22,2; 31,6). Ngài tự nhận mình đồng dạng với những người đau khổ. Ngài đã cầu nguyện bởi vì Ngài lấy vị trí của họ trước mặt Thiên Chúa.
3. Sách Châm ngôn
Có nhiều bộ sưu tập châm ngôn: 10 - 22,16 và 25-29 (châm ngôn của Sa-lô-môn); 22,17 - 24,22 (lời của những người khôn ngoan); 30,1-14 (lời của A-gua); 30,15-33 (châm ngôn theo con số); 31,1-9 (lời của Lơ-mu-ên). Chín chương đầu là phần dẫn nhập: cha dạy con (1-7) và chính sự khôn ngoan lên tiếng (8-9). Cuốn sách như hiện nay có từ thế kỷ V trước CN. Cuốn sách được hình thành qua nhiều thế kỷ, nên cần lưu ý đến sự phát triển về tư tưởng.
Cuốn sách này là một thu thập của một số bộ sưu tập các châm ngôn (mashal trong tiếng Do Thái, so sánh) và suy ngẫm về sự khôn ngoan và cuộc sống. Đây là loại văn học được gọi là sapiential.
Chúng ta có thể phân biệt:
a) Dẫn nhập. c. 1 đến 9. Giá trị của khôn ngoan. Khuyến nghị từ một người cha cho con trai của mình và can thiệp của sự khôn ngoan.
b) 10,1 đến 22,16: châm ngôn của Salomon.
c) 22,17-24,34: những lời của bậc khôn ngoan.
d) 25 đến 29: bộ sưu tập của người thuộc Ezekias.
e) 30: châm ngôn của Agur.
f) 31. Những châm ngôn của Lemuel. Bài thơ: Ca tụng người phụ nữ đức hạnh.
- Đối với Kinh thánh, Salomon là một "Hiền nhân”mẫu. Nhiều châm ngôn của ông đã được bảo tồn. Những châm ngôn khác đã được thêm vào để tạo thành bộ sưu tập như chúng ta biết, một số có thể định niên đại vào thời của triều đại của Ezekias, một số khác sau thời lưu đày.
- Những lời khuyên cho đời sống thực tế chứa trong cuốn sách này có vẻ hơi thô thiển. Những lời khuyên không chỉ diễn đạt sự thận trọng của con người, chúng mời con người sống trong kính sợ (nghĩa là tôn trọng) Thiên Chúa 1,7). Con người có thể là người tạo ra hạnh phúc hay bất hạnh của mình, tùy theo họ khôn ngoan hay điên rồ: 1,20-33; 3,21-35, v.v ... Sống theo khôn ngoan là sống theo Thiên Chúa, vì Thiên Chúa đã tạo ra thế giới bằng sự khôn ngoan của Ngài (8,22-31) và Ngài mặc khải sự khôn ngoan cho con người, để họ ghét cái ác và thành công trong cuộc sống của họ.
4. Sách Giảng viên
Ðược biên soạn ở thế kỷ III trước CN, nhưng mạo xưng là của vua Sa-lô-môn. Tác giả suy tư khắc khoải về ý nghĩa cuộc sống: tất cả là phù vân. Vậy thì sống để làm gì? Sau cuộc sống này còn gì tồn tại? Phản kháng những quan niệm cũ về thưởng phạt (như sách Gióp), nhưng cũng không đưa ra được giải đáp nào hơn là sự khiêm tốn vâng phục Thiên Chúa và tinh thần "thoát tục". Nỗi khắc khoải này Chúa Giêsu sẽ trả lời dứt khoát.
Tựa đề tiếng Híp-ri của sách này là "Qoheleth": người đứng nói trong một hội đồng, nhà thuyết giảng. Tác giả tự giới thiệu mình là "con trai của vua Đa-vít, vua ở Giê-ru-sa-lem", điều này cho chúng ta nghĩ đến vua Salomon, nhưng có thể áp dụng cho tất cả các vị vua của dòng dõi Đa-vít.
Đó là cuốn sách của một người đã sống rất nhiều và phơi bày trần trụi sự giả trá của con người để đảm bảo một hạnh phúc lâu dài ở đây: sự giàu có, công việc, bục giảng tốt, ngay cả sự khôn ngoan, tất cả điều này là phù vân (1,2).
Tất cả những niềm vui của trái đất là nhất thời và chịu sự phán xét của Thiên Chúa (12,1-9; 12, 15-16). Thiên Chúa không cấm con người tận hưởng cuộc sống (9,7-10; 11,7-8), với điều kiện họ không tìm cách xây dựng hạnh phúc của mình trên gió.
5. Sách Diễm ca
Ðược soạn vào thời sau lưu đày (thế kỷ V-IV trước CN). Sách gồm năm bài tình ca diễn tả mối tình giữa Chàng và Nàng. Người Do-thái vẫn coi đây là bài ca tuyệt vời diễn tả mối tình tuyệt vời giữa Thiên Chúa và Dân được tuyển chọn. Hội Thánh hiểu về mối tình giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh; các giáo phụ, các nhà thần bí hiểu về mối tình giữa Chúa Ki-tô và mỗi tâm hồn.
Tựa đề có nghĩa là: "Bài hát hay nhất trong số các bài hát”(trong số những bài của Salomon: 1 V 4,32). Đây là một bài thơ tình yêu cháy bỏng. Người Do Thái ngần ngại đưa nó vào thư quy Kinh thánh, vì các lời thơ quá trần tục (không nói về Thiên Chúa) và thậm chí còn gợi dục tình. Sách đã được giải thích theo cách phúng dụ và cho thấy một câu chuyện ngụ ngôn về tình yêu huyền nhiệm của Chúa Kitô và Giáo hội của Ngài. Tuy nhiên, người ta có thể nghĩ rằng ý nghĩa đầu tiên của nhà thơ này là bài hát tình yêu của một người đàn ông và một người phụ nữ, một tình yêu mà Thiên Chúa muốn tạo ra người đàn ông và người phụ nữ và chúc phúc cho cuộc hôn nhân. Chính vì sách có giá trị trong chính nó và tình yêu này có thể là một câu chuyện ngụ ngôn về tình yêu của Thiên Chúa và dân tộc của Ngài.
6. Sách Khôn ngoan
Ðược biên soạn ở thế kỷ thứ I trước CN, nhưng mạo xưng là của vua Sa-lô-môn. Tác giả sống trong môi trường văn hoá Hy-lạp ở A-lê-xan-ri-a bên Ai-cập. Cuốn sách muốn chống lại sức cuốn hút của văn hoá Hy-lạp đang làm cho nhiều người Do-thái bị lung lạc bằng cách đề cao sự khôn ngoan của Thiên Chúa bộc lộ trong số phận của mỗi con người và trong lịch sử Dân Chúa.
7. Sách Huấn ca
Do Ben Xi-ra viết bằng tiếng Híp-ri vào khoảng 190-180 trước CN tại đất Do-thái, rồi cháu nội của ông dịch ra tiếng Hy-lạp khoảng năm 132 trước CN tại Ai-cập. Cuốn sách gồm một bộ sưu tập những lời khôn ngoan về rất nhiều đề tài (1-42); chiêm ngắm vinh quang của Thiên Chúa trong thiên nhiên (2-43) và trong lịch sử Ít-ra-en (44-50); bài ca tán tạ (51,1-12); ca tụng việc tìm kiếm sự khôn ngoan (51, 13-30).
IV. CÁC NGÔN SỨ
Phần chính cuối cùng của Kinh thánh là những cuốn sách ngôn sứ. Tất cả các ngôn sứ Ít-ra-en đã không để lại một cuốn sách. Một ngôn sứ quan trọng như Ê-li chỉ được biết đến qua các sách các vị Vua.
Ngôn sứ là người được Thiên Chúa sai đến để thay mặt Chúa làm "môi miệng của Chúa", nói với dân (x. Gr 15,19). Sứ mạng của các vị này là vạch cho dân thấy lỗi lầm của họ, kêu gọi họ quay về trung thành với giao ước, khuyên bảo, răn đe, loan báo hình phạt và ơn cứu độ. Có trường hợp chính các vị ấy viết lại, hoặc đọc cho môn đệ viết (x. Gr 36,1-4) những lời đã rao giảng, nhưng phần nhiều là do các môn đệ ghi chép, sưu tập những lời các vị ấy đã rao giảng.
Do đó các sách thường có một lịch sử biên soạn phức tạp. Sau sách Torah (Ngũ Thư) thì sách Ngôn Sứ là phần quan trọng nhất, bởi vì các ngôn sứ thường vạch cho Dân Chúa thấy trong thực tế họ đã vi phạm giao ước như thế nào và chỉ đường vạch lối cho họ biết sống thế nào cho đúng là Dân của Thiên Chúa. Các ngôn sứ loan báo sự trừng phạt tội lỗi và lời hứa ban ơn cứu độ. Các lời hứa này thường đưa vào một viễn tượng lớn hơn, xa hơn của kế hoạch cứu độ phổ quát trong Ðức Giê-su Ki-tô. Do đó sách Ngôn Sứ được Chúa Giê-su và các Tông Ðồ sử dụng nhiều nhất để giải thích mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô, Giao Ước mới và Dân mới của Thiên Chúa. Sách Ngôn Sứ luôn có tính hiện đại, vì các ngôn sứ phân tích và dạy dỗ về mối tương quan với Thiên Chúa và với nhau trong cuộc sống hàng ngày.
Chức năng của ngôn sứ đã được biết đến trong các tôn giáo khác (các ngôn sứ của thần Baan: 1 V 18). Ở Ít-ra-en, ngôn sứ là một thể chế được công nhận - mặc dù các ngôn sứ không phải lúc nào cũng nói về Thiên Chúa (1 V 22,5-12). Những ngôn sứ này ở trong một trường phái (1 Sm 10,5; 19,20). Ví dụ trong 1 Vua 22 mô tả các phản kháng của A-mốt, những người tự cho mình là "ngôn sứ hay con cái của ngôn sứ”(7,14) và sự lên án của Giê-rê-mi (6,13-14) và Ê-dê-ki-en (13) dành cho các ngôn sứ giả cho thấy những ngôn sứ "chuyên nghiệp”này quan tâm đến lợi ích của họ nhiều hơn Lời Chúa. Các ngôn sứ vĩ đại đã để lại cho chúng ta những thông điệp truyền linh hứng là những cá nhân độc lập hơn, mà Thiên Chúa đã đích thân kêu gọi để truyền đạt Lời của Ngài: những ví dụ ngôn sứ I-sa-i-a (ch. 6), Giê-rê-mi (ch. 1), Ê-dê-ki-en (ch. 1 và 2) hoặc A-mốt (ch. 7) cho thấy rõ điều này. Nếu những người như vậy là ngôn sứ, không phải là do sự lựa chọn, mà bởi vì họ bị ràng buộc bởi Thiên Chúa: A-mốt 3, 8; Giê-rê-mi 20,7-10. Chúa đặt lời nói của Ngài vào miệng họ: Đnl 15,15; Giê-rê-mi 1:,9; Ê-dê-ki-ên 3,1.
Thông điệp của các ngôn sứ trong Kinh Thánh rất phong phú và đa dạng. Nhưng chúng ta có thể nhận ra hai nhiệm vụ chính:
a) Bày tỏ thánh ý Thiên Chúa - và sự bất trung của Ít-ra-en. Họ tố cáo sự thờ hình tượng, sự giả hình tôn giáo, sự thờ phượng bị cắt đứt khỏi cuộc sống thực, bất công xã hội, sự tự tin vào giàu có và sức mạnh khí giới. Mi-khê tóm tắt những gì Đức Chúa Trời yêu cầu, "rằng bạn làm điều công chính, rằng bạn yêu thương xót và bước đi khiêm nhường với Thiên Chúa của bạn” (6,8).
b) Thông báo những gì Thiên Chúa sẽ làm trong tương lai. Những dự đoán này thường liên quan đến tương lai trước mắt. Họ có hình thức cảnh báo và kêu gọi ăn năn: nếu bạn không hoán cải, Chúa sẽ hành động theo cách như vậy. Thiên Chúa cho phép các ngôn sứ đọc các sự kiện trong thời đại của mình và để khuyên các vị vua hoặc người dân. Những lời ngôn sứ khác hình dung một tương lai xa hơn. Thiên Chúa mặc khải qua các ngôn sứ của Ngài làm thế nào đẻ Ngài thực hiện chương trình của Ngài: chẳng hạn, thông báo Giao ước mới (Giê-rê-mi 31) hoặc sự đau khổ của Đấng Mê-si-a (Is 53).
Các ngôn sứ có tên gắn liền với một cuốn sách của Kinh Thánh đôi khi được gọi là "các nhà văn ngôn sứ". Trong thực tế, thông điệp của họ thường được gửi bằng miệng. Giê-rê-mi 29 và 36 là trường hợp ngoại lệ. Lời của các vị ngôn sứ thường ở dạng những bài thơ ngắn (còn được gọi là "lời ngôn sứ"). Những thông điệp này sau đó được đưa vào bằng văn bản, hoặc bởi chính nhà ngôn sứ hoặc bởi một trong những môn đệ của ông (Barúc cho Giê-rê-mi 36,4), sau đó tập hợp lại để tạo thành một cuốn sách. Điều đôi khi gây khó khăn cho chúng ta khi đọc những cuốn sách ngôn sứ là những nhà ngôn sứ này không theo một trật tự logic. Chúng tôi di chuyển nhanh chóng từ chủ đề này sang chủ đề khác. Bạn phải cố gắng đặt từng lời sấm vào bối cảnh - và không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Không thể nghiên cứu chi tiết các sách ngôn sứ. Ở đây chúng ta chỉ có thể đặt ra từng nhà ngôn sứ trong lịch sử, chỉ ra những đặc thù của cuốn sách của ông và tóm tắt ngắn gọn thông điệp của ông.
Trong Sách Thánh của chúng ta có mười sáu sách Ngôn Sứ, gồm bốn ngôn sứ "lớn”và mười hai ngôn sứ "nhỏ". Nói "lớn", "nhỏ”ở đây là theo độ lớn, nhỏ của cuốn sách.
1. I-sai-a
Là cuốn lớn thứ nhất. Sách này gồm ba phần thuộc ba thời kỳ khác nhau:
1) 1-39 gọi là I-sai-a đệ nhất, vị ngôn sứ rao giảng ở xứ Giu-đa vào thế kỷ VIII trước CN. Một vài chương của thời kỳ sau được chen vào đây (24-27 và 34-35).
2) 40-55 gọi là sách An Ủi, tức I-sai-a đệ nhị. Công trình của một ngôn sứ thời lưu đày, loan báo niềm hy vọng cứu độ và sứ mạng mới của Dân Chúa.
3) 56-66 gọi là I-sai-a đệ tam, có lẽ là một bộ sưu tập lời rao giảng của nhiều vị ngôn sứ trong thời kỳ từ lúc xây xong đền thờ mới (515 trước CN) cho đến 445 trước CN. Khi Nơ-khe-mi-a hoàn tất việc trùng tu tường thành, dân chúng chán nản vì thấy đền thờ mới quá khiêm tốn, đời sống kinh tế chẳng khá gì, đời sống đạo đức cũng chẳng hơn xưa: vẫn đầy áp bức bóc lột, thối nát. Các ngôn sứ củng cố niềm tin của cộng đồng Do-thái hồi hương.
2. Giê-rê-mi-a
Chép lời rao giảng và tiểu sử của Giê-rê-mi-a, vị ngôn sứ hoạt động một thế kỷ sau I-sai-a đệ nhất, vào thời kỳ xứ Giu-đa sắp bị diệt vong. Ông đã phải chứng kiến cảnh Giê-ru-sa-lem thất thủ, vua, quan, tư tế và dân bị lưu đày sang Ba-by-lon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của thời đại.
3. Ai ca
Sách Thánh bằng tiếng Híp-ri xếp Ai ca vào bộ "năm cuốn”để đọc vào các dịp lễ lớn: sách Ai ca dành cho ngày kỷ niệm đền thờ bị phá hủy (ngày chín tháng Áp). Hl và Lt đặt sau sách Giê-rê-mi-a với tựa đề gán quyền tác giả cho ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Nhưng phân tích văn chương và tư tưởng cho thấy nó không thể là tác phẩm của vị ngôn sứ này. Tác phẩm gồm ba bài theo thể "điếu tang”(ch. 1,2 và 4), một bài than khóc cá nhân (ch.3) và một bài than khóc tập thể (ch.5: Lt đề là "Lời cầu xin của Giê-rê-mi-a"). Ðây là những lời than khóc cho cảnh hoang tàn và bi đát của thành Giê-ru-sa-lem và dân cư sau biến cố thảm khốc năm 587 trước CN. Chính lòng trông cậy kiên vững vào Thiên Chúa trong nỗi đau tuyệt vọng của con người làm nên giá trị bất hủ của những bản ai ca này. Hội Thánh đọc sách này trong Tuần Thánh để nhớ biến cố bi đát trên Núi Sọ.
4. Ba-rúc
Sách này không có trong Hr, chỉ có trong Hl (đặt sau sách Giê-rê-mi-a) và trong Pt Lt (đặt sau Ai ca). Sách được mạo xưng là của Ba-rúc, người thư ký của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Thực ra đây là công trình biên soạn hay sưu tập của một tác giả ở thế kỷ II trước CN (có người cho là thế kỷ I trước CN) với một nội dung phức hợp. Pt Lt gắn "thư của Giê-rê-mi-a vào cuối sách Ba-rúc, còn Hl tách riêng, đặt sau sách Ai ca. Sách nhỏ này cho chúng ta biết về đời sống tôn giáo của người Do-thái ở các cộng đồng hải ngoại và ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đối với dân Do-thái sau biến cố năm 587 trước CN.
5. Ê-dê-ki-en
Chép lời rao giảng và cuộc sống của Ê-dê-ki-en, vị ngôn sứ của thời lưu đày. Ông thuộc hàng tư tế bị phát lưu ngay đợt đầu (597 trước CN). Từ Ba-by-lon, ông theo dõi và giải thích những gì đang xảy ra tại Giê-ru-sa-lem. Sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ, một đám dân lưu đày mới được dẫn về Ba-by-lon. Hoạt động rao giảng của ông nhằm giúp những người lưu đày hiểu biết về hiện tại của mình và giữ vững niềm hy vọng ở tương lai.
6. Ða-ni-en
Thực chất là một cuốn sách thuộc thể loại "khải huyền", mạo xưng là của một nhân vật thời lưu đày. Sách được viết vào thời kỳ An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại (167-164), trước khi cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê thành công. Mục đích nhằm an ủi, khích lệ Dân Chúa giữ vững niềm tin trong cơn thử thách.
7. Hô-sê
Chép lời rao giảng của một ngôn sứ đồng thời với A-mốt tại phía bắc. Bản văn tiếng Híp-ri của sách này là một trong những bản văn được lưu truyền tồi nhất trong Cựu Ước. Cuộc đời và lời rao giảng của Hô-sê vừa bi đát vừa trữ tình. Ông sống nỗi bi đát của tình vợ chồng bị phản bội để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa bị phản bội. Trào lưu đệ nhị luật và các ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, I-sai-a đệ nhị chịu ảnh hưởng của ông rất nhiều trong cách nói về tình yêu Thiên Chúa và Giao Ước Mới với "luật khắc trong tim".
8. Giô-en
Là sách được biên soạn vào khoảng năm 400 trước CN. Hai chương đầu mô tả tai họa và công bố lời hứa giải thoát. Hai chương sau theo thể loại khải huyền, loan báo cuộc phán xét và kỷ nguyên mới. Lời hứa tuôn đổ Thần Khí được sách Công vụ trích dẫn và ứng dụng vào biến cố ngày lễ Ngũ Tuần (2,16-21).
9. A-mốt
Vị ngôn sứ này rao giảng ở vương quốc phía bắc vào thời Gia-róp-am II (783-743). Là một nông dân thuần tuý nên lời lẽ của ông thường đơn sơ nhưng rất mạnh mẽ.
10. Ô-va-đi-a
Là sách ngắn nhất của Cựu Ước nhưng lại có nhiều vấn đề phức tạp. Các nhà nghiên cứu chưa xác định nổi thời đại: các ý kiến đi từ thế kỷ IX trước CN tới thời kỳ đế quốc Hy-lạp. Sách phản ánh một chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đề cao sự công thẳng khủng khiếp và quyền năng của Thiên Chúa là Ðấng bênh vực công lý.
11. Giô-na
Là một dụ ngôn dài khoác lên vai một nhân vật được nói đến ở 2 V 14,25. Sách được viết vào thế kỷ V. Câu chuyện đầy châm biếm nhằm phản bác quan điểm dân tộc cực đoan, cục bộ và rao giảng một quan niệm phổ quát về ơn cứu độ.
12. Mi-kha
Sách này chép lời rao giảng của ngôn sứ Mi-kha người vùng Mô-rê-sét (gần Khép-rôn). Ðừng lộn tên vị ngôn sứ này với ông Mi-kha con ông Gim-la thời vua A-kháp (x. 1V 22). Ông rao giảng ở vương quốc phía nam, từ khi vương quốc phía bắc bị diệt (721) với cuộc xâm lăng của Xan-khê-ríp (701). Ông cũng là nông dân thuần tuý nên lời văn mộc mạc và mạnh mẽ giống A-mốt.
13. Na-khum
Ngôn sứ này hoạt động ở Giu-đa vào thời kỳ đế quốc Át-sua đang đến hồi suy tàn và thủ đô Ni-ni-vê sắp thất thủ (612). Ông kết tội vua xứ Át-sua là kẻ xâm lược áp bức và loan báo ơn cứu độ cho Giu-đa.
14. Kha-ba-cúc
Rao giảng cùng thời với Giê-rê-mi-a, trong khi xứ Giu-đa bị dân Can-đê đe dọa. Ông chất vấn Chúa vì Chúa để cho một dân hung ác đe dọa Dân Chúa cùng chư dân, và được Chúa trả lời: "Người công chính sẽ được sống nhờ lòng trung tín". Rồi ông nguyền rủa kẻ áp bức người khác và cuối cùng ca tụng quyền năng Thiên Chúa.
15. Xô-phô-ni-a
Ngôn sứ này hoạt động ở phía nam thời vương quốc Giô-si-a (640-630), trước cuộc phục hưng tôn giáo mà vua này sẽ phát động. Tân Ước trích dẫn sách này một lần (Mt 13,41). Cách ông mô tả "Ngày của Ðức Chúa”ảnh hưởng tới ngôn sứ Giô-en và bài ca "Dies irae”thời trung cổ.
16. Khác-gai
Rao giảng sau thời lưu đày. Ông cổ võ việc xây lại đền thờ.
17. Da-ca-ri-a
Sách này gồm hai phần thuộc hai thời kỳ khác nhau:
1) 1-8 thuộc thời kỳ tái thiết và phục hưng, cổ võ việc khôi phục đạo đức;
2) 9-14 thuộc thời kỳ cuối thế kỷ IV trước CN, lúc đế quốc Hy-lạp mới bành trướng. Có người còn chia phần này làm hai: 9-11 và 12-14. Tầm quan trọng của phần 9-14 là do giáo huấn về Ðấng Mê-si-a, được Chúa Giê-su và các sách Tân Ước trích dẫn nhiều.
18. Ma-la-khi
Rao giảng sau khi đền thờ được xây lại năm 515, kêu gọi hàng tư tế và dân thanh tẩy mọi tội lỗi để thờ phượng Chúa cho phải đạo.
Chú thích:
[15] Le judaïsme rabbinique (enhébreu: יהדות רבנית - Yahadout Rabbanit) est issu dujudaïsme pharisienaprès la destruction dusecond Templeen 70 apr. J.-C. Il s'est structuré duiieauvie sièclede l'ère chrétienne, date à partir de laquelle il fut reconnu comme la norme dujudaïsme.
LỊCH SỬ ÍT-RA-EN
“Mọi sự đều sẽ hết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các thế lực khác sẽ qua đi, nhưng Họ vẫn còn. Bí mật trong sự bất tử của Họ là gì?” – Văn hào Mác-cô Twain
I. NGƯỜI DO THÁI TRÊN VÙNG ĐẤT ÍT-RA-EN (CANAAN)
1. Sự ra đời của đức tin
Người Do Thái có nguồn gốc từ người Hebrew cổ đại xuất hiện tại Trung Đông vào 4.000 năm trước. Theo truyền thuyết, người Do Thái và người Ả Rập là con cháu dòng dõi từ Abram (tên lúc sinh của Abraham) là người đã vâng theo lời gọi của Thiên Chúa rời bỏ quê hương ở thành Ur thuộc phía Bắc vùng Mesopotamia (Lưỡng Hà) – nay là Đông-Nam Thổ Nhĩ Kỳ, đến lập nghiệp tại xứ Canaan, một vùng đất kéo ngang từ bờ sông Jordan tới biển Địa Trung Hải ngày nay.
Đó là vào khoảng năm 2.000 TCN. Theo Sách Xuất Hành trong Kinh Thánh, Abram cùng gia đình rời bỏ quê hương ở Ur đi đến Harran. Tại đó, Abram đã nhìn thấy Thiên Chúa trong giấc mơ và được Người chỉ đường tới vùng đất Canaan. Thiên Chúa cũng lập Giao Ước với Abram rằng: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, và Ta lập Giao Ước với ngươi. Ngươi sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc, và để đánh dấu Giao Ước này, ngươi sẽ đổi tên thành Abraham (có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”).Ta sẽ giữ lời hứa, và xứ Canaan sẽ thuộc về ngươi và dòng dõi của ngươi đời đời; và Ta sẽ là Thiên Chúa của họ.” Xứ Canaan về sau được gọi làĐất Hứa(Promised Land) là vì vậy. Abraham chấp nhận Giao Ước, và nguyện sẽ tôn thờ Thiên Chúa – Đức YHWH – là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ.
Lịch sử của dân tộc Do Thái bắt đầu với câu chuyện của gia đình Abraham như thế. Họ trở thành một thị tộc (clan), rồi phát triển lớn hơn thành một bộ tộc (tribe), và cuối cùng cắm rễ để trở thành một dân tộc (nation) – dân tộc Do Thái.
Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa tạo nên trái đất, sau đó tạo ra con người. Tên của con người đầu tiên là Adam. Con cháu của Adam và Eva dẫn tới Noah. Con trai lớn của Noah là Shem trở thành tổ tiên của các giống dân Do Thái và Ả-rập. Do đó, phát sinh danh từ ‘Semites’ để gọi chung người Do Thái và Ả-rập, có nghĩa là ‘con cháu của Shem’. Con cháu của Shem dẫn đến Abraham. Abraham cưới Sarah nhưng không có con cho nên Abraham lấy Hagar làm vợ thứ. Hagar sinh cho Abraham một con trai là Ishmael, và rồi cùng lúc người vợ đầu Sarah may mắn có bầu và sinh con trai đặt tên là Isaac. Sarah sau đó đòi Abraham đầy Hagar và Ishmael ra khỏi bộ tộc. Kinh Koran của Hồi giáo theo sát Kinh Thánh Cựu Ước cho đến thời điểm này nhưng bắt đầu tách ra từ đây. Theo Kinh Koran, Ishmael đi tới Mecca và con cháu của Ishmael phát triển mạnh khắp bán đảo Ả-rập và trở thành người Hồi giáo. Còn con cháu của Isaac vẫn ở lại Palestine và trở thành tổ tiên của ngườiHebrewmà sau này chúng ta gọi là Ít-ra-enites rồiJews, gọi chung trong tiếng Việt là người Do Thái. Trong rất nhiều thế kỷ người Hồi giáo và người Do Thái, mặc dù cùng chung một nguồn gốc, vẫn không hết thù ghét nhau phần lớn là do kỳ thị tôn giáo. Phải chăng đây là một lời nguyền nghiệt ngã mà Thiên Chúa đã đặt lên số phận người Do Thái và người Ả Rập!
Tiếp tục với câu chuyện về gia đình Abraham. Sau khi Abraham chết, trách nhiệm lãnh đạo được truyền lại cho con trai của ông là Isaac, và rồi đến con trai của Isaac là Jacob. Jacob về phần mình có mười hai người con trai. Tất cả từ Abraham, Isaac, Jacob cho đến mười hai người con trai của Jacob được gọi là ‘tổ phụ’ (Patriarchs) tức là tổ tiên của dân tộc Do Thái. ChữÍt-ra-enlần đầu tiên được dùng trong Kinh Thánh có liên quan đến Jacob. Một đêm, Jacob nằm mơ vật lộn với một người lạ, và sau đó, chính người lạ ấy – hình bóng của Thiên Chúa – đã chúc phúc và đặt cho Jacob cái tênÍt-ra-en, có nghĩa là ‘Kẻ chiến đấu với Thiên Chúa’. Kể từ đó, người Hebrew được gọi làBnei YÍt-ra-en– ‘Son of Ít-ra-en’ (Những người con của Ít-ra-en) – hoặcÍt-ra-enites.
Theo thời gian, từ dân tộc Do Thái đã ra đời ba tôn giáo lớn nhất và ảnh hưởng nhất trên thế giới, khởi đầu là Do Thái giáo vào khoảng năm 1500 TCN, tiếp theo là Ki-tô giáo được Chúa Giê-su sáng lập vào giữa thế kỷ 1 như một nhánh ly khai từ Do Thái giáo, và sau đó là Hồi giáo được nhà ngôn sứ Muhammad sáng lập vào thế kỷ 6. Tuy nguyên thủy không phải là một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Ki-tô giáo, Hồi giáo tự cho mình là sự tiếp nối hoàn hảo và thay thế cho hai tôn giáo nói trên. Sự ra đời của ba tôn giáo cùng những bản văn thiêng liêng đã tạo nên Kinh Thánh – cuốn sách được đọc rộng khắp nhất qua mọi thời đại. Sách Torah của Do Thái giáo (hay còn được gọi là Cựu Ước theo Ki-tô giáo) đã đem lại nguồn cảm hứng cho 14 triệu tín đồ Do Thái giáo, hai tỷ tín đồ Ki-tô giáo, và được kể lại trong Kinh Koran cho 1,5 tỷ tín đồ Hồi giáo.
2. Canaan và người Canaan ( Canaanites)
Canaan nằm ở nơi giao nhau của các nền văn minh, kết nối ba châu lục Phi, Âu và Á. Nếu như ngày nay người ta tin rằng con người có nguồn gốc từ châu Phi, thì tổ tiên của tất cả người châu Á và châu Âu chắc chắn đã đi qua vùng đất này.
Khi các Đế quốc lần lượt nổi lên thì vùng đất Canaan trở thành địa điểm chiến lược. Nó trở thành một hành lang nằm giữa biển và sa mạc, cung cấp cho các đoàn thương nhân và các đạo quân chinh phục một con đường độc nhất xuyên giữa các quốc gia rộng lớn và hùng mạnh xung quanh. Những trận đánh dữ dội đã diễn ra trên và quanh vùng đất Canaan. Tất cả những điều này khiến Canaan trở thành lời nguyền cũng như phước lành cho các dân tộc nhỏ sống ở đó. Trong số các dân tộc này có tổ tiên của người Do Thái.
Có rất ít bằng chứng vật chất về người Do Thái đầu tiên. Phần lớn những điều chúng ta biết về người Do Thái là qua sách Torah (Ngũ thư) – một tài liệu rất có khả năng thiếu sót nếu được xem là một tư liệu tham khảo lịch sử.
Như đã nói trong Kinh Thánh, sự tồn tại của người Canaan (gọi là Canaanites) của Palestine có thể được xác nhận, cũng như người Moabites, Amorites, và Edomites ở phía đông, vương quốc Aram ở phía bắc. Những bảng đất sét Ebla (Ebla Tablets) có chạm khắc trong khoảng thời gian rất sớm là năm 2350 TCN được đào thấy ở thành cổ Ebla thuộc miền Bắc Syria cho biết manh mối về người Canaan. Những lá thư giao dịch Mari (Mari Letters) và Amarna (Amarna Letters) đều viện dẫn đến những người du mục lang thang gọi làHabiruhayApiru, tựa như rất giống ngườiHebrew. Habiru hoặc Apiru là tên gọi đã được tìm thấy trong các nguồn di tích khác nhau từ Sumerian, Ai Cập, Akkadian, Hittite, Mitanni, Ugaritic (trong khoảng thời gian giữa 1800-1100 TCN) cho một nhóm người xâm lăng du cư trong các khu vực của Fertile Crescent (vùng Lưỡi liểm Phì nhiêu) từ đông bắc Mesopotamia và Iran đến biên giới của Ai Cập ở Canaan. Tùy thuộc vào nguồn và thời đại, những người Habiru này được mô tả là dân du mục hoặc bán du mục, phiến quân, ngoài vòng pháp luật, cướp, lính đánh thuê, tôi tớ, nô lệ, lao động phục dịch, vv…
Một giả thuyết khá thuyết phục hiện nay cho rằng người Do Thái cổ đại mà chúng ta gọi là Hebrew là pha trộn của người Canaan và người Habiru, hoặc dân cướp Shasu Bedouin là những người sau này khẳng định có nguồn gốc từ Ur. Theo thời gian có vẻ như họ đã đạt tới biểu tượng của nền văn minh, với một ngôn ngữ mẹ đẻ tinh tế. Tiếng Hebrew thuộc cùng hệ ngôn ngữ Semitic như tiếng Canaanite, Phoenician và Punic, nhưng cho đến nay chỉ có tiếng Hebrew là còn sót lại. Người Canaan cũng phát triển bảng chữ cái phụ âm đầu tiên của thế giới trong thế kỷ 18 và 17 TCN. Được phổ biến bởi người Phoenician thông qua thương mại, bảng chữ cái này hình thành các mẫu (template) cho các hệ thống mẫu tự Hebrew, và sau đó cho tiếng Hy Lạp, Latinh và tiếng Ả Rập.
Về chính trị, Abraham, Isaac và Jacob chỉ là những diễn viên nhỏ tại vùng đất Canaan giữa vô số những bộ lạc lớn hơn xung quanh. Trong suốt thiên niên kỷ thứ 2 TCN, Canaan chỉ là một tỉnh của một trong những cường quốc trong khu vực hồi đó: Ai Cập ở phía nam, Babylon và Mesopotamia ở phía bắc. Những cường quốc này tự phụ là có những hệ thống quản trị tiên tiến, sở hữu công nghệ quân sự mới nhất, và buôn bán mở mang vượt ra khỏi biên giới. Không ai thoát khỏi ảnh hưởng của họ cả về vật chất như nghệ thuật và kiến trúc, cũng như tinh thần.
Những truyền thuyết và các chuẩn mực xã hội của Mesopotamia rõ ràng đã ảnh hưởng và đem lại màu sắc cho những phong tục tập quán của người Do Thái những ngày đầu.
3. Di cư đến Ai Cập
Pharaoh Djoser [2650-2575 TCN] xây dựng kim tự tháp đầu tiên vào năm 2650 TCN tại Saqqara và khởi đầu cho Cổ Vương Quốc Ai Cập (Old Kingdom of Egypt) đóng đô tại Memphis. Cổ Vương Quốc đã bị tan rã trước tình trạng hỗn loạn vào năm 2180 TCN. Trong khoảng 200 năm, Ai Cập bị chia đôi thành Vương quốc miền Bắc và Vương quốc miền Nam và cuối cùng thống nhất thành Vương Quốc Ai Cập (Middle Kingdom of Egypt) vào khoảng năm 2000 TCN dưới quyền trị vì của Pharaoh Mentuhotep II đóng đô tại Thebes.
Sau năm 1800 TCN, bùng nổ kinh tế ở Ai Cập đã lôi kéo hàng ngàn người ngoại quốc di cư đến đây, trong đó có cả người Palestine. Họ lập nên những cộng đồng riêng và có cả vua riêng của họ.
Tại Canaan, một trăm năm sau Abraham, vào thời đại của Jacob, đất Canaan rơi vào cảnh mất mùa đói kém. Dân Do Thái lại phải tiếp tục di cư tìm kiếm những đồng cỏ mới. Lúc này, đất Ai Cập với phù sa sông Nile là vựa lúa của vùng Địa Trung Hải và là miền đất hứa cho các dân tộc quanh đó tìm đến khi gặp đói kém hoạn nạn. Toàn thể gia tộc của Jacob với nhân số khoảng 70 người dưới sự dẫn dắt của Jacob di cư sang Ai Cập. Chuyến đi tị nạn tưởng chỉ một đôi vụ mùa, ngờ đâu kéo dài tới 400 năm. Mười hai người con trai của Jacob phát triển thành 12 chi tộc sống ở Goshen, vùng đất phì nhiêu của Ai Cập, thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Người Do Thái chuyển từ cuộc sống du mục sang cuộc sống định cư nông nghiệp. Rồi thời thế lại thay đổi, 70 người di dân nay phát triển thành hàng trăm ngàn người, và trở thành mối lo ngại cho người Ai Cập rằng sự phát triển của người Do Thái có thể gây tổn hại đến Đế chế Ai Cập. Các Pharaoh về sau quay lưng lại ngược đãi người Do Thái, bóc lột họ như nô lệ, ép họ phải đi lao dịch nặng nhọc và độc ác nhất là ra lệnh dìm chết tất cả những bé trai Do Thái mới lọt lòng nhằm dần dần tiêu diệt dân Do Thái.
Những tư liệu của Ai Cập chưa bao giờ đề cập đến sự tồn tại của người Do Thái dọc theo sông Nile. Thậm chí Kinh Thánh không nói gì trong quãng thời gian 400 năm giữa thời Joseph (con cả của Jacob) và Mô-sê. Tuy nhiên điều đó không phải là không chứng minh sự có mặt của người Do Thái ở Ai Cập. Trong khoảng thời gian 1700-1550 TCN, một nhóm người gọi là Hyksos nổi lên và có vẻ như đã loại trừ tất cả các thủ lĩnh người bản địa. Câu hỏi rằng nhóm người này gốc gác ở đâu cho đến nay vẫn là một ẩn số. Một vài học giả cho rằng đó là người Semite, một vài người khác cho rằng đó là người Ấn-Âu (Indo-European) từ Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại). Nhiều sử gia, quay lại tham khảo sử gia Ai Cập Manetho (thế kỷ 3 TCN), suy luận rằng đó là người Do Thái.
4. Mô-sê
Giữa hoàn cảnh nô lệ đầy khổ cực của người Do Thái, một cứu cánh đã đến, như một phép màu, đã giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Đó là sự xuất hiện của Mô-sê vào khoảng thế kỷ 15-14 TCN.
Theo lời kể lại trong Kinh Thánh, Mô-sê là một người kiệt xuất: nhà lãnh đạo dân tộc, nhà thông thái, người mang tư tưởng kiến thiết xã hội, người thầy thực tế, một con người đầy lòng trắc ẩn, cấp tiến, và đôi khi cũng là một bạo chúa. Mô-sê là người đã dẫn dắt dân Do Thái trong cuộc hành trình Xuất hành ra khỏi Ai Cập. Mô-sê cũng là người Hebrew đầu tiên đã có ảnh hưởng lên thế giới cổ đại. Người Hy Lạp đã xếp Mô-sê đứng cùng hàng với các vị thần và anh hùng của họ.
Nguồn thông tin duy nhất mà chúng ta có về cuộc đời của Mô-sê là từ Sách Torah . Không có bất cứ một hé lộ nào về Xuất hành trong các tư liệu của Ai Cập. Tuy nhiên vị trí tâm điểm của Mô-sê đối với Do Thái giáo là không thể chối cãi.
Tên gọi ‘Mô-sê’ có thể có nguồn gốc Ai Cập. Theo lời kể trong Kinh Thánh, Mô-sê được sinh ra ở Ai Cập, bố là Amram người Levite, và mẹ là Jochebed người Do Thái. Người Do Thái sống gần 400 năm trong sự hòa đồng với người Ai Cập trên vùng đất Goshen phía đông của đồng bằng sông Nile. Khi một Pharaoh mới lên cầm quyền và ra lệnh giết tất cả những trẻ sơ sinh trai Do Thái, người chị của Mô-sê là Miriam đã dấu Mô-sê trong một bụi cây bồ hoàng cho đến khi công chúa Thermuthis con gái Pharaoh phát hiện ra. Công chúa mang bé trai về cung và đặt tên là Mô-sê. Từ đó Mô-sê được nuôi dưỡng và lớn lên như một hoàng tử trong hoàng cung.
Một hôm, Mô-sê giết chết một người lính Ai Cập khi chứng kiến người lính này đánh đập một người nô lệ Do Thái. Lo sợ bị phạt, Mô-sê bỏ trốn hoàng cung chạy đến Ethiopia làm người chỉ huy quân đội. Sau đó ông di chuyển đến sa mạc Jordan làm người chăn cừu cho Tư tế Jethro người Midianites. Trong thời gian này, Mô-sê cưới con gái của Jethro, Zipporah, và sinh con trai là Gershom.
40 năm sau, liên quan đến Xuất hành, theo Sách Xuất Hành 2-3 (Kinh Thánh Hebrew), một lần trong khi Mô-sê dẫn cừu đi sâu vào vùng núi thiêng Sinai (thuộc bán đảo Sinai của Ai Cập ngày nay), bỗng nhiên Thiên Chúa hiện ra ở giữa một bụi gai đang bốc cháy. Rồi Mô-sê nghe tiếng Thiên Chúa nói, “Ta đã thấy nỗi thống khổ của dân ta ở Ai Cập, nơi họ đang bị đối xử như nô lệ. Ta sẽ giải phóng chúng khỏi đất nước tàn bạo đó, và ban cho chúng một mảnh đất khác tốt lành, đượm sữa và mật. Vì thế, ngươi, Mô-sê, phải dẫn dắt dân ta ra khỏi Ai Cập về Miền Đất Hứa”.
Thế là Mô-sê, cầm theo cây gậy linh thiêng của Thiên Chúa ban cho, cùng với vợ con lên đường trở lại Ai Cập đặng giải thoát dân Do Thái đang bị câu thúc. Biến cố ly kỳ này được ghi lại trong Sách Xuất Hành, mô tả chi tiết hành trình gian truân về Miền Đất Hứa (sử hiện đại gọi cuộc hành trình này là The Exodus) của khoảng bốn chục vạn dân Do Thái, chạy trốn khỏi Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ (Red Sea), đi về hướng đông qua nhiều sa mạc hoang vu và lưu lạc ở đó suốt 40 năm, cuối cùng trở về chinh phục vùng đất Canaan mà Thiên Chúa đã hứa cho họ từ thời Abraham. Riêng Mô-sê, dù sống thọ đến 120 tuổi, Mô-sê đã không được vào Miền Đất Hứa mà phải chết trong sa mạc.
Trong hành trình gian truân về Miền Đất Hứa, một sự kiện rất trọng đại đã xảy ra có liên quan đến ‘Mười Điều Răn’ (The Ten Commandments) của Thiên Chúa. Đó là thời điểm khi người Do Thái dừng chân tại vùng núi thiêng Sinai. Từ ngọn núi này, Thiên Chúa đã truyền ban Mười Điều Răn và Lề Luật cho dân Do Thái thông qua Mô-sê. Mười Điều Răn tuyệt đối này, rất căn bản cho đời sống của người Do Thái giáo, được tìm thấy trong Sách Xuất Hành 20,1-17 và Sách Đệ Nhị Luật 5,6-21 của Kinh Thánh Hebrew.
Trước đây, Thiên Chúa giao ước riêng với Abraham, còn lần này, Ngài giao ước với toàn thể dân tộc Do Thái qua những lần Mô-sê lên đỉnh núi Sinai để trực tiếp gặp Ngài. Qua những lần gặp gỡ Thiên Chúa, Mô-sê chuyển giao lại cho dân tộc Do Thái các huấn thị của Ngài. Thiên Chúa lúc này tỏ lộ danh xưng là ‘YHWH’, gọi làJaveh, nghĩa là ‘Ta là kẻ ta là’. Và đặc điểm của Giao Ước lần này cũng rất rành rọt, đó là chừng nào dân Ngài chọn còn vâng lời Ngài, chừng đó họ sẽ được Ngài che chở.
Những tư liệu pháp lý liên quan đến sự kiện trên núi Sinai đã trở thành những tư liệu quan trọng nhất trong Kinh Thánh Hebrew. Theo Sách Sáng Thế, các nguyên lý căn bản của Do Thái giáo thực sự được mặc khải tuần tự theo dòng dõi các tổ phụ, từ Adam đến Jacob. Tuy nhiên, Do Thái giáo thực sự được hình thành như là một tôn giáo chỉ khi Mô-sê nhận lãnh Mười Điều Răn trên núi Sinai, cùng với hệ thống tư tế và các nghi thức thờ phụng tại Đền thờ Giê-ru-sa-lem sau khi dân tộc này được giải cứu khỏi Ai Cập.
Nhiều câu hỏi rằng tại sao Mô-sê lại dẫn dắt đoàn người quẩn quanh trong sa mạc tới 40 năm trước khi trở về Miền Đất Hứa? Làm sao một dân tộc quen sống trong cảnh sung túc rồi chịu làm nô lệ hàng trăm năm có đủ tính cách và bản lĩnh để có thể chinh phục vùng đất trước mặt và xây dựng một quốc gia hùng mạnh trong tương lai? Làm sao Giao Ước của Thiên Chúa, vốn thuần túy chỉ là những hứa hẹn, được pháp chế hóa thành luật lệ và thiêng liêng hóa trong những ràng buộc mang tính tôn giáo?
Theo truyền thống Do Thái giáo, để có đủ năng lực tiếp nhận Miền Đất Hứa và xứng đáng làm người chủ của nó, Mô-sê đã buộc phải dẫn dắt dân Do Thái trải qua những cuộc thanh tẩy đạo đức cùng thao luyện nghiệt ngã trong suốt 40 năm trong sa mạc cho đến khi một thế hệ mới trưởng thành có đủ bản lĩnh để chinh phục Miền Đất Hứa. Mô-sê được mô tả trong Thánh Kinh là một lãnh tụ tôn giáo, người công bố luật pháp, nhà ngôn sứ đầu tiên của Do Thái giáo. Ông được xem là người viết Sách Torah (năm sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew, còn gọi làNgũ thư Kinh Thánh hay Ngũ kinh Mô-sê) trong quãng thời gian 40 năm trong sa mạc. Mô-sê còn được coi là một thiên tài quân sự và là một vị anh hùng dân tộc của người Do Thái. Buổi đầu sự nghiệp của ông khá giống với vua Cyrus Đại Đế – vị Hoàng đế khởi lập Đế quốc Ba Tư. Ông cùng với vua Cyrus Đại Đế đều đóng vai trò vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc mình.
Trên thực tế, ngoài những hiểu biết dựa theo các tài liệu trong Kinh Thánh Hebrew, chúng ta không có những tư liệu lịch sử đáng tin cậy khác về hành trình của Mô-sê, và vì vậy những câu chuyện trong Kinh Thánh Hebrew cho ta cảm giác về những huyền thoại không xác thực. Chúng ta chỉ có thể phán đoán rằng khi Mô-sê dẫn người Do Thái đến đỉnh núi Sinai thì ông ta chỉ làm theo tập tục lâu đời của người Ai Cập có hàng ngàn năm trước đó trong những cuộc viễn chinh săn tìm đá quí. Câu chuyện về cuộc sống lang thang 40 năm trong sa mạc cũng thế, thoạt nghe tưởng như khó tin, song giờ đây lại có vẻ hợp lý với một dân tộc quen sống du mục; và cuộc chinh phục xứ Canaan nói cho cùng chỉ là trường hợp một bộ tộc du mục đói khát tấn công một cộng đồng định cư yên ổn để giành đất sống.
Khi đề cập đến câu chuyện 40 năm này, bà Golda Meir, người “đàn bà sắt”và cũng là thủ tướng thứ tư của Ít-ra-en [1969-1974], đã có lần nói vui rằng: “Hãy để cho tôi nói cho các bạn nghe về một điều mà tôi chống lại Mô-sê. Đó là ông ta đã dẫn dắt chúng tôi 40 năm lang thang trong sa mạc để rồi cuối cùng đưa chúng tôi đến một vùng đất ở Trung Đông (tức là Canaan) không có lấy một giọt dầu mỏ.” Quả là một nghịch cảnh.
Trong những ngày cuối đời, Mô-sê chuyển giao quyền lãnh đạo sang cho Joshua, con một người gác trại thân cận của Mô-sê. Không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự, Joshua giờ có trong tay quyền lực qua phước lành của Mô-sê. Nhưng liệu Joshua có thể tập hợp và gắn kết các bộ tộc với nhau hay không?
5. Trở về Canaan
Sách Joshua (The Book of Joshua – cuốn thứ 6 trong Kinh Thánh Hebrew), kể lại chuyện đoàn người Do Thái do Joshua dẫn đầu đã vượt sông Jordan và bao vây thành cổ Jericho, rồi thổi vang kèn chiến thắng và kéo đổ tường thành vào ngày thứ bảy của cuộc tấn công. Câu chuyện trên được viện dẫn từ Kinh Thánh. Còn chuyện thực là như thế nào?
II. CUỘC CHINH PHỤC ĐẤT HỨA
Bằng chứng khảo cổ cho thấy rằng các bức tường thành Jericho đã đổ rất lâu trước khi người Ít-ra-en trở về. Một số học giả đặt câu hỏi cuộc tấn công quân sự của người Do Thái như mô tả ở trên có thực sự xảy ra hay không, và tin rằng người Do Thái đã mất tới trên 2 thế kỷ để xâm nhập Canaan. Những lời kể về cuộc chinh phục Canaan của Joshua trong các Sách Dân số (The Book of Numbers – cuốn thứ 4 trong Kinh Thánh Hebrew), Sách Joshua (The Book of Joshua – cuốn thứ 6 trong Kinh Thánh Hebrew), và Sách Thủ Lĩnh (The Book of Judges – cuốn thứ 7 trong Kinh Thánh Hebrew) cho thấy những bất đồng.
Tuy nhiên những hình ảnh trong Kinh Thánh cũng có những giá trị nhất định. Những khai quật cho thấy rằng những thành phố của Canaan như Lachish, Kiryat-Sepher và Eglon ở phía nam, Bethel ở giữa, và Hazor, một thành phố ở cực bắc, tất cả đều bị phá hủy vào cuối thế kỷ 13 TCN. Các bằng chứng khác khẳng định rằng cuộc tấn công vùng đồi núi Canaan đã xảy ra bắt đầu từ phía đông sang phía tây là ăn khớp với câu chuyện trong Kinh Thánh.
Đền thờ tại Shechem, một thành phố của Canaan, nơi mà Abraham được Thiên Chúa hứa cho Canaan một thiên niên kỷ trước, không có dấu hiệu bị phá hủy. Điều này nhất quán với khẳng định trong Sách Joshua rằng người Do Thái không bị cản trở trong cuộc tấn công ở đó. Xâu chuỗi tất cả những bằng chứng từ khảo cổ, các nguồn Kinh Thánh và địa chính trị của thời gian đó, chúng ta có thể dựng lại câu chuyện như sau.
Người Do Thái xuất hiện từ Sinai và đi vào khu vực Transjordan, chuẩn bị tiến vào Canaan từ phía đông. Họ trang bị vũ khí nhẹ và mệt mỏi sau 40 năm trong sa mạc. Cuộc tấn công vào các thành phố được phòng thủ kiên cố của Canaan dường như bị thất bại. Thêm nữa, người Canaan tổ chức quân đội theo kiểu tập đoàn quân (field army), vì thế các trận đánh đối diện trực tiếp trên chiến trường theo kiểu qui ước của người Do Thái không mang lại kết quả.
Do vậy, người Do Thái thay đổi chiến thuật sang chiến tranh du kích. Họ lấy được các thành phố Bethel, Ai và Gibeah bằng cách giả vờ rút lui và gài gián điệp vào thành Jericho trước khi bao vây. Thông thường người Do Thái sử dụng phương thức ngoại giao để chia rẽ các dân tộc khác nhau của Canaan. Thí dụ như họ lập được hiệp ước với người Hivites của thành phố cổ Gibeon và các thành phố lân cận, giúp họ phòng thủ khi bị bốn thành bang (city-states) của Canaan tấn công.
1. Các đợt tấn công
Có thể chia các cuộc tấn công của người Do Thái thành hai đợt. Đợt tấn công thứ nhất do các bộ tộc Rachel thực hiện (Rachel là tên người vợ chính của Jacob), dưới sự lãnh đạo của Ephraim và Manasseh thuộc gia đình Joseph (Joseph là con đầu của Jacob). Họ tiến quân qua các vương quốc Moab và Edom của Transjordan. Sau khi vượt qua sông Jordan và lấy được Jericho, họ trèo lên dãy núi và vượt qua ngọn Ephraim. Từ đó tỏa ra theo các hướng khác nhau.
Đợt tấn công thứ hai là của thế hệ tiếp theo. Các bộ tộc Leah (Leah là tên của người vợ thứ của Jacob) do Giu-đa lãnh đạo (Giu-đa là con thứ hai của Jacob). Sau khi đánh bại người Amorites, họ tiến vào Canaan về phía bắc của Jericho và tiếp tục di chuyển về hướng dãy núi Judaean Hills và vùng đồng bằng Shefelah Plain gần bờ biển. Trong khi đó, các thị tộc không phải Do Thái nhưng có quan hệ với Giu-đa như Calebites, Kenites, và Kenizzites giúp đỡ họ chiếm Hebron và Sa mạc Negev.
Sách Joshua nói rằng người Do Thái tiêu diệt 12 thành phố pháo đài, nhưng thừa nhận rằng còn lâu mới có thể khống chế toàn bộ khu vực. Sau những thắng lợi ban đầu, tình thế bị đảo ngược và người Do Thái bị đẩy ra khỏi các đồng bằng ven biển vào vùng đồi núi khô cằn.
2. Canaan đa sắc tộc
Người Do Thái sống cạnh các dân tộc khác ở Canaan. Ở biên giới phía bắc là người Phoenician, phía đông là người Ả Rập và các dân du mục Semitic khác như là Ammonites. Vào khoảng năm 1175 TCN, một nhóm người mới xuất hiện làm đảo lộn trật tự sắc tộc vốn rất mong manh của Canaan. Đó là người Philistines, một giống dân tiến bộ định cư dọc theo bờ biển phía nam của Canaan, tiền thân của người Palestine sau này.
Lúc này 12 con trai của Jacob (theo thứ tự sinh), Reuben, Simeon, Levi, Giu-đa, Dan, Naphtali, Gad, Asher, Issachar, Zebulun, Joseph and Benjamin trở thành tổ tiên của mười hai bộ tộc Ít-ra-en, trừ trường hợp của Joseph, người có hai con trai Manasseh và Ephraim đã được Jacob nhận làm con nuôi và trở thành danh xưng (eponym) của bộ tộc, theo Genesis 48. Tên của các bộ tộc này là:Reuben, Simeon, Levi, Giu-đa, Zebulun, Issachar, Dan, Gad, Asher, Naphtali, Joseph and Benjamin. Trong 12 bộ tộc này, bộ tộc được các độc giả hiện đại biết đến nhiều nhất là bộ tộcGiu-đa.
3. Cuộc sống trên Miền Đất Hứa
Sách Joshua và Sách Thủ Lĩnh mô tả cuộc sống buổi đầu của người Do Thái sau khi trở về Canaan là một xã hội nghèo, nông nghiệp, tổ chức theo bộ tộc và bình đẳng. Những khai quật khảo cổ trong Hậu kỳ Thời đại Đồ đồng đã xác nhận những mô tả này. Người Do Thái tổ chức xã hội dựa trên một hệ thống chính quyền cộng hòa lỏng lẻo, gọi là edah, giống như hội đoàn hay hội đồng. Ranh giới các bộ tộc dịch chuyển theo thời gian dựa trên các tranh chấp với láng giềng. Tranh chấp biên giới nội bộ rất hiếm khi xảy ra, tuy nhiên Sách Joshua có ám chỉ bóng gió đến sự ly khai giữa các bộ tộc miền bắc và nam.
III. TỪ LIÊN MINH CHI TỘC SANG CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ
Lúc đầu, người Do Thái không có vua. Họ chỉ liên kết với nhau dựa vào những điều răn của Thiên Chúa và chung sống dựa vào sự hiểu biết Thiên Chúa của họ. Từ khoảng năm 1200 TCN cho tới năm 1047 TCN, các bộ tộc người Do Thái sống bằng nghề canh nông và chăn nuôi, được tổ chức và cai trị không phải theo nguyên tắc nhà nước mà theo chế độ gia trưởng phụ quyền. Người đứng đầu cao tuổi nhất trong mỗi tộc họ tham dự vào hội đồng bô lão, đây là tòa án đưa ra phán xét cuối cùng trong bộ tộc. Các lãnh đạo của bộ tộc được gọi là thủ lĩnh, hay còn gọi là thẩm phán (judge), có trách nhiệm đặc biệt phân xử về đất đai, hôn nhân và các sự việc liên quan tới lề luật. Đồng thời, họ còn lãnh đạo những cuộc hành quân phối hợp giữa các bộ tộc trong những trận đánh với các dân tộc xung quanh, đặc biệt với quân Philistine.
Như đã đề cập ở trên, sự xuất hiện của người Philistines vào khoảng năm 1175 TCN đã làm đảo lộn trật tự sắc tộc vốn rất mong manh của Canaan. Trong khi người Do Thái và người Canaan sau nhiều căng thẳng đạt được thỏa thuận về những khu vực ảnh hưởng và ngưng chiến thì người Philistines đã xuất hiện và đe dọa sự ổn định hòa bình của khu vực. Ngày nay từ ‘Philistines’ ám chỉ cho một cái gì đó quê mùa, nhưng người Philistines thời đó thực sự rất có tài về nghệ thuật. Họ cũng là giống người thông minh trong nghệ thuật chiến tranh. Người Philistines đã sớm biết sử dụng kiếm sắt và mũ đồng như trong Sách Samuel (The Book of Samuel – cuốn thứ 8 của Kinh Thánh Hebrew) đã miêu tả về người chiến binh Philistines khổng lồ Goliath. Tuy nhiên, mặc dù người Philistines rất cẩn mật dấu diếm cách sản xuất vũ khí của họ, người Do Thái vẫn ăn cắp được những bí mật này và sao chép lại.
Sau khi ổn định định cư dọc theo bờ biển phía nam của Canaan, từ những địa điểm dọc bờ biển như Gaza, Gath, Ashkelon, Ekron và Ashdod, người Philistines bắt đầu lấn sang vùng đất nội địa của Canaan. Các bộ tộc người Do Thái ở phía nam liên tiếp bị người Philistines tấn công [1180-1150 TCN]. Tình trạng tranh chấp và chia rẽ giữa các bộ tộc cùng với những xung đột với các dân tộc bản địa xung quanh đặc biệt là với người Philistines dần dà vượt ra ngoài tầm giải quyết của các thủ lĩnh. Đã tới lúc người Do Thái đòi hỏi cần phải có một chính quyền trung ương, dưới sự cai trị của một vị vua. Thế là Saul [1043-1010 TCN] trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Thống nhất Ít-ra-en. Tiếp theo là David [1002-970 TCN] là con rể của Saul, và sau đó là Salomon [970-931 TCN], con trai của David. Ít-ra-en chuyển dịch từ chế độ liên minh bộ tộc sang chế độ quân chủ.
1. Những vị vua vĩ đại ban đầu Saul, David, Salomon
Saul là một nông dân thuộc bộ tộc Benjamin, là bộ tộc chịu rất nhiều tổn thất do những cuộc tấn công của người Philistines. Tại thời điểm khi người Do Thái đòi hỏi cần phải có một chính quyền trung ương dưới sự cai trị của một vị vua, và sau rất nhiều lựa chọn khó khăn, Saul đã được nhà ngôn sứ Samuel xức dầu và trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Thống nhất Ít-ra-en gồm 12 bộ tộc [1052 TCN]. Saul rất hiểu hoàn cảnh lúc đó của người Do Thái, và theo Sách Samuel, Saul rất thành công trong việc chiến đấu với kẻ thù từ mọi phía – người Philistines, Edomites và Ammonites, người Gibeonites, và người du mục Moabites. Trong thời gian trị vì, Saul và vị tổng chỉ huy quân đội đã xây dựng nên lực lượng quân đội chuyên nghiệp đầu tiên của Ít-ra-en gồm các đơn vị dựa trên đặc điểm của các bộ tộc và lãnh thổ. Tuy nhiên, theo Sách Samuel, Saul đã đôi lần không vâng lời nhà ngôn sứ Samuel và cuối cùng thì Samuel đã tuyên bố rằng Thiên Chúa đã từ chối Saul trong vai trò của một vị vua. Đến thời điểm này thì “nhân vật”David bước vào câu chuyện của cung đình.
David, sau này trở thành con rể của Saul, thuộc bộ tộc Giu-đa và là một người có biệt tài ngâm thơ. David đồng thời cũng là một tài năng lớn về quân sự. Theo lời kể trong Sách Samuel, David giết chết người khổng lồ Goliath của Philistines chỉ với một hòn đá và súng cao su [1024 TCN]. Trong vai trò lãnh đạo quân đội, David luôn giành thắng lợi ở trong bất cứ trận đánh nào mà Saul phái tới. Mỗi lần trở về từ các trận đánh, phụ nữ nhẩy múa và không tiếc lời ca ngợi David, tôn vinh chàng như một anh hùng quân đội vĩ đại hơn cả Saul. Điều này khiến Saul rất tức giận và ghen tuông trong nỗi lo sợ rằng David sẽ giành ngôi của mình. Lo sợ bị Saul ám hại, David phải bỏ trốn cùng với nhóm người thân tín của mình. Saul giết tất cả những ai đã che dấu David (1011 TCN).
Thiếu cánh tay quân sự tài ba của David, vài năm sau, trong một trận đánh với người Philistines tại núi Gilboa, quân đội của Saul chịu thất bại thảm hại và Saul tự vẫn (1010 TCN). Xác của Saul bị treo trên những bức tường của thành Beth She’an và được chôn ở Zelah. Con trai của Saul, Ish-Boshet, nối ngôi vua Ít-ra-en được hai năm [1007-1005 TCN].
Sau cái chết của Saul, bộ tộc Giu-đa ly khai khỏi sự cai trị của Gia đình Saul (House of Saul) bằng cách tôn vinh David làm vua của Giu-đa [1010-1002 TCN]. Chiến tranh giữa Ish-Boshet và David xảy ra sau đó với thắng lợi luôn nghiêng về phía David. Năm 1005 TCN, đội quân du kích của David đánh bại các lực lượng chính thống của Ish-Boshet. Năm 1002 TCN, David thống nhất Vương quốc Ít-ra-en. Lịch sử Do Thái bước vào một giai đoạn mới dưới sự trị vì của David [1002-970 TCN]. Ngôi sao sáu cánh đặc biệt của David (David Star) đã trở thành biểu tượng của dân tộc Do Thái, cùng với những bài thánh vịnh bất hủ của ông.
Vua David qua đời năm 970 TCN, nối ngôi là hoàng tử Salomon, một học giả đầy trí tuệ. Thời đại Salomon thịnh trị, thu phục được lòng tin của lân bang, mở rộng ngoại thương tới các xứ xa. Về mặt kinh điển, Sách Torah được ghi thành văn bản dưới triều đại Salomon. Về mặt xây dựng đất nước, Salomon đã chia Ít-ra-en thành 12 khu vực thuế và phát triển Vương quốc thành một trung tâm buôn bán hùng mạnh và thịnh vượng. Salomon đã mở rộng đất đai bằng tài đàm phán và ngoại giao của ông hơn là những người tiền nhiệm đã thực hiện bằng chiến tranh. Biên giới đế quốc của Salomon trải dài từ sông Nile đến sông Euphrates bao trùm cả những kẻ thù cũ, gồm cả Philistines. Bằng chứng về sự mở rộng của vương quốc đã được tìm thấy vào năm 1902 với việc phát hiện những di tích của Ir Ovot, một pháo đài cao nguyên ở Sa mạc Negev, miền Nam Ít-ra-en. Di tích này được các nhà khảo cổ xác định là thuộc vào thế kỷ 10 TCN.
Tài năng thiên phú của David và Salomon còn được thể hiện nổi bật trong thi ca. Các bản văn trong Kinh thánh bao gồm nhiều đoạn văn được cho là của David và Salomon, nổi tiếng nhất là các thánh vịnh (Sách Thánh Vịnh – Book of Psalms – cuốn thứ 14 trong Kinh Thánh Hebrew), nơi mà thiên tài thi ca và niềm đam mê tôn giáo của David đã thể hiện một cách rõ nét. Các giáo sĩ Do Thái (Rabbis) cũng tin rằng Sách Châm Ngôn (Book of Proverbs – cuốn thứ 15 trong Kinh Thánh Hebrew) chính là tài hoa của Salomon.
Năm 960 TCN dưới thời Vua Salomon, Đền thờ Giê-ru-sa-lem đã được khởi công xây dựng, hoàn thành vào năm 825 TCN và được xem là kỳ quan đệ nhất của thế giới thời đó, hoàn thành giấc mơ dang dở của Vua David. Có thể nói thời đại David-Salomon là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Ít-ra-en. Nó vĩnh viễn là một hoài niệm đầy tự hào của dân Do Thái suốt mấy ngàn năm.
2. Vương quốc Thống nhất Ít-ra-en bị chia đôi, Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy lần thứ nhất (586 TCN): Ly tán lần thứ nhất
David và Salomon đã trở nên bất tử trong cả ba đức tin độc thần giáo, nhưng từ góc độ lịch sử, cái chết của Salomon đã để lại một khoảng trống dẫn đến sự chia cắt của Vương quốc Thống nhất Ít-ra-en.
Trong nhiều thập kỷ, 10 bộ tộc phương Bắc không cảm thấy dễ chịu chấp nhận David là vua của họ. Sang đến thời Salomon, nhờ vào trí tuệ và sự khéo léo cho nên Salomon mới có thể tạm gắn kết những bộ tộc gây gổ này lại với nhau. Lý do chính của sự chia cắt là va chạm giữa Rehoboam, con trai và cũng là người kế thừa Salomon, và Jeroboam, một phiến quân thuộc bộ tộc Ephraim trong triều đình của Salomon. Năm 922 TCN, một cuộc nổi loạn đã chia Vương quốc Ít-ra-en thành hai tiểu vương quốc. Jeroboam, người không thuộc hoàng tộc David, lãnh đạo cuộc nổi loạn của mười bộ tộc phương Bắc lập nên nước Ít-ra-en lấy thủ đô là Samaria (gọi là Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc hay Vương quốc Samaria). Chỉ còn lại hai bộ tộc Giu-đa và Benjamin trung thành với hoàng tộc David làm thành nước Giu-đa ở phương Nam, nơi có Đền thờ Giê-ru-sa-lem, lấy thủ đô là Giê-ru-sa-lem.
Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc [930-720 TCN] chỉ tồn tại được khoảng 200 năm. Năm 720 TCN, Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc bị xâm lăng bởi Đế quốc Assyria (một cường quốc ở vùng Mesopotamia, tọa lạc tại thượng nguồn sông Tigris với thủ đô là Niniveh). Tất cả mười bộ tộc của Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc bị giết, bị lưu đày, và biến mất khỏi lịch sử. Lịch sử gọi sự kiện này là ‘Mười bộ tộc thất lạc’ (The Lost Ten Tribes).
Vương quốc Giu-đa phương Nam [930-586 TCN] tồn tại lâu hơn trong sự lệ thuộc vào người Assyria rồi cuối cùng cũng bị các đạo quân xâm lăng Babylon hủy diệt vào năm 586 TCN. Thành phố Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị san thành bình địa, dân nước Giu-đa hoặc bị giết hoặc bị lưu đầy sang Mesopotamia, đặc biệt là tới thủ phủ Babylon. Sự kiện này đánh dấu lần ly tán thứ nhất của dân tộc Do Thái cổ và cũng đánh dấu sự kết thúc thời kỳ được sách vở gọi là ‘Đền thờ thứ Nhất’ [825-586 TCN].
3. Mười bộ tộc thất lạc
Chuyện gì đã xảy ra với 10 bộ tộc phương Bắc bị thất lạc cho đến nay vẫn là một bí ẩn. Nhiều người chạy tị nạn từ Ít-ra-en xuống Vương quốc Giu-đa phương Nam. Những người khác có thể pha trộn với những người phi Do Thái ở Samaria và trở thành Samaritans hoặc trộn lẫn vào quỹ gen (gene-pool) của người Kurd ngày nay… Hậu duệ của 10 bộ tộc thất lạc này dường như xuất hiện ở khắp mọi nơi. Người Do Thái Ethiopia cũng như người Do Thái Yemen tự cho là con cháu của bộ tộc Dan. Bằng chứng cũng cho thấy rằng bộ tộc Tư tế (priestly sect) thuộc vùng Lemba của Nam Phi có dấu hiệu di truyền của bộ tộc Tư tế Kohanim của người Do Thái. Một nhóm ở Ấn Độ gọi là Shimlung nói họ là dòng dõi của bộ tộc Manasseh. Thậm chí một số người không phải Do Thái cũng tự nhận có tổ tiên thuộc 10 bộ tộc Ít-ra-en đã mất…
4. Lưu đày ở Babylon và trở về: Thời kỳ tự trị Do Thái
Năm 720 TCN có vẻ như đã đánh dấu sự sụp đổ của Do Thái giáo. Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc bị Đế quốc Assyria xâm chiếm. Tất cả 10 bộ tộc của Vương quốc phương Bắc biến mất khỏi lịch sử.
Vương quốc Giu-đa phương Nam [930-586 TCN] bị các đạo quân xâm lăng Babylon hủy diệt vào năm 586 TCN. Số phận dân tộc Do Thái dường như đã xuống đến đáy. Nếu có một thời điểm nào đó trong lịch sử Do Thái giáo mà mọi ý nghĩa dường như cạn kiệt thì chính là lúc này. Người Do Thái giáo quằn quại trong đau khổ và tuyệt vọng. Đức tin của dân Do Thái đã trải qua một cuộc thử thách nặng nề khi họ chứng kiến cảnh Đền thờ bị tàn phá và bản thân họ bị lưu đày sang Babylon. Các nhà ngôn sứ giải thích rằng đây là một hình phạt về tội bất trung của người Do Thái với Giao Ước. Không phải là Thiên Chúa bỏ rơi người Do Thái, nhưng là người Do Thái đã bỏ Ngài, khi họ tìm sự nương tựa nơi các thế lực ngoại bang và ngay cả khi việc thờ phụng của họ dường như chỉ mang tính chất hình thức trống rỗng.
Thế nhưng trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng ấy, các ngôn sứ vẫn nhắc nhở dân Do Thái hãy bình tâm tín thác vào Thiên Chúa: Thiên Chúa là đá tảng của sự tin cậy. Nếu không làm được điều này có nghĩa là người Do Thái đã mặc nhiên chấp nhận một logic là Thiên Chúa của kẻ thắng mạnh hơn Thiên Chúa của kẻ bại, cũng có nghĩa là dấu chấm hết cho lòng tin vào Thiên Chúa và cũng là dấu chấm hết cho dân tộc Do Thái. Các nhà ngôn sứ Do Thái đã từ chối logic đó và chính sự từ chối đó đã cứu vớt tương lai cho đất nước Do Thái. Một vị ngôn sứ Do Thái giáo vào thế kỷ 6 đã ghi lại rằng Thiên Chúa của người Babylon Marduk đã không thể đánh bại được Đức YHWH; và lịch sử vẫn thuộc về vương quốc của Ngài.
Tuy nhiên cuộc sống lưu đầy tại Babylon lại đã làm nảy sinh những hạt mầm mới, những truyền thống mới: đó là sự xuất hiện một tầng lớp tinh hoa trong xã hội và từ đây các học giả tôn giáo, các nhà hiền triết trỗi dậy trở thành lãnh tụ tinh thần của người Do Thái. Bắt đầu từ thời điểm này Babylon từng bước dần trở thành trung tâm sinh hoạt mới của người Do Thái bên ngoài Palestine. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử của dân tộc Do Thái, đặc biệt là đối với sự phát triển của văn minh Do Thái.
Năm 538 TCN, người Ba Tư chinh phục Đế chế Babylon và người Do Thái trở thành thần dân của Đế quốc Ba Tư. Hoàng đế Ba Tư là Cyrus nhận thấy cần xây dựng một cứ điểm tại Palestine – vùng đất trọng yếu như một cầu nối giữa Tây Á và Bắc Phi. Nơi đây vừa có thể làm bàn đạp lý tưởng để tấn công Ai Cập, vừa có thể dùng làm vùng đệm chống lại sự xâm lăng từ phía Đông của Hy Lạp. Do vậy nên Cyrus quyết định ban hành chỉ dụ trả lại tự do cho người Do Thái đang sống ở Babylon, cho phép họ quay trở lại đất tổ Giu-đa. Đền thờ được xây dựng lại. Bản văn cuối cùng của Kinh Thánh Hebrew được soạn thảo. Việc xây dựng lại Đền thờ Giê-ru-sa-lem mất khoảng 20 năm; lễ khánh thành Đền thờ vào năm 515 TCN đánh dấu bắt đầu thời kỳ mà sách vở gọi là ‘Đền thờ thứ Hai’. Sau khi trở về từ Babylon, người Do Thái đã phỏng theo giáo chế của Ba Tư mà xây dựng nên một giai cấp tư tế mà nền tảng là các học giả giáo sĩ Do Thái, từ đó hình thành một thực tiễn chính trị tôn giáo hợp nhất điển hình trong lịch sử tôn giáo Do Thái.
Về việc phân chia giai đoạn, trong các sách lịch sử Do Thái, khoảng thời gian từ năm 3000-538 TCN được gọi làThời Kỳ Kinh Thánh(Bible Time), và bốn thế kỷ tiếp theo từ năm 538-60 TCN được gọi làThời Kỳ Tự Trị Do Thái. Thời gian từ 60 TCN – 1948 CN gọi làThời kỳ Nước ngoài Cai trị.
Tiếp theo sau sự thống trị của Ba Tư vào thế kỷ 5 TCN, Canaan rơi vào tay Đế chế Macedonia của Alexander Đại Đế [336-323 TCN]. Trong sự nghiệp chinh phục vĩ đại chưa từng có trong lịch sử của Alexander Đại Đế, Đế chế Macedonia trải dài một vùng lãnh thổ rộng lớn khắp châu Á, châu Âu và châu Phi. Sau khi Alexander chết năm 323 TCN, do bị bệnh hay ngộ độc gì đó, Đế chế Macedonia rơi vào cảnh tranh giành hỗn loạn và chia thành bốn vùng. Tướng Ptolemy Soter và Seleucus cuối cùng nắm quyền kiểm soát Ai Cập và Syria, lập nên các vương triều của riêng mình: nhà nước Ptolemaic với thủ đô ở Ai Cập ở phương nam và nhà nước Seleucid với thủ đô ở Syria ở phương bắc. Palestine ngẫu nhiên trở thành vùng đất tranh chấp của hai vương triều này. Chỉ trong quãng thời gian 17 năm từ 319-302 TCN, Giê-ru-sa-lem bảy lần đổi chủ. Cả hai vương triều này duy trì chính sách tuyên truyền và phổ biến văn hóa Hy Lạp đối với Palestine trong một phong trào gọi là Hy Lạp hóa (Hellenism). Ptolemy thắng thế cho đến năm 198 TCN, khi Antiochus III [223-187 TCN], một vị vua năng động dòng họ Seleucid, chinh phục và kiểm soát toàn bộ Palestine. Trong thời kỳ này, nhiều người Do Thái di cư xuống Ai Cập.
Cũng trong thời kỳ này, việc kết hợp văn hóa truyền thống Do Thái với văn hóa Hy Lạp đã có một ảnh hưởng không nhỏ đối với văn minh Do Thái và giúp người Do Thái tạo nên một nền văn hóa độc đáo của riêng mình vừa mang đặc trưng của người Do Thái vừa mang đặc trưng của người Hy Lạp.
Khi người Syria dòng Seleucid áp đặt nhiều biện pháp nhằm đàn áp tôn giáo và việc thực hành tôn giáo của người Do Thái trên vùng đất Palestine, một cuộc khởi nghĩa của người Do Thái đã nổ ra vào năm 166 TCN dưới sự lãnh đạo của Maccabees. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi và nghĩa quân dành được quyền kiểm soát Giu-đê-a (tên gọi của vương quốc Giu-đa trong tiếng Hy Lạp và La Mã), lúc đó là một tỉnh của Đế chế Seleucid. Maccabees lập nên triều đại Hasmoneans trị vì trong khoảng thời gian 164-63 TCN. Họ khẳng định lại tôn giáo của người Do Thái, một phần bằng cách chuyển đổi cưỡng bức, đồng thời mở rộng biên giới của Giu-đê-a bằng các cuộc chinh phục và giảm bớt ảnh hưởng củaHy Lạp hóa(Hellenism) và Do Thái giáo Hy Lạp hóa (Hellenistic Judaism).
Thời điểm này là kết thúc củaThời Kỳ Tự Trị Do Thái.
5. Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy lần thứ hai (70 CN): Ly tán lần thứ hai
Cùng trong thời gian này vào thế kỷ 2 TCN, từ một vương quốc lạc hậu được thành lập vào năm 753 TCN với các khu định cư xung quanh Palatine Hill dọc theo sông Tiber ở miền Trung Italia, La Mã đã phát triển thành một đế chế hùng mạnh chưa từng thấy trên thế giới trước đó. Sau khi đánh bại Đế chế Macedonia và Seleucid vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, La Mã đã trở thành người thống trị của Địa Trung Hải, mở ra lối vào Trung Đông. Người La Mã bắt đầu để mắt đến Giu-đê-a.
Tại Palestine, từ năm 60 CN trở đi, Vương quốc Hasmoneans của Ít-ra-en bị suy yếu bởi các mâu thuẫn bên trong và rơi vào sự thống trị của người La Mã. Tuy nhiên sự chuyên chế và tàn bạo của Đế quốc La Mã đã khiến người Do Thái liên tục vùng lên phản kháng vũ trang. Vào năm 66, mâu thuẫn giữa người Do Thái và người La Mã ở Giu-đa đã lên đến đỉnh điểm và biến thành cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại La Mã. Ban đầu người Do Thái chiếm ưu thế, nhưng chiều hướng thay đổi vào năm 68. Người La Mã dưới sự lãnh đạo của vua La Mã Titus đã giành lại quyền chủ động và vào mùa hè năm 70, quân La Mã đánh bại quân khởi nghĩa Do Thái tại Giê-ru-sa-lem. Hàng ngàn người Do Thái bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị san bằng. Cuộc khởi nghĩa thất bại và một phần lớn người Do Thái bị lưu đầy và phân tán đi khắp các miền của Đế quốc La Mã. Sự kiện này đánh dấu lần ly tán thứ hai và cũng đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ Đền thờ thứ Hai [515 TCN – 70 CN] và sự sụp đổ của Giu-đê-a trong vai trò trung tâm sinh hoạt của người Do Thái. Từ thời điểm này người Do Thái bắt đầu một cuộc sống lưu vong trên khắp các quốc gia trên thế giới kéo dài gần 2.000 năm. Người Do Thái một lần nữa tự hỏi liệu họ có thể tồn tại và vượt qua những khó khăn này hay không.
Dưới sự cai trị của Đế quốc La Mã [70-313] và sau đó là Đế quốc Byzantine [313-636], cộng đồng Do Thái trên Vùng đất Ít-ra-en vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các nền tảng giáo dục, văn hóa và luật pháp riêng của mình. Luật pháp Do Thái quan tâm đến mọi khía cạnh của cuộc sống, đã được ghi lại trong Sách Mishna (thế kỷ 2) và được giải thích trong Sách Talmud (thế kỷ 3-5). Các luật này, về sau có một số phần được sửa đổi lại cho phù hợp với hoàn cảnh, ngày nay vẫn được những người Do Thái giáo tuân thủ.
Sau đó, suốt từ thế kỷ 7 cho đến 1948, Canaan lần lượt rơi vào tay người Ả Rập [636-1091], sau đó là người Seljuk [1091-1099], quân Thập Tự Chinh [1099-1291], quân Mamluk [1291-1516], người Thổ Nhĩ Kỳ thời Đế chế Ottoman [1517-1917], và cuối cùng là Anh Quốc [1917-1948].
IV. NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA LỚN
1. Thời đại của các Ngôn Sứ [thế kỷ 8 – thế kỷ 5 TCN]
Một phần ba của Kinh Thánh Hebrew được viết bởi các ngôn sứ hay còn gọi là ngôn sứ (prophets). Theo ngữ nghĩa,nevi’im, trong tiếng Hebrew làngôn sứhayngôn sứ, tức là người phát ngôn thay mặt Thiên Chúa, nhân danh Thiên Chúa. Họ có đặc sủng nhìn thấy những viễn ảnh qua sự linh ứng của Thiên Chúa. Ngoài chức năng nhân danh Thiên Chúa, ngôn sứ còn đóng những vai trò chính trị quan trọng trong xã hội, là người tư vấn cho hoàng gia, khởi xướng tình cảm quốc dân và hướng dẫn đạo đức cho xã hội. Nói cách khác, ngôn sứ là người đại diện cho lương tâm của Thiên Chúa, bênh vực cho công lý và con người.
Trong truyền thống Do Thái giáo, Adam, Mô-sê, Samuel, Joshua đều là những ngôn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử Do Thái giáo. Tuy nhiên, theo sự đồng thuận của người Do Thái thì thuật ngữ ‘ngôn sứ chuyên nghiệp’ (professional prophets) nhằm ám chỉ ba vị đại ngôn sứ và 12 tiểu ngôn sứ. Các đại ngôn sứ là Isaiah, Jeremiah và Ezekiel. 12 tiểu ngôn sứ là Hosea, Joel, Amos, Obadiah, Jonah, Micah, Nahum, Habbakuk, Zephaniah, Haggai, Zechariah và Malachi. Mỗi đại ngôn sứ viết một cuốn trong các Sách Ngôn Sứ (Nevi’im), 12 tiểu ngôn sứ đóng góp chung một cuốn. Một vài ngôn sứ khác như Neriah, Baruch và Huldah có được nhắc đến trong Kinh Thánh.
2. Isaiah
Isaiah là một ngôn sứ đặc biệt được người Do Thái nhắc đến nhiều nhất. Ông sống trong thời đại đen tối nhất trong lịch sử Do Thái, thế kỷ 8 TCN. Ông đã chứng kiến người Assyria phá hủy Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc, một bi kịch đã được phản ánh qua những vần thơ chua xót của ông. Isaiah là ngôn sứ trong suốt bốn vương triều của Giu-đa – Uzziah, Jotham, Ahaz và Hezekiah.
Isaiah chỉ trích mạnh mẽ sự tôn thờ cá nhân. Ông đi một bước xa hơn các ngôn sứ khác khi khẳng định rằng Thiên Chúa từ chối nghi lễ của người Do Thái nếu người thực hành tôn giáo là hung ác và không chính trực. Có lẽ lời nói mạnh mẽ nhất của Isaiah là về việc xây dựng Vương quốc của Thiên Chúa trên trái đất, đó là khi hòa bình ngự trị và “gươm giáo được rèn lại thành lưởi cầy”. Liên Hiệp Quốc đã sử dụng câu nói này như một lời tuyên ngôn không chính thức.
3. Những bài học trong thời kỳ lưu đày ở Babylon [586-538 TCN]
Người Do Thái xem cuộc lưu đày tới Babylon là sự trừng phạt của Thiên Chúa. Tuy nhiên, cuộc sống ở Babylon không quá nghiệt ngã như thời kỳ nô lệ ở Ai Cập. Nhiều người Do Thái trở thành nhà buôn, cho vay tiền, thợ thủ công, chủ đất. Vua Jehoiachin của Giu-đa cũng có một ghế cạnh Merodach, con trai của Nebuchadnezzar – vua của Đế chế Babylon.
Người Do Thái học được nhiều điều từ người Babylon. Các yếu tố lý thuyết mới được sàng lọc vào Do Thái giáo – sự di cư của linh hồn, các thiên thần, những khái niệm đầu tiên về thời kỳ Đấng Cứu Thế đang đến. Người Do Thái cũng hấp thu tư tưởng của Trí Thức giáo (Gnosticism), còn gọi là Thuyết Ngộ Đạo…
Người Do Thái xứ Babylon được phép tự do thực hành đức tin của họ, và các nhà thông giáo (scribes) bắt đầu công việc quan trọng là sao chép lại những văn bản thánh (holy texts). Dần dần những nhà thông giáo này thay thế cho các ngôn sứ, và tầng lớp Rabbis (giáo sĩ Do Thái) đầu tiên đã ra đời cùng với các Hội Đường Do Thái (synagogues). Những thay đổi về tổ chức xã hội được khuyến khích: sự phân chia bộ tộc kiểu cũ ở Ít-ra-en bị hủy bỏ và một cảm giác thống nhất về ‘bản sắc Do Thái’ đã hình thành.
4. Những cải cách quan trọng dưới thời Ezra [480-440 TCN]
Năm 538 TCN, sau khi người Ba Tư chinh phục Đế chế Babylon, Hoàng đế Ba Tư là Cyrus đã ban hành chỉ dụ trả lại tự do cho người Do Thái đang sống ở Babylon, cho phép họ quay trở lại đất tổ Giu-đa. Ngôn sứ Isaiah đã tôn vinh Hoàng đế Cyrus là ‘người chăn cừu của Thiên Chúa’ và ‘người được xức dầu’ qua hành động này. Khoảng hơn 40 ngàn người Do Thái đã từ Babylon quay trở về Giu-đa. Tuy nhiên, những người mới trở về phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và Giu-đa chỉ thực sự ổn định sau khi Ezra và Nehemiah trở về Giê-ru-sa-lem vài thế hệ sau đó. Những nhân vật có khả năng lôi cuốn này đã cải thiện đức tin của người Do Thái, tổ chức lại một hệ thống nhà nước và luật pháp đúng đắn, và định hình khuôn khổ cuối cùng của Kinh Thánh – một khởi đầu có tính chất quyết định hơn cả việc xây dựng lại Đền thờ.
Trong Sách Ezra (The Book of Ezra – cuốn thứ 23 trong Kinh Thánh Hebrew), Ezra cũng được gọi là ‘Ezra nhà thông giáo’ (Ezra the Scribe) và ‘Ezra Tư tế’ (Ezra the Priest). Có thể nói rằng, sau tất cả những thăng trầm, Ezra là người đã giúp thiết lập lại trật tự của Giu-đa. Ông đã triệu tậpKresset HaGedolah, hoặc ‘Đại Hội Đồng’, và tổ chức này đã trở thành cơ quan lập pháp chính thức của Giu-đa. Kresset HaGedolah đã điều hành mọi hoạt động của Giu-đa thay cho quốc vương cho đến thế kỷ 2 TCN. Một điểm nhấn quan trọng trong thời kỳ này là 120 thành viênKresset HaGedolahđã qui điển hóa Tanakh. Một vài thành viên đã đóng góp viết các văn bản thánh, như Ezra, Nehemiah, và nhà ngôn sứ cuối cùng, Malachi.
Năm 445 TCN, 13 năm sau khi Ezra trở về Giu-đa, Nehemiah, quan châm rượu cho Vua Artaxerxes I của Ba Tư, trở thành thị trưởng của Giu-đê-a thuộc Ba Tư. Là một nhà ngoại giao tài ba và một người cấp tiến, Nehemiah đã thuyết phục Vua Ba Tư cho phép người Do Thái xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem. Ông là nhân vật chính trong Sách Nehemiah của Kinh Thánh Hebrew, trong đó mô tả những việc làm của ông trong quá trình xây dựng lại Giê-ru-sa-lem trong thời kỳ Đền thờ thứ Hai.
Ezra và Nehemiah là hai tính cách trái ngược nhau. Một người bảo thủ và sùng đạo. Một người cấp tiến và trí tuệ. Tuy nhiên cả hai là một sự kết hợp tuyệt vời đã đem lại sức sống cho Giu-đa và giúp dọn sạch những bợn nhơ của xã hội. Họ đã cùng ngồi đọc toàn bộ Sách Torah giữa công chúng và tuyên bố rằng đó là hiến pháp của người Do Thái. Cùng với nhau, họ đã tạo dựng nên một nền tảng căn bản của đời sống Do Thái mà có thể cho là đã kéo dài cho đến ngày nay.
5. Kinh Thánh Hebrew được qui điển hóa
Trong thời kỳ Ezra, Kinh Thánh Hebrew (Hebrew Bible) – Tanakh – được qui điển hóa và trở thành kinh sách căn bản của Do Thái giáo. Thuật ngữ Tanakhđược tạo thành từ những chữ đầu trong tiếng Hebrew của ba bộ sách:Torah (Sách Lề Luật), Nevi’im (các Sách Ngôn Sứ hay Sách Ngôn sứ) và Ketuvim (các Sách Văn Chương); và là thuật ngữ thích hợp để mô tả kinh điển của Do Thái giáo; còn các thuật ngữ như Kinh Thánh Hebrew (Hebrew Bible) hoặc Kinh Cựu ước (Old Testament) thường được sử dụng bởi những người không phải Do Thái. Tanakh nguyên thủy được soạn bằng tiếng Hebrew, còn Kinh Cựu ước (Old Testament) và Kinh Tân ước (New Testament) của Ki-tô giáo được viết bằng tiếng Koine Greek (còn gọi là Alexandrian dialect hay Hellenistic Greek là một dạng chung của tiếng Hy Lạp được sử dụng trong suốt thời cổ Hy Lạp và La Mã). Tanakh bao gồm 24 cuốn sách, còn Kinh Cựu ước có nhiều hơn và bao gồm cả 24 cuốn của Tanakh nhưng sắp xếp theo một thứ tự khác.
Những cuốn sách tạo thành Tanakh được phát triển trong khoảng một thiên niên kỷ. Các văn bản cổ nhất dường như đến từ thế kỷ 11 hay thế kỷ 10 TCN, trong khi hầu hết các văn bản khác được phát triển sau đó. Đây là những sưu tập của các tác phẩm đã được chỉnh sửa từ các nguồn khác nhau và được gắn kết lại một cách vô cùng tỉ mỉ và cẩn thận. Còn riêng thuật ngữ “Kinh Thánh”mãi đến thế kỷ 4 sau CN mới được giáo chủ Gio-an Chrysostom [347-407] sử dụng. Ông đặt tên cho tất cả các sách Thánh của người Do Thái là Kinh Thánh. Để giữ cho văn hóa tôn giáo của mình không bị đồng hóa, người Do Thái coi việc học Kinh Thánh là một vũ khí và thông qua việc dạy con trẻ đọc Kinh Thánh để duy trì sự tồn tại của bản sắc dân tộc Do Thái.
Sách Torah, còn gọi làNgũ thư Kinh thánhhayNgũ kinh Mô-sê, là phần thiêng liêng nhất trong toàn bộ Kinh Thánh Hebrew vì nó chứa đựng lời của Thiên Chúa ban truyền lại cho người Do Thái qua Mô-sê. Sách Torah gồm năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew – Sách Sáng Thế (Genesis), Sách Xuất Hành (Xuất hành), Sách Levi (Leviticus), Sách Dân Số (Numbers), Sách Đệ Nhị Luật (Deuteronomy). Đôi khi thuật ngữ Torah cũng hàm ý toàn bộ Kinh Thánh Hebrew.
Sách Ngôn Sứ (haySách Ngôn sứ), theo truyền thống Do Thái, được chia thành 8 sách. Các bản dịch hiện nay lại chia chúng thành 17 sách. Theo thời gian, Sách Ngôn Sứ được chia làm hai phần: Ngôn Sứ Sớm và Muộn. Phần Ngôn Sứ Sớm gồm bốn sách: Sách Joshua, Sách Thủ Lãnh (Books of Judges), Sách Samuel I và II, và Sách Các Vua (Books of Kings) I và II. Phần Ngôn Sứ Muộn gồm bốn sách: Sách Isaiah, Sách Jeremiah, Sách Ezekiel, và một cuốn được viết bởi 12 Tiểu Ngôn Sứ.
Sách Văn Chươnggồm 11 sách: ba sách thi ca – Thánh Vịnh (Book of Psalms), Sách Châm Ngôn (Book of Proverbs), Sách Job (Book of Job); năm sách Thánh Thi (Megillot) – Sách Diễm Ca (Song of Songs), Sách Ruth (Book of Ruth), Sách Ai Ca (Book of Lamentations), Huấn Ca (Ecclesiastes), Sách Esther (Book of Esther); và ba sách của Daniel, Ezra- Nehemiah, Sử Biên Niên I và II (Chronicles I và II) cũng của Ezra.
Theo mô hình được Ezra xây dựng 2.500 năm trước, Torah được đọc tại các Hội đường Do Thái theo chu kỳ của năm, trong các ngày thứ hai, thứ năm và thứ bảy (ngày Shabbat). Cùng với phần Torah, người Do Thái cũng ngâm các đoạn ngắn trong Sách Ngôn Sứ, Thánh Vịnh, hay Sách Châm Ngôn. Những đoạn ngâm này được chọn lọc để phù hợp với phần Sách Torah được giảng, và thường giúp cho các Rabbis (giáo sĩ Do Thái) thêm tài liệu cho bài thuyết giáo của mình.
Các phần khác của Kinh Thánh cũng được chọn đọc trong các ngày lễ hội. Các trích đoạn từ Thánh Vịnh, Sách Ngôn Sứ, Sách Châm Ngôn, và sau này bổ xung thêm các thơ ca thời trung cổ không nằm trong Kinh Thánh, được đọc trong những buổi lễ hàng ngày nhưshacharit(buổi sáng),mincha(buổi trưa), vàma’ariv(buổi chiều).
6. Ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp cổ đại trong thời kỳ Hellenism
Hellenism, còn gọi là ‘thời kỳ Hy Lạp hóa’ trong tiếng Việt, là một thuật ngữ thường được sử dụng bởi các nhà sử học để chỉ thời kỳ Hy Lạp cổ đại và lịch sử Địa Trung Hải từ sau cái chết của Alexander Đại Đế năm 323 TCN cùng với sự nổi lên của Đế chế La Mã biểu hiện qua trận đánh Actium vào năm 31 TCN tới cuộc chinh phục tiếp theo của triều đại Ai Cập Ptolemaic năm tiếp theo. Tại thời điểm này, ảnh hưởng văn hóa và quyền lực của Hy Lạp đang ở đỉnh cao ở châu Âu, châu Phi và châu Á.
Cho đến thế kỷ 4 TCN, trục chính của quyền lực chính trị Trung Đông chạy dọc từ bắc xuống nam – đó chính là cuộc chiến giành ảnh hưởng giữa Ai Cập và bất cứ ai kiểm soát Mesopotamia. Tuy nhiên, vị thế này đã bị sụp đổ với sự xuất hiện của một lực lượng mới đầy sức mạnh từ phương Tây. Đó chính là Hy Lạp, nói đúng hơn đó là phong trào ‘Hy Lạp hóa’ do người Hy Lạp điều khiển. Sự nổi lên của Hy Lạp trong thời kỳ này cho thấy một thách thức trí tuệ đáng sợ đối với người Do Thái thậm trí trước khi Alexander chinh phục khu vực Levant.
Văn hóa Hy Lạp đã thâm nhập vào Trung Đông qua thương mại từ rất lâu trước thời Alexander Đại Đế. Hy Lạp đã mang đến một cách nhìn mới mẻ về thế giới, thách thức trí tuệ tất cả các dân tộc Levant bao gồm cả người Do Thái. Về mặt chính trị, tại Athens dưới thời Pericles thế kỷ 5 TCN, đã có một sự đổi mới về dân chủ. Các nhà viết kịch Hy Lạp lần đầu tiên thừa nhận ý tưởng về những lựa chọn đạo đức đang đối mặt mỗi cá nhân. Còn các triết gia thì bắt chước lời kêu gọi về ‘con người là thước đo của tất cả mọi thứ’. Các trường phái triết học liên tiếp ra đời, từ những môn đệ của Socrates, Plato, và Aristotle, tới những người theo chủ nghĩa hoài nghi, đã áp dụng các phương pháp có lý tính đối với những vấn đề sâu sắc nhất về đạo đức, chính trị và siêu hình.
Nhiều khía cạnh của văn hóa Hy Lạp như những tiếng chuông báo thức đối với người Do Thái: sự khoan dung đối với việc khỏa thân nơi công cộng và đồng tính; sự nẩy sinh của những hình ảnh thần thánh; tinh thần duy lý đem đến sự nghi ngờ về mặc khải của Thiên Chúa (divine revelation); và quan niệm về một nền văn minh dân chủ. Một số người Do Thái chống lại sự siết chặt của văn hóa Hy Lạp cổ đại trong nỗi lo sợ rằng nền tảng của Do Thái giáo sẽ bị hư hại. Họ lý giải rằng sự đồng hóa sẽ trừ tuyệt người Do Thái như một dân tộc đặc biệt. Tuy nhiên, một số khác chào đón sự tinh tế của văn hóa Hy Lạp.
Nhà truyền bá tích cực nhất của văn hóa Hellenism chính là Alexander Đại Đế. Alexander không phải người Hy Lạp, mà là con trai của Philip, vua của Macedonia, một tỉnh lệ thuộc Hy Lạp nằm ở vùng Balkans. Philip chinh phục Hy Lạp năm 338 TCN và bị ám sát hai năm sau đó. Khi còn nhỏ, Alexander Đại Đế đã từng theo học nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp là Aristotle, do vậy ông đặc biệt nhiệt thành truyền bá văn hóa Hy Lạp tới các dân tộc trong đế chế của ông. Năm 22 tuổi, ông thề sẽ hoàn thành giấc mơ của cha mình trong việc mở rộng sang phía Đông. Trong 10 năm, đánh đâu thắng đó, Alexander đã chinh phục Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Palestine, Phoenicia, Ai Cập, Bactria và Lưỡng Hà và mở rộng biên cương đế chế của ông đến tận Punjab thuộc Ấn Độ ngày nay. Nhờ các cuộc chinh phục của Alexander Đại đế mà nền văn minh Hy Lạp cổ đại được phát triển mạnh mẽ từ Trung Á đến tận phía tây của Địa Trung Hải, mở đầu cho nhiều thế kỷ định cư và thống trị của người Hy Lạp trên nhiều vùng đất xa xôi, một giai đoạn được gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa – Hellenism – như đã nói trên.
Trong giai đoạn Hellenism, nhiều người Do Thái được khuyến khích di cư sang Ai Cập. Ở đây họ phát triển thịnh vượng, xây dựng các Hội đường Do Thái và bắt đầu nói tiếng Hy Lạp. Ai Cập trở thành trung tâm sinh hoạt lớn thứ hai của người Do Thái lưu vong sau Babylon.
7. Vai trò của tầng lớp Rabbis (Giáo sĩ Do Thái)
Do Thái giáo và kể cả dân tộc Do Thái không bao giờ có thể sống sót nếu truyền thống Rabbis không được thiết lập. Trong suốt 2000 năm đằng đẵng lưu đầy, chính các Rabbis – những tinh hoa tri thức của dân tộc Do Thái – luôn xuất hiện từ thế hệ này qua thế hệ khác là những người đã kiên tâm giữ gìn những giá trị truyền thống của Do Thái giáo và giúp các cộng đồng Do Thái giáo gắn kết thành một sức mạnh thần thánh. Có thể nói nỗ lực không biết mệt mỏi này của các Rabbis là một trong những điều kì diệu của lịch sử và chính điều kỳ diệu này là nhân tố chính giúp cho Do Thái giáo trở thành mảnh đất tinh thần vững chắc trên đó đất nước Ít-ra-en đã được xây dựng và nở hoa cho đến ngày nay.
Vậy thì ai là Rabbi đầu tiên và tên gọi ‘Rabbi’ nghĩa là gì?
‘Rabbi’ (số nhiều là ‘Rabbis’) trong tiếng Hebrew là ‘người thầy vĩ đại’. Trong tiếng Việt chúng ta dịch là ‘giáo sĩ Do Thái’. Danh hiệu chuyên nghiệp này (professional rabbi) đầu tiên được áp dụng cho Yehuda HaNasi. Ông là một giáo sĩ Do Thái sống trong thế kỷ 2 [135-217] và là người biên soạn SáchMishna(còn gọi làMishnah) – bản tóm lược đầu tiên bằng văn bản của ‘Khẩu Luật’ hay ‘Torah Nói’ (Oral Torah) của Do Thái giáo. Ông cũng là một nhà lãnh đạo chủ chốt của cộng đồng Do Thái trong suốt thời kỳ La Mã chiếm đóng Giu-đê-a.
Tuy gọi Yehuda HaNasi là Rabbi đầu tiên, nhưng sự thực thì tầng lớp Rabbis đã được hình thành rất sớm trong thời kỳ người Do Thái lưu đầy ở Babylon khoảng thế kỷ 5 TCN, bắt nguồn từ các nhà thông giáo là những người làm công việc đơn thuần là sao chép lại những văn bản thánh. Theo như đã ghi lại trong Kinh Thánh Hebrew, Yehuda HaNasi biên soạn Mishna vảo khoảng năm 200 CN.
Theo truyền thống Do Thái, việc giám hộ Sách Torah được thực hiện qua việc chuyển giao trí tuệ từ thế hệ trước xuống thế hệ sau, từ các tổ phụ xuống các bậc huynh trưởng, rồi xuống các ngôn sứ,Kresset HaGedolah(Đại Hội Đồng), và cuối cùng là các Rabbis cho đến ngày nay. Tín điều của Đại Hội Đồng đã trở thành châm ngôn của các ngôn sứ: “Hãy kiên nhẫn trong xét đoán, đào tạo nhiều môn sinh, và xây dựng một hàng rào xung quanh Torah”.
Một truyền thống khác liên quan đến Rabbis là việc phát triển trí tuệ của người Do Thái thông qua việc chọn lọc trong sinh đẻ, nôm na là “tạo giống”. Khác với các dân tộc khác, người Do Thái đã luật hóa việc tạo giống, đặt ra mục đích cụ thể thay cho việc tạo giống tự nhiên. Trong truyền thống Do Thái giáo, Rabbis là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Thêm vào đó, do có uy tín và địa vị trong xã hội, các Rabbis rất dễ dàng lựa chọn hôn thê từ những gia đình có gia thế, học thức. Do những chọn lọc này, con cái của các Rabbis thường rất xuất chúng, giống như cha mẹ của chúng.
Xã hội Do Thái khuyến khích các Rabbis có con, thậm chí có nhiều con để sản sinh nhiều tài năng cho xã hội. Kinh Thánh Hebrew thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái mình lấy con gái của các học giả. Kinh Thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng đồng thời Kinh Thánh cũng đặt ra “phanh hãm”đối với người nghèo, người ít học là sinh con nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính nhờ “phanh hãm”này mà người nghèo, người ở tầng lớp thấp không sinh đẻ tràn lan, khiến số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có gien tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có mục đích như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.
Cùng thời gian này ở bên ngoài Vùng đất Ít-ra-en, kéo dài suốt 2.000 năm tính cho đến 1948 là năm mà Nhà nước Ít-ra-en tuyên bố độc lập trên mảnh đất Palestine, cộng đồng người Do Thái lưu vong trôi nổi trong cuộc hành trình lưu lạc tới mọi miền đất còn lại của thế giới.
V. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DO THÁI LƯU VONG
Có thể nói cuộc xâm lăng Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc của người Assyria vào năm 720 TCN đã khởi đầu phong trào lưu vong (Diaspora) của người Do Thái sang các vùng đất khác trên thế giới, hình thành nên các Cộng đồng Do Thái lưu vong. Phong trào lưu vong càng phát triển mạnh vào cuối thế kỷ thứ nhất sau công lịch sau cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại người La Mã bị thất bại và quân La Mã phá hủy và san bằng Giê-ru-sa-lem vào năm 70. Có người bị ép buộc di cư. Có người tự ý. Dân tộc Do Thái bắt đầu cuộc đời trôi nổi, lang thang khắp Trung Đông, Địa Trung Hải và châu Âu qua nhiều thế kỷ.
Sự kiện Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy lần thứ hai vào năm 70 là một cú sốc lớn đối với người Do Thái lưu vong đến tận xương tủy. Giữa năm 115-117, người Do Thái một lần nữa tiếp tục nổi dậy chống lại kẻ cai trị La Mã và người láng giềng Hy Lạp ở một vài trung tâm lớn bên ngoài vùng đất Palestine: Alexandria, Cyprus, Mesopotamia, và Bắc Phi. Tất cả các cuộc nổi dậy này đều bị dập tắt, riêng ở Alexandria thì bị đàn áp dã man. Người Do Thái lưu vong hiểu một điều là họ cần có một cái đầu lạnh nếu dân tộc và đức tin Do Thái muốn được sống còn.
Bị lấy đi mất Đền thờ và không còn nơi thờ cúng, Sách Talmud được các Rabbis thời lưu vong thu thập và soạn thảo trong khoảng thời gian thế kỷ 3-5 đã trở thành ‘hiến pháp bỏ túi’ cho người Do Thái trong cuộc sống lưu đày. Sách Talmud đã khích lệ những tranh luận bác học, nghiên cứu và trở thành một kho tàng độc đáo về phong tục tập quán, nhân chủng, lề luật, lịch sử và văn chương của người Do Thái. Dần dà theo thời gian, Babylon đã thay thế Galilee để trở thành tâm điểm văn hóa và tôn giáo của người Do Thái.
Một điểm đặc biệt trong hành trình của người Do Thái lưu vong là, ở bất cứ nơi nào họ lưu lạc đến, trong bất cứ hoàn cảnh nào, vật quý nhất mà họ mang theo mình không gì khác là cuốn Kinh Thánh cùng những lời Thánh Vịnh của Vua David:
Thiên Chúa khôi phục linh hồn tôi
Thiên Chúa dẫn tôi đi trên đường công chính vì danh Ngài
Dù có bước qua thung lũng bóng tối của cái chết
Tôi cũng không sợ cái ác vì Thiên Chúa đang ở với tôi…
Kinh Thánh Hebrew đối với người Do Thái là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, giúp họ giữ được bản sắc trong giấc mơ trở về Đất Thánh.
Trong năm thế kỷ đầu tiên sau công lịch, trung tâm sinh hoạt của người Do Thái chuyển từ Vùng đất Ít-ra-en sang Mesopotamia, đặc biệt ở thủ phủ Babylon. Trong những thế kỷ tiếp theo, họ di chuyển xa hơn tới các quốc gia Trung Đông, rồi tới vùng vành đai Địa Trung Hải, châu Âu, Bắc Phi, Mỹ. Trung tâm sinh hoạt của người Do Thái tiếp tục di chuyển từ Babylon sang Tây Ban Nha, rồi Ba Lan. Ở bất cứ đâu, người Do Thái cũng hình thành nên những cộng đồng nhỏ rải rác. Trong khi họ tồn tại là một tôn giáo và một dân tộc, họ không thiết lập bất kỳ một thể chế chính trị nào.
Từ thế kỷ 13 về sau, người Do Thái giáo chịu sự tẩy chay, bài trừ ở hầu hết ở mọi quốc gia châu Âu. Đến thế kỷ 18, ở mọi nơi người Do Thái giáo bị dồn vào những khu ổ chuột rất tù túng và không ánh sáng gọi làghetto. Nhiều cuộc thảm sát người Do Thái giáo tiếp tục xảy ra.
Tất cả những yếu tố này đã định hình lịch sử Do Thái trong gần hai ngàn năm tiếp theo. Trong khoảng thời gian dài đó, người Do Thái đã cho thấy khả năng phục hồi và kỷ cương đầy ấn tượng. Do Thái giáo được củng cố mạnh trong các cộng đồng Do Thái lưu vong.
1. Sách Talmud
Theo ngữ nghĩa, Talmud có nghĩa là ‘học’ (learning). Tuy nhiên ý nghĩa thực của Talmud còn rộng hơn rất nhiều. Với nhiều người, ngoài Kinh Thánh Hebrew thì sách Talmud là đại diện cho hiến pháp tôn giáo và dân sự của người Do Thái, một bản ‘hiến pháp bỏ túi’ đã giúp họ sống sót trong gần hai thiên niên kỷ lưu vong. Những người khác coi Talmud là kho tàng vô giá của văn minh Do Thái truyền thống.
Rộng hơn nữa, Talmud tượng trưng cho một quá trình kéo dài nhiều thế kỷ, một lối sinh hoạt của các học giả và một hướng dẫn sống cho tất cả những ai thực hành Do Thái giáo. Talmud chứa đựng những lề luật nghiêm ngặt, những tranh luận về đạo đức, minh triết của các nhà thông thái, lịch sử và triết học, những câu hỏi và trả lời, nhận định về những ý nghĩa tiềm ẩn trong Kinh Thánh, thậm chí cả truyện ngụ ngôn và phương ngôn tục ngữ. Kiệt tác đồ sộ này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay và như được hiểu thì không bao giờ chấm dứt.
Rất hiếm ở các dân tộc khác (bao gồm Việt Nam) có những kiệt tác vô giá như thế này. Cũng rất hiếm ở các dân tộc khác có một diễn đàn như Talmud cho phép các nhà thông thái và giới trí thức được phản biện để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Người Do Thái đã làm được điều này từ trên 2.000 năm trước!
2. Khẩu Luật (Oral Law)
Hai bản Talmud của Palestine và Babylon, theo nghĩa hẹp, chỉ là giải nghĩa của Khẩu Luật (Oral Law). Về ngữ nghĩa, Khẩu Luật có nghĩa là những lề luật truyền miệng. Các truyền thống Do Thái cho biết Khẩu Luật đi kèm với Luật Viết (Written Law) – tên gọi khác của Kinh Thánh Hebrew – và được các ngôn sứ, các bậc trưởng lão, các Rabbis… truyền miệng cho các môn sinh của họ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nền tảng của Lề Luật Do Thái là 613mitzvot, hay ‘điều răn’, có thể tìm thấy trong Sách Levi (Leviticus) và Sách Đệ Nhị Luật (Deuteronomy) của Sách Torah . Những điều răn này nhiều khi không được giảng giải cụ thể và đòi hỏi có thêm sự giải thích bên ngoài, và đó chính là lý do tại sao lại có Khẩu Luật. Thí dụ như, khi Sách Torah đơn giản nói “thou shall not cook the calf in its mother’s milk”(Deuteronomy 14:21 – “Anh em không được lấy sữa dê mẹ mà nấu thịt dê con”), thì Khẩu Luật sẽ phải dựa trên chỉ dụ này mà dựng lên cả một câu chuyện giải thích như thế nào và tại sao người ta không thể nấu lẫn sữa và thịt cùng với nhau.
Vậy Khẩu Luật đã được hình thành như thế nào và tại sao đã là truyền miệng lại còn được biên soạn thành văn bản thánh?
Theo phương thức đã nói ở trên, các Rabbis thường cắt nghĩa một điều luật hay điều răn trong Sách Torah song song với một truyền thống được truyền miệng. Khi trong Sách Torah có những từ ngữ chưa được giảng giải, những nghi thức không có hướng dẫn thì người Do Thái mặc nhiên cho rằng họ đã biết thông qua kiểu truyền miệng. Cách giải thích song song này dần dần trở thành Khẩu Luật. Kết quả là trong vài ba thế kỷ sau sự sụp đổ của Đền thờ Giê-ru-sa-lem, nhiều phần trong Khẩu Luật được các Rabbis sưu tập và biên soạn lại thành một bộ sách quí gọi làTalmud. Đây là văn bản trung tâm của các Rabbis.
3. Mishna (hay Mishnah)
Về cấu trúc, Talmud gồm 2 bộ:Mishnađược soạn vào thế kỷ 2, vàGemarađược soạn vào thế kỷ 5. Mishna là bản tóm lược đầu tiên bằng văn bản của Khẩu Luật, thực chất tóm tắt tất cả những tranh luận của các thế kỷ trước từ thời Ezra và dựa trên đó định ra bổn phận và trách nhiệm của người Do Thái trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Rabbi Yehuda HaNasi là người đầu tiên biên soạn văn bản này vào năm 200. Câu hỏi là tại sao Rabbi Yehuda lại quyết định viết Khẩu Luật thành văn bản thánh? Một số cho rằng rất nhiều học giả đã hy sinh trong hai cuộc nổi dậy vì vậy việc viết Khẩu Luật thành văn bản đơn giản là để nhằm tránh sự thất lạc trong tương lai.
4. Gemara
Mishna đánh dấu sự kết thúc của một quá trình và bắt đầu của một quá trình khác. Như đã nói ở trên, Mishna được viết thành văn bản gồm những lề luật, hướng dẫn, tranh luận mà trước đây chỉ được truyền miệng. Nó cũng làm khởi phát những tranh luận nóng bỏng giữa các Rabbis, và những tranh luận này về sau đã được biên soạn thành một bộ sách chú giải chi tiết khác gọi là Gemara, lấy từ thuật ngữ ‘nghiên cứu’ (study) trong tiếng Aramaic. Bộ Gemara này vượt trên cả những chú giải trong sách Mishna và Sách Torah , đề cập tới mọi lĩnh vực trong đời sống của người Do Thái trong những năm lưu lạc. Có hai phiên bản Gemara: một Gemara được biên soạn bởi cộng đồng Do Thái giáo ở Palestine và một Gemara được biên soạn ở Babylon. Talmud là kết quả gộp chung cả hai bộ Gemara và Mishna. Bộ Talmud của Palestine được hoàn thành vào năm 425. Còn bộ Talmud của Babylon hoàn thành vào năm 500, có khối lượng gấp ba lần bộ Talmud của Palestine, in thành 5.894 trang khổ đôi với 12 tập và có ảnh hưởng rất lớn với cộng đồng người Do Thái giáo trên toàn thế giới. Toàn bộ Talmud có 63 bài luận, bao gồm những ý kiến của hàng ngàn Rabbis trong nhiều chủ đề, cả về pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác. Trong một số sách vở, thế kỷ 3-5 được gọi là ‘Thời kỳ Talmud’.
Một điều chắc chắn là Talmud có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của người Do Thái, cung cấp nghi lễ thực hành tại các Hội đường Do Thái và tài liệu cho các bài thuyết giảng của các Rabbis. Sách Talmud hé lộ những lời dạy cụ thể giúp con người kéo dài cuộc sống, tăng cường sức khỏe thể chất, mang lại sự ổn định về tinh thần, giúp xây dựng gia đình và xã hội vững mạnh, và cung cấp cho con người sự khôn ngoan trong mọi quyết định của cuộc sống.
Sự thành công đáng kinh ngạc của người Do Thái trong lịch sử đã trở thành điều bí ẩn và được nghiên cứu qua nhiều thế hệ và từ nhiều góc độ. Nhiều học giả cho rằng chìa khóa của sự thành công đó là vì trọng tâm của Do Thái giáo chính là đọc sách, học tập, và làm theo những lề luật và các điều răn trong Kinh Thánh và Talmud.
5. Halakha
Halakhalà bộ luật tôn giáo Do Thái được xây dựng dựa trên Torah Viết (Ngũ kinh Mô-sê) và Torah Nói (Talmud), quy định những điều người Do Thái được và không được làm, những điều họ nên và không nên làm trong mọi khía cạnh của cuộc sống thường nhật, từ việc thực hiện nghĩa vụ tôn giáo, lễ nghi cho tới quan hệ hôn nhân, từ ứng xử trong cộng đồng cho tới luật dân sự và hình sự. Torah Viết (Ngũ kinh Mô-sê) đóng vai trò trung tâm trong việc định hình tất cả các khía cạnh của đời sống Do Thái trong và sau cuộc lưu đầy Babylon [586 TCN – 538 TCN]. Còn Torah Nói (Talmud) phát triển dựa trên các cuộc tranh luận, hướng dẫn, phân xử của các thế hệ học giả, hiền triết, Rabbis, những người nổi lên như những lãnh tụ tôn giáo thế hệ mới trong thời kỳ Đền Thờ thứ Hai. Có thể nói Sách Torah , Talmud và cuối cùng bộ luật tôn giáo Halakha là trụ cột tâm linh vững chắc của Do Thái giáo, tạo ra sự khác biệt của Do thái giáo với các tôn giáo khác.
6. Cộng đồng Do thái lưu vong sau năm 70 CN
Trước Công nguyên, do kết quả những cuộc xâm lăng, người Do Thái bị lưu đầy sang vùng đất Mesopotamia, đặc biệt là thủ phủ Babylon, rồi Ai Cập. Năm 70 CN, Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị san bằng, hàng ngàn người Do Thái bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ và bị lưu đầy phân tán đi khắp các miền của Đế quốc La Mã. Vào thời gian này có khoảng bảy triệu người Do Thái cư ngụ bên trong biên giới của Đế quốc La Mã, chiếm 10% dân số, và một triệu người sống bên ngoài biên giới chủ yếu ở Babylon.
Từ thời điểm này hành trình lưu vong của người Do Thái bắt đầu đẩy mạnh và lan rộng tới mọi vùng đất xa xôi khác trên trái đất, khởi đầu từ Trung Đông, sang vành đai Địa Trung Hải, rồi sau đó tiếp tục lan sang châu Âu, Bắc Phi, Đông Âu, Trung Hoa,… cuối cùng tới Bắc Mỹ.
7. Ki-tô giáo ra đời
Vào cuối thế kỷ 1, Ki-tô giáo ra đời và khởi đầu như là một chi nhánh của Do Thái giáo, với Chúa Giê-su và các tông đồ của Ngài là những người thực hành Do Thái giáo. Chúa Giê-su là người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất. Ki-tô giáo lấy Kinh Thánh, các hình thức thờ phụng, và học thuyết tận thế của mình trực tiếp từ Do Thái giáo. Vào thời gian này, Hoàng đế La Mã Constantine I có xu hướng thiên về Ki-tô giáo và từng bước làm cho Ki-tô giáo trở thành quốc giáo. Ông đã hợp pháp hóa Ki-tô giáo với Sắc lệnh Milan năm 313. Năm 315 Constantine lên án người Do Thái là tội đồ trong cái chết của Chúa Giê-su, xóa bỏ tội đóng đinh Chúa Giê-su lên thánh giá khỏi những người tiền nhiệm của ông. Năm 323 Ki-tô giáo chính thức trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã. Năm 337 Hoàng đế La Mã Constantius II – con thứ hai của Constantine I và Fausta – ra sắc lệnh đặt Do Thái giáo ra ngoải vòng pháp luật, cấm người Do Thái làm chủ nô lệ đối với người không phải Do Thái, cấm hôn nhân giữa người Do Thái và người Ki-tô giáo, cấm các Rabbis hội họp.
Trong khi một số các Hoàng Đế La Mã khác vẫn ủng hộ quyền thực hành tôn giáo của người Do Thái, các giáo sĩ Ki-tô giáo luôn tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của Do Thái giáo bằng cách đòi tất cả người Do Thái giáo cải đạo sang Ki-tô giáo. Họ có cảm xúc mạnh về Palestine, nơi mà Chúa Giê-su đã ra đời và bị đóng đinh trên thánh giá.
Trong những thế kỷ đầu sau công nguyên, cuộc sống của người Do Thái tại Palestine chịu nhiều khó khăn và dần dần suy tàn. Vào cuối thế kỷ 6, tại Palestine chỉ còn có 43 cộng đồng người Do Thái, chủ yếu là ở vùng Galilee và thung lũng Jordan. Người Do Thái bắt buộc phải di chuyển trung tâm sinh hoạt sang các vùng khác bên ngoài Palestine.
Mặc dù sống lưu lạc, ở những nơi này, các hoạt động của người Do Thái giáo trong việc nghiên cứu, thảo luận, bổ xung các điều luật, giới răn, và biên soạn Talmud được diễn ra rất mạnh mẽ. Cuốn Sách Talmud đồ sộ của cộng đồng Do Thái Babylon được hoàn thành vào thời gian này – khoảng năm 500 CN, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tâm linh, đạo đức và nề nếp sinh hoạt của người Do Thái trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay.
Năm 622, Muhamad sáng lập ra Hồi giáo (Islam) ở bán đảo Ả Rập. Năm 636, người Ả Rập chinh phục Palestine và các khu vực khác ở Tây Á, lập ra Đế quốc Ả Rập. Dưới sự thống trị của người Ả Rập, người Do Thái phải nộp thuế thân và thuế đất để bảo vệ tính mạng, của cải và sự tôn giáo của mình. Cuộc sống người Do Thái rất khó khăn. Từ thế kỷ 8 cho đến 12, nhiều người Do Thái ở Mesopotamia và Ba Tư di chuyển bên trong lãnh thổ các vương quốc Hồi giáo, nhất là Yemen, Syria, Lebanon, Ai Cập, Maghreb. Những người khác di chuyển đến định cư ở bán đảo Iberia rồi Sicily. Những làn sóng di cư Do Thái này tạo ra các cộng đồng Do Thái thành thị nhỏ khắp thế giới. Nếu lấy bản đồ thế giới, gắn đinh ghim đỏ lên những nơi có người Do Thái sinh sống năm 1170 thì tấm bản đồ đó sẽ rực một màu đỏ từ Anh, bán đảo Iberia cho tới Ấn Độ.
Đây là khoảng thời gian được gọi là ‘Thời kỳ Hoàng Kim’ (Golden Age) của lịch sử Do Thái trong đời sống lưu vong. Việc làm ăn buôn bán của người Do Thái được phát triển mở mang, tất cả đều có mức sống cao, giáo dục cho tầng lớp trẻ rất được quan tâm và để lại một di sản trí tuệ bền vững và xuyên suốt qua nhiều thế kỷ sau này cho Do Thái giáo. Về sau, với sự sa sút của những khu vực này do cuộc chinh phạt Trung Đông của người Mông Cổ từ những năm 1220 tới những năm 1250, người Do Thái chuyển hướng mở rộng di cư sang Bắc Phi và các nước khác của châu Âu. Việc này kéo dài cho đến tận thế kỷ 13-15.
Do ảnh hưởng của chính sách bài Do Thái tại châu Âu cùng các cuộc Thập Tự Chinh [1099-1291], rồi bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492… người Do Thái lại tiếp tục hành trình lưu vong của mình sang các vùng đất thuộc Đế chế Ottoman và các quốc gia thuộc Đông Âu.
VI. CÁC CỘNG ĐỒNG DO THÁI Ở ĐỊA TRUNG HẢI
Bên ngoài Trung Đông và Ai Cập, các cộng đồng Do Thái đã đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt của vùng lưu vực Địa Trung Hải, một vị thế mà họ vẫn còn duy trì được ngay cả sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ cuối thế kỷ 5. Đó là những khu vực xa xôi ở Marốc và Tunisia – đặc biệt những thành phố của Kairouan; và đảo Djerba. Các nơi khác bao gồm các vùng đất bao quanh Địa Trung Hải thuộc Đế chế Ottoman như Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Anatoia, miền Nam nước Pháp, và Cyrenaica – vùng bờ biển phía Đông của Libya. Không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm của các đế chế, người Do Thái tại Libya, Syria, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo nên một mạng lưới buôn bán hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng dọc khắp Địa Trung Hải.
1. Người Do Thái ở Hy Lạp
Tại Hy Lạp, các bằng chứng cho thấy rằng người Do Thái đã có mặt ở đây khoảng năm 300 TCN; một vài nhóm có thể đã đến đây sớm hơn trong thời kỳ lưu đầy Babylon. Theo thời gian, họ đã hình thành nên một cộng đồng gọi làRomanioteshoàn toàn khác với người Do Thái Sephardi[2]và Ashkenazi[3]. Họ có phong tục địa phương riêng và nói một ngôn ngữ riêng gọi làYevanic, một thứ thổ ngữ Hy Lạp viết bằng chữ Hebrew. Một khách du lịch Do Thái thời tiền trung cổ tên là Benjamin viết rằng cộng đồng Romaniotes lớn nhất là ở Thebes, ở đó người Do Thái nổi tiếng với nghề nhuộm vải và sản xuất quần áo lụa thủ công. Họ cũng sống ở các đảo Corfu và Aegina, và ở Corinth, Athens và Thessaloniki là nơi sau này trở thành thành phố Do Thái Hy Lạp lớn nhất khi người Do Thái Sephardi tràn đến từ Tây Ban Nha sau khi bị trục xuất vào năm 1492.
2. Người Do Thái ở Tây Ban Nha – Thời kỳ Hoàng kim [thế kỷ 8-12]
Khi người La Mã xâm lăng Bán đảo Iberia vào năm 218 TCN và bắt đầu định cư vào năm 171 TCN, họ đã chạm trán với quần thể đa sắc tộc ở đây gồm người Celt, Phoenicia, Carthaginia, và cả các gia đình Do Thái – những người nói rằng họ là hậu duệ của người tị nạn Do Thái đến đây từ thời kỳ Đền thờ thứ Nhất. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 1 sau CN, sau khi Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị Đế quốc La Mã phá hủy lần thứ hai, thì người Do Thái mới bắt đầu thực sự rời bỏ Palestine, mở rộng lưu vong đến những vùng lãnh thổ khác thuộc Đế quốc La Mã, đặc biệt là các quốc gia trong vành đai Địa Trung Hải trong đó có Tây Ban Nha.
Một điểm đặc biệt ở Tây Ban Nha là, qua nhiều thế kỷ chuyển đổi từ giai đoạn La Mã, sang Hồi giáo, rồi Ki-tô giáo, người Do Thái luôn giữ vai trỏ đứng đầu trong đời sống văn hóa, xã hội và kinh tế của Tây Ban Nha. Người Do Thái Tây Ban Nha gọi họ là Sephardim phỏng theo tên Sepharad – tên gọi của một địa danh trong Kinh Thánh. Họ nói một thứ thổ ngữ Ả Rập trong các vùng của người Hồi giáo, và nói tiếng Judeo-Spanish gọi là Judezmo hoặc Ladino trong các vùng của người Ki-tô giáo. Cả hai thứ tiếng này được viết bằng chữ cái Hebrew.
Cuộc xâm lăng Bán đảo Iberia vào những năm đầu thế kỷ 8 của người Ả Rập và Berber, dưới ngọn cờ Hồi giáo, chính là chìa khóa đã mở bung sự sáng tạo của người Do Thái ở Tây Ban Nha. Nhà cầm quyền Hồi giáo đã mang đến sự kích thích tìm hiểu tri thức, sức sống kinh tế và sự nhạy cảm thẩm mỹ – những thứ ảnh hưởng mạnh mẽ đến người Ki-tô giáo và người Do Thái, mở đầu cho ‘Thời kỳ Hoàng kim’ của người Do Thái Sephardi trong đời sống lưu lạc. Thời kỳ này đã sản sinh ra biết bao nhiêu nhà thông thái, ngôn ngữ học, khoa học, vật lý, các nhà ngoại giao, thiên văn học và các nhà huyền môn Do Thái.
Người Ả Rập thống trị Bán đảo Tây Ban Nha cho đến thế kỷ 11 khi người Ki-tô giáo giành lại được bán đảo này, và vào năm 1096 Tòa thánh Vatican khởi động các cuộc Thập Tự Chinh kéo dài từ châu Âu sang đến tận Giê-ru-sa-lem. Giáo Hoàng thúc giục các nhà cầm quyền Ki-tô giáo tấn công người Do Thái giáo và người Hồi giáo ở châu Âu và thu hồi các vùng thánh địa ở Palestine đang nằm dưới quyền kiểm soát của người Hồi giáo. Các cộng đồng Do Thái giáo và Hồi giáo ở khắp châu Âu bị Thập Tự Quân càn quét dữ dội đến nỗi nhiều người Do Thái giáo phải đào thoát sang các quốc gia khoan dung hơn như Ba Lan hoặc các quốc gia Hồi giáo.
Đầu thế kỷ 14, ở Tây Ban Nha lại dấy lên phong trào bài Do Thái. Những bách hại và cưỡng bức cải đạo tiếp tục tăng lên. Người Do Thái nếu không cải đạo sang Ki-tô giáo sẽ bị tử hình hoặc bị tước đoạt quyền công dân. Một bộ phận những người Do Thái giàu có đã tự nguyện chuyển sang Ki-tô giáo; một số người bị ép phải cải đạo nhưng vẫn bí mật duy trì Do Thái giáo – những người này gọi làMarranos. Để thanh trừ các Marranos, giáo hội Ki-tô Tây Ban Nha lập ra tòa án phán xét dị đoan nhằm tiến hành phán xử các Marrano bằng những biện pháp nghiệt ngã từ roi vọt đến thiêu sống. Trong thời gian này có khoảng 40 vạn người Do Thái bị phán xét trong đó ba vạn người bị tử hình. Áp lực tiếp tục tăng lên cho đến năm 1492 khi Vua Ferdinand của Tây Ban Nha ra sắc lệnh trục xuất người Do Thái giáo và Hồi giáo khỏi Tây Ban Nha. Vào giữa thế kỷ 15, sự bức hại của Tây Ban Nha đối với người Do Thái tăng đến đỉnh điểm và tàn khốc, dẫn tới phong trào bài Do Thái khắp châu Âu. Hàng ngàn người Do Thái một lần nữa lại phải bỏ Tây Ban Nha trốn sang Ý, Marốc (Bắc Phi), Bán đảo Balkan, Thổ Nhĩ Kỳ của Đế chế Ottoman, và Ba Lan…
VII. XÂM NHẬP SÂU VÀO CHÂU ÂU VÀ ĐÔNG ÂU
Người Do Thái đã sớm xâm nhập vào lục địa châu Âu từ thế kỷ 1 theo chân những trại lính của Đế quốc La Mã. Cùng với mạng lưới buôn bán dọc khắp vành đai Địa Trung Hải, người Do Thái đã sớm thiết lập nên những điểm buôn bán ở những thành phố tiền đồn của Đức như Bonn, Triers, và Cologne. Những người Do Thái này được cho là những người Ashkenazi đầu tiên đã đóng góp tới 90% dân số Do Thái ngày nay. Tên gọi Ashkenazi lấy từ một địa danh trong Kinh Thánh và được sử dụng trong thời kỳ Trung cổ ám chỉ những vùng đất của Đức và miền Bắc nước Pháp.
Từ đây người Do Thái bắt đầu chuyển dần di cư đến các quốc gia khác của châu Âu.
1. Người Do Thái ở Ba Lan
Người Do Thái đến Đông Âu khá muộn, mãi đến tận thế kỷ 8. Một trong những điểm dừng khá đặc sắc là Ba Lan. Trong thời gian này, các nhà cầm quyền Slavơ đang muốn bắt kịp người láng giềng Đức bên cạnh và họ đã tìm thấy câu trả lời ở người Do Thái. Vì thế ngay từ ngày đầu khai sinh của nhà nước Ba Lan vào năm 966, người Do Thái đã đóng một phần sống còn trong câu chuyện Ba Lan, mặc dù sự hiện diện của họ ban đầu chỉ là nhất thời.
Đến thế kỷ 16-17, sau khi bị sắc lệnh trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492, rồi cùng với phong trào bài Do Thái ngày càng gia tăng trên khắp châu Âu, nhiều người Do Thái ở Tây Âu đã chạy sang Đông Âu, Trung Âu và Ba Lan, ở đó họ đã được hấp thu vào cộng đồng Do Thái Ashkenazi.
Vào cuối thế kỷ 16, người Do Thái Ashkenazi Ba Lan trở thành cộng đồng Do Thái lớn nhất thế giới, ước tính với hơn nửa triệu người. Họ thường xuyên cầu nguyện ở các Hội đường Do Thái giáo, tự do nghiên cứu Torah và Talmud, và nói tiếng Yiddish, một thứ tiếng Đức cổ địa phương trộn lẫn tiếng Hebrew. Người Do Thái tại Ba Lan có được những may mắn này là nhờ vào chính sách khoan dung tôn giáo và quyền tự chủ theo luật định xã hội của Ba Lan trong một thời gian dài. Điều này đã kết thúc với sự chia cắt của Ba Lan bắt đầu vào năm 1772, và đặc biệt, với sự kỳ thị và đàn áp người Do Thái dưới thời Đế chế Nga Hoàng.
2. Người Do Thái ở Nga
Các vùng lãnh thổ rộng lớn của Đế quốc Nga có một thời là nơi cư ngụ của một quần thể người Do Thái lớn nhất trên thế giới. Trong những vùng lãnh thổ này các cộng đồng Do Thái đã hưng thịnh và phát triển nhiều truyền thống thần học và văn hóa khác biệt nhất của Do Thái giáo hiện đại, trong khi cũng phải đối mặt với những thời kỳ mang nặng chính sách bài Do Thái và khủng bố tàn bạo. Do Thái Nga bao gồm một số sắc dân khác nhau, chủ yếu là Ashkenazi, ngoài ra là Do Thái Mountain, Crimean Karaites, Krymchaks, người Do Thái Bukharan, và Do Thái Gruzia.
Sự có mặt của những người Do Thái ở phần châu Âu của Nga có thể được truy ngược trở lại thế kỷ 7-14. Trong thế kỷ 11 và 12, dân Do Thái bị giới hạn trong một khu riêng biệt ở Kiev. Bằng chứng về sự có mặt của người Do Thái ở Moskva lần đầu tiên được tìm thấy trong các biên niên sử của năm 1471. Trong suốt triều đại của Catherine II, người Do Thái bị giới hạn ở những nơi họ có thể sống hoặc phải di cư đến các vùng khác của Nga. Đầu thế kỷ 19 có sự di chuyển của người Do Thái đến Novorossiya[5]. Alexander III tiếp tục tăng cường chính sách bài Do Thái. Một làn sóng tàn sát người Do Thái với quy mô lớn quét qua Ukraine trong năm 1881. Năm 1886, một sắc lệnh trục xuất được ban hành tại Kiev. Hầu hết người Do Thái bị đuổi ra khỏi Moskva vào năm 1891. Một làn sóng tàn sát lớn lại một lần nữa bùng nổ trong những năm 1903-1906. Hơn hai triệu người Do Thái trốn khỏi Nga trong giai đoạn giữa 1880-1920, chủ yếu là sang Mỹ, sau là Bắc Phi.
3. Làn gió mới từ Bắc Mỹ
Cuối thế kỷ 18, một làn gió mới đến từ Bắc Mỹ đã đem lại hy vọng hồi sinh cho người Do Thái. Ở Bắc Mỹ, quốc gia Hoa Kỳ được thành lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 đã cho ra đời một bản hiến pháp tiến bộ nhất của nhân loại qui định rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, một quốc gia ngoại giáo tuyên bố rằng người Do Thái được quyền sống và mưu cầu hạnh phúc như những người khác. Ở nước Pháp, cuộc cách mạng 1789 và tiếp theo là tuyên ngôn nhân quyền được áp dụng gồm cho cả người Do Thái. Người Do Thái được nhận vào các trường đại học Tây Âu và được tham gia vào xã hội Tây Âu ở mọi tầng lớp.
Tuy thế, ở Đông Âu, cuộc sống người Do Thái vẫn không có gì cải thiện. Ở Nga, người Do Thái bị o ép và bị dồn vào các khu định cư Do Thái tối tăm. Những cuộc tàn sát người Do Thái ở Nga năm 1881 đã làm thay đổi sâu sắc lịch sử người Do Thái, dẫn đến sự ra đời của Zionism (Phong trào Phục quốc Do Thái) – một chiến dịch nhằm vận động thành lập một nhà nước Do Thái trên mảnh đất Palestine – và sự phát triển của quần thể Do Thái Hoa Kỳ. Nó cũng gián tiếp dẫn đến Cách mạng Nga. Một cuộc xuất hành lớn từ Đông Âu và đặc biệt là từ Nga diễn ra suốt từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20.
4. Sự dịch chuyển văn hóa từ Sephardi sang Ashkenazi
Đối với người Do Thái, việc bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492 dường như đã dập tắt một nguồn sáng tưởng như không bao giờ có thể thắp lại được. Tuy nhiên, trong thực tế, đôi khi sự bất hạnh dồn người ta đến những góc chết và chính tại đó cây đời đã lại nảy mầm xanh tươi. Cùng năm này, Columbus khởi hành chuyến thám hiểm đầu tiên vượt Đại Tây Dương đi tìm ‘Tân Thế giới’, mở ra những triển vọng không ai có thể tưởng tưởng trước đó cho các thương nhân. Công nghệ in ấn giúp truyền bá kiến thức dễ dàng hơn trước kia rất nhiều. Và Đế quốc Ottoman cho phép người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha được định cư dọc theo đế chế của họ, kể cả ở Palestine.
Nhìn chung, thời kỳ từ sau 1492 đã chứng kiến những thay đổi lớn trong lịch sử Do Thái: ngọn đuốc văn hóa được chuyển tay từ Sephardi sang Ashkenazi, Ba Lan thay đổi tầm vóc và trở thành trung tâm sinh hoạt lớn nhất của người Do Thái. Rabbi Loew dẫn đầu phong trào phục hưng Do Thái ở Praha (thủ đô Cộng hòa Czech) và tiếng Yiddish phát triển thành một ngôn ngữ. Yiddish, ngôn ngữ của các cộng đồng Do Thái Ashkenazi, trở thành lực đẩy chính cho việc truyền bá thông tin trong khu vực Do Thái Đông Âu. Nó là chất keo đã gắn kết ý nghĩa thế tục của cái gọi là ‘bản sắc Do Thái’.
5. Những vùng đất mới và cơ hội mới
Cuối thế kỷ 15 đã chứng kiến người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Naples và Nuremberg. Tuy nhiên những cộng đồng Do Thái trẻ đã đâm trồi nảy lộc trên những vùng đất mới. Họ xây dựng trường học, hội đường, khai thác những công nghệ mới và tiếp tục bảo tồn những truyền thống dân tộc. Người Do Thái phát đạt trở lại nhờ tạo ra những mạng lưới buôn bán rối rắm nối các miền đất mới – Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi, Hà Lan, Ba Lan và Litva.
Một điều nghịch lý là những cuộc trục xuất cuối thế kỷ 15 đã dẫn đến sự tiếp xúc giữa người Do Thái Sephardi và Ashkenazi do quyền lợi của cả hai phía. Kết quả là người Do Thái tái định cư lại dọc bờ biển Đại Tây Dương sau nhiều năm vắng bóng, trong khi Đại Tây Dương thay thế Địa Trung Hải là tâm điểm thương mại của châu Âu.
Người Do Thái Sephardi Iberia (Tây Ban Nha) tràn đến các vùng đất có chính sách khá cởi mở và khoan dung với người Do Thái như Ý, Bắc Phi, Bán đảo Balkan, Đông Địa Trung Hải, Thổ Nhĩ Kỳ của Đế chế Ottoman, và Ba Lan, trong khi phần lớn người Do Thái Ashkenazi tại Đức di cư từng nhóm lớn đến Ba Lan. Hợp tác Sephardi-Ashkenazi phát triển ngoạn mục khi Ba Lan trở thành điểm quá cảnh chính cho buôn bán bằng đường bộ mở rộng giữa các vùng đất thuộc Đế quốc Ottoman với Trung và Tây Âu.
Tại lục địa châu Mỹ, năm 1502, trong chuyến thăm đầu tiên tới Tân Thế giới, Columbus đã để lại 52 gia đình gốc Do Thái tại Costa Rica. Năm 1640, người Do Thái đã có mặt và sinh sống yên ổn dọc bờ biển Brazil còn đang dưới quyền Hà Lan. Thành phố Bahia của Brazil thậm chí còn được gọi với biệt danh là ‘The Rock of Ít-ra-en’ (Tảng Đá của Ít-ra-en). Sau khi người Bồ Đào Nha chinh phục Brazil năm 1654, cư dân Do Thái ở đây bỏ chạy đến vùng Surinam và Cayenne gần đó và tới Caribbe. 23 người Do Thái Sephardi của Brazil chạy tới thành phố tên là New Amsterdam lúc đó còn đang dưới quyền của Hà Lan. Ở đó họ thành lậpShe’arit Ít-ra-en(Remnant of Ít-ra-en- Dấu vết của Ít-ra-en) là hội đoàn Do Thái đầu tiên ở Bắc Mỹ. Thành phố New Amsterdam về sau đổi tên thành New York năm 1665 và được nhượng lại cho Anh quốc vào năm 1674. Khi người Anh ở Bắc Mỹ tuyên bố độc lập khỏi Anh quốc vào năm 1776, cộng đồng Do Thái ở Bắc Mỹ có khoảng 2000 người. Một thế kỷ sau đó, trong giai đoạn giữa 1880-1920, bị tàn sát và trục xuất khỏi những thành phố lớn, hơn hai triệu người Do Thái đã trốn khỏi Nga, chủ yếu là sang Mỹ. Tính tổng cộng có ba làn sóng người Do Thái di cư sang Mỹ: làn sóng thứ nhất là người Do Thái Sephardi từ Brazil và Hà Lan; làn sóng thứ hai là những người Do Thái có học hành từ Đức; và làn sóng thứ ba, lớn nhất, là người Do Thái Đông Âu nói tiếng Yiddish, chạy trốn các cuộc tàn sát 1881 của Nga. Ngày nay, nước Mỹ là ngôi nhà của bảy triệu dân Do Thái, một cộng đồng Do Thái lớn nhất thế giới.
Cũng từ thế kỷ 15, việc phát minh công nghệ in ấn giúp truyền bá kiến thức dễ dàng hơn. Một sự kiện ấn tượng là Daniel Bomberg, một ki-tô hữu từ Bỉ, đã in toàn bộ Talmud trong khoảng từ 1520-1523 tại Venice và đặt tiêu chuẩn đánh số trang cho Talmud cho mọi thời gian. Tiến bộ kỹ thuật in ấn đã giúp kiến thức Do Thái được lan truyền giống như một ngọn lửa lớn trên thảo nguyên.
VIII. NGƯỜI DO THÁI LƯU VONG Ở BỐN GÓC CỦA THẾ GIỚI
1. Người Do Thái Ethiopia
Có khoảng 127.000 người Do Thái Ethiopia ngày nay. Từ sau Chiến dịch Mô-sê (1984) và Chiến dịch Salomon (1991) do Nhà nước Ít-ra-en khởi động đưa người Do Thái Ethiopia về Ít-ra-en, họ phần lớn hiện đang sống ở Ít-ra-en. Họ tự gọi họ là Beta Ít-ra-en (Ngôi nhà của Ít-ra-en) trong ý nghĩa gần gũi gia đình nhưng vẫn là ‘người lạ’.
Người Beta Ít-ra-en cho biết họ là con cháu của bộ tộc Dan, một trong 10 bộ tộc thất lạc của Vương quốc Ít-ra-en phương Bắc vào thế kỷ 10. Một điều không bình thường so với người Do Thái Diaspora khác là người Beta Ít-ra-en không sử dụng tiếng Hebrew mà lại dùng tiếng Ge’ez của Ethiopia. Sách Thánh của họ, Orit, cơ bản là đồng nhất với những phần đầu của Torah. Họ không biết gì về Talmud, cũng không thực hành các ngày lễ Do Thái giáo như Purim hay Hanukkah.
2. Người Do Thái của miền Nam Ấn Độ
Người Do Thái Cochin, còn gọi là người Do Thái Malabar, là hậu duệ của người Do Thái Mizrahi và Sephardi. Họ là nhóm người Do Thái cổ nhất ở Ấn Độ, với nguồn gốc có thể là từ thời Vua Salomon. Những người Do Thái Cochin định cư tại Vương quốc Cochin ở Nam Ấn Độ, nay là một phần của bang Kerala. Ngay từ thế kỷ thứ 12, người ta đã đề cập đến người Do Thái Đen (Black Jews) ở miền nam Ấn Độ. Một khách du lịch Do Thái, Benjamin xứ Tudela, khi nói về Kollam (hoặc Quilon – một thành phố cảng ở Ấn Độ) trên bờ biển Malabar, đã viết trong hành trình của ông: “… khắp hòn đảo, bao gồm tất cả các thị trấn, có vài ngàn người Do Thái. Những cư dân ở đây đều là da đen, và cả người Do Thái cũng vậy. Người Do Thái tốt bụng. Họ biết lề luật của Mô-sê và các đấng ngôn sứ, cũng hiểu biết đôi chút về Talmud và Halakha”. Những người này sau đó đã được biết đến như những người Do Thái Malabari. Họ đã xây dựng giáo đường Do Thái ở Kerala vào thế kỷ 12 và 13. Họ được biết đã phát triển Judeo-Malayalam, một thổ ngữ của ngôn ngữ Malayalam.
Sau khi bị trục xuất khỏi Bán đảo Iberia vào năm 1492, một vài trong số các gia đình Do Thái Sephardi cuối cùng đã tìm được đường đến Cochin trong thế kỷ 16. Họ được biết đến như người Do Thái Paradesi (hoặc ‘người Do Thái nước ngoài’). Người Do Thái châu Âu vẫn duy trì các kết nối thương mại với châu Âu, và các kỹ năng ngôn ngữ của họ trở nên rất hữu ích. Mặc dù người Sephardi nói tiếng Ladino (hoặc Judeo-Spanish), ở Ấn Độ họ đã học Judeo-Malayalam từ những người Do Thái Malabar. Hai cộng đồng này giữ lại sự khác biệt về nhân chủng và văn hóa của họ. Vào cuối thế kỷ 19, một vài người Do Thái Ả Rập, được gọi là Baghdadi, cũng di cư đến miền nam Ấn Độ và tham gia cộng đồng Paradesi.
Sau khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947 và Ít-ra-en tuyên bố độc lập năm 1948, phần lớn người Do Thái Cochin ở Kerala di cư về lại Ít-ra-en vào giữa những năm 1950.
3. Người Do Thái phủ Khai Phong (thuộc tỉnh Hồ Nam – Trung Hoa)
Một du khách Do Thái, Ibn Battuta, khi cập bến cảng Hàng Châu của Trung Hoa vào thế kỷ 13, mô tả là đã chạm trán với một cộng đồng người Do Thái sôi động ở đó. Mác-côo Polo trước đó cũng nói là đã gặp người Do Thái Trung Hoa ở Bắc Kinh vào khoảng năm 1286. Người Do Thái được biết là thường xuyên buôn bán xuôi ngược trên con đường tơ lụa và một vài người trong số đó đã định cư và lấy người Trung Hoa bản địa ở phủ Khai Phong thuộc tỉnh Hồ Nam.
Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng một cộng đồng Do Thái đã có mặt ở Khai Phong kể từ triều đại Bắc Tống (960-1127), mặc dù người Do Thái có thể đã đến Trung Hoa từ thời nhà Đường (618-907) hoặc sớm hơn. Khai Phong, khi đó là thủ đô của triều đại Bắc Tống, là một thành phố lớn nằm trên một nhánh của con đường tơ lụa. Người ta dự đoán một cộng đồng nhỏ người Do Thái, rất có thể từ Ba Tư hay Ấn Độ, đã đến theo đường bộ hoặc đường biển, định cư ở thành phố và xây dựng một giáo đường Do Thái gọi là libai si vào năm 1163.
Một số người Do Thái Trung Hoa cho biết họ là hậu duệ của người Do Thái lưu vong tại Babylon vào thế kỷ 6 TCN. Sau này người Do Thái từ Yemen, Ba Tư, và Bukhara ở Trung Á cũng đã đến định cư tại bờ nam của sông Hoàng Hà.
4. Người Do Thái Mountain (Mountain Jews)
Với một dân số khoảng 101.000 vào năm 2004, người Do Thái Mountain hay người Do Thái Caucasus, còn được gọi là Juhuro, Juvuro, Do Thái Kavkazi hay Do Thái Gorsky là người Do Thái đã từng định cư tại các sườn núi phía đông và phía bắc Caucasus, chủ yếu thuộc Dagestan và Azerbaijan, cũng như Chechnya, Kabardino-Balkaria, Krasnodar Krai – hầu hết là các khu vực người Hồi giáo của Liên Xô cũ.
Cộng đồng người Do Thái Mountain có nguồn gốc Ba Tư thời cổ đại, đến từ Tây Nam Iran và được cho là đã định cư tại Caucasus từ thế kỷ 5. Người ta tin rằng họ đã đến Ba Tư từ thời Ít-ra-en cổ đại sớm nhất là vào thế kỷ thứ 8 TCN. Giả thiết này khá phù hợp với một truyền thuyết truyền miệng của người Do Thái Mountain, truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, rằng họ có nguồn gốc từ một trong 10 bộ tộc thất lạc vào thế kỷ 8 TCN. Ngôn ngữ của họ, Juhuri, là một ngôn ngữ Tây Nam Iran cổ đại trộn với một thổ ngữ Ba Tư được tích hợp nhiều yếu tố của tiếng Hebrew cổ.
Hầu hết người Do Thái Mountain quay trở về Ít-ra-en trong quãng thời gian 1970-90. Một số nhỏ định cư ở Moskva và Mỹ.
5. Người Do Thái ở Marốc
Người Do Thái Berber của Bắc Phi có thể là hậu duệ của các bộ lạc địa phương đã cải đạo sang Do Thái giáo hoặc có hôn nhân với người Do Thái đi theo các đoàn quân La Mã. Khoảng thế kỷ 5 một cộng đồng Do Thái xuất hiện khá phát đạt ở Mauretania thuộc miền Nam của Marốc. Hai thế kỷ sau, những người Do Thái trốn thoát cuộc đàn áp tại Tây Ban Nha đã di cư về đây và gia nhập với họ. Năm 1391, Marốc một lần nữa lại trở thành nơi trú ẩn cho người tỵ nạn Do Thái sau khi các Ki-tô hữu Tây Ban Nha tàn phá khu vực người Do Thái ở Seville. Trong vòng 50 năm sau đó, người Do Thái đã xây dựng được một khu vực riêng có tường bao quanh gọi làmellah, ởFez.Mellahcũng có ý nghĩa tương tự nhưghettocủa châu Âu.
Giữa những năm 1950-1970 đa số người Do Thái Berber ở Marốc di cư về Pháp, Mỹ, hoặc Ít-ra-en.
6. Người Do Thái ở Nam Phi
Người Do Thái đến Nam Phi vào những năm 1820 sau khi nước Anh chiếm thuộc địa Cape, và ào ạt hơn với cơn sốt khai thác vàng và kim cương cuối thế kỷ 18. Nhiều người Do Thái Ashkenazi đến từ Litva và Latvia sau năm 1881, và người Do Thái chiếm một con số không nhỏ 23% trong tổng số di dân của Cape trong quãng thời gian 1885-1915.
7. Người Do Thái ở Úc
Lịch sử của người Do Thái ở Úc bắt đầu với việc chiếm đất làm thuộc địa của Anh ở Úc vào năm 1788. Những người Do Thái đầu tiên đến Úc là tám người tù bị kết án được chuyển đến Vịnh Botany vào năm 1788 tại địa điểm ngày nay là Sydney. Trong điều tra dân số Úc năm 2011 có 97.335 người Úc được xác định là người Do Thái, chiếm 0,3 phần trăm dân số Úc. Phần lớn là người Do Thái Ashkenazi, nhiều người trong số họ là những người tị nạn và những người sống sót Holocaust đến trong và sau Thế chiến II. Do Thái giáo là một tôn giáo thiểu số tại Úc.
8. Người Do Thái ở Nam Mỹ
Những thương nhân và dân buôn lậu Bồ Đào Nha tại Rio de la Plata chắc chắn bao gồm một vài chàng Do Thái Sephardi, nhưng người Do Thái Pháp mới chính là những người đã thành lập nên cộng đồng Do Thái đầu tiên của Argentina sau khi quốc gia này giành được độc lập năm 1810. Làn sóng di cư sau 1881 từ ‘Rusos’ (Nga) đã nâng tỷ lệ người Ashkenazi của quần thể Do Thái ở đây lên 80%, phần còn lại là từ Marốc.
Tiếp theo đó, Hiến pháp tự do 1824 và tình trạng buôn bán cao su rất sôi động đã khiến Brazil trở thành điểm đến lớn thứ hai tại châu Mỹ Latinh cho người Do Thái. Vua Mexico Maximilian I khuyến khích người Do Thái Đức đến với Mexico, và người Do Thái Sephardi đã rời bỏ Đế chế Ottoman ốm yếu để đến làm lại cuộc đời của họ ở lục địa này. Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái
Khi nói về hành trình 4.000 năm của người Do Thái, chúng ta không thể không nhắc đến Chủ nghĩa Zion (Zionism), điểm sáng cuối cùng đã làm nên bước ngoặt của lịch sử Do Thái mà trên đó ý tưởng về Nhà nước Do Thái ngày nay đã nẩy mầm, lớn lên và kết thành cây trái ngay trên mảnh đất cổ xưa Canaan thấm đẫm máu và nước mắt.
Ngay trong Thời Kỳ Thánh Kinh [3000 TCN – 538 TCN] và cho đến thời điểm quốc gia Ít-ra-en cổ đại bị người La Mã hủy diệt vào năm 70 CN, người Do Thái đã sinh hoạt như một quốc gia, được cho là đầu tiên trong lịch sử. Sau đó, suốt trong hơn mười chín thế kỷ, người Do Thái lưu vong, trên những vùng đất mà họ cư ngụ, đã hình thành nên một dân tộc tách biệt với những tổ chức quản lý phi-nhà nước theo cung cách riêng của mình, với ngôn ngữ duy nhất, phong tục độc đáo, những ý tưởng khác lạ, và một nền văn hóa rất khác biệt, chưa kể đến những thứ như trang phục quần áo và nghệ thuật.
Những từ như ‘Hebrew’ và ‘Ít-ra-eni’, sử dụng phổ biến hơn từ ‘Jews’ – ngay trong thời hiện đại – đã phản ánh rằng bản sắc dân tộc và con người Ít-ra-en, đã tự mở rộng vượt ra ngoài phạm vi của tôn giáo. Như thế, tôn giáo chỉ là một dấu hiệu trong bản sắc người Do Thái, và thực tế đã chứng minh rằng bản sắc tôn giáo-dân tộc kéo dài của người Do Thái luôn tỏ ra mạnh hơn so với hầu như bất kỳ một dân tộc nào khác trên trái đất.
Tất cả người Do Thái Diaspora, ngay cả những người nghèo và ít học sống ở những nơi làng quê cô lập nhất, vẫn ý thức được nguồn gốc của họ tại Vùng đất Ít-ra-en trong Thánh Kinh; nhiều người vẫn duy trì quan hệ với cộng đồng rất nhỏ người Do Thái đang còn sống ở đó và luôn tin rằng số phận sẽ dẫn họ trở về khi Đấng Cứu Thế xuất hiện.
Là một trong những ý tưởng cố gắng tìm câu trả lời cho khao khát của người Do Thái về một mảnh đất của riêng mình, Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism – Chủ nghĩa Zion) đã ghép những ý tưởng dân tộc chủ nghĩa hiện đại vào kết nối cổ xưa của người Do Thái với Vùng đất Ít-ra-en. Tên gọi ‘Zionism’ lấy theo tên ngọn núi Zion tiếp giáp với Thành Cổ Giê-ru-sa-lem. Theo cách hiểu đơn giản nhất, Zionism thừa nhận sự gắn liền của dân tộc Do Thái với Vùng đất Ít-ra-en bao gồm Ít-ra-en ngày nay và Bờ Tây của sông Jordan. Một số người định ra ranh giới khác biệt giữa Zionism tinh thần – cái đã giúp củng cố đức tin tôn giáo của người Do Thái từ thời lưu vong Babylon – và Zionism chính trị – là ý tưởng phục quốc đã kết tinh tại châu Âu trong những năm cuối thế kỷ 19.
Chủ nghĩa Zion đã cập nhật tất cả những ý tưởng hiện có trên tinh thần tự giác và chủ nghĩa dân tộc đương đại. Nó đề xuất câu trả lời cho ‘câu hỏi Do Thái’, rằng làm thế nào để người Do Thái, bao gồm cả những người có cuộc sống không bị bao bọc bởi giới luật tôn giáo, đáp ứng những thách thức và cơ hội của thế giới hiện đại? Câu trả lời là không phải sự đồng hóa với cộng đồng bản địa xung quanh, cũng không phải là sự tồn tại thuần túy tôn giáo có thể đáp ứng những thách thức của thế giới hiện đại, mà chính là sự tồn tại của quốc gia: đó là sự cần thiết tạo ra một nhà nước Do Thái ngay trên quê hương lịch sử. Các nhà Zionist cũng lập luận rằng việc thay thế sự kiên nhẫn của lòng tin bằng hành động của con người sẽ bảo tồn cuộc sống của chính những người Do Thái và sự phát triển cho tôn giáo của họ.
Ít-ra-en hiện đại không phải là một tác phẩm tùy ý hoặc ngẫu nhiên – nó không chỉ đơn thuần là kết quả của những thảm họa, ví dụ như Holocaust. Thay vào đó, nó là sự tiếp nối của một quá trình lịch sử lâu dài. Sự ra đời của Nhà nước Ít-ra-en là không thể tránh khỏi và chỉ là một logic hợp lý cũng như bất kỳ nhà nước nào trên thế giới hiện nay, được tạo ra bởi một cộng đồng của những người có chung một thế giới quan, lịch sử, và ước muốn được chia sẻ số phận của mình.
Sự tồn tại của những cảm tình đối với Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái trong xã hội, tôn giáo và thế giới quan Do Thái có lẽ sẽ không đi tới đâu nếu không có một phong trào có tổ chức. Những nhà tư tưởng tiên phong giữa thế kỷ 19 – Mô-sê Hess [1812-1875], Leon Pinsker [1821-1891], và những người khác – đã cung cấp cái nhìn thoáng qua về ý tưởng lãng mạng của một nhà nước Do Thái, nhưng Theodor Herzl [1860-1904] và Ben-Gurion [1886-1973] mới là những nhà cách mạng đã đưa ý tưởng phục quốc trở thành hiện thực vào những năm 1890 khởi đầu với khái niệm Vùng đất Ít-ra-en.
Vào thế kỷ 18, ở Tây Âu, người Do Thái đã có lúc tưởng rằng họ được chấp nhận vào xã hội Tây Âu hiện đại như những người bình đẳng. Tuy thế cảm giác bài Do Thái vẫn còn nằm sâu dưới bề mặt của châu Âu Ki-tô giáo. Sự thù nghịch vẫn tồn tại và rất nhiều người Do Thái tin rằng cho dù các quốc gia châu Âu tự do như thế nào đi chăng nữa, dân tộc Do Thái sẽ không bao giờ được đối xử bình đẳng cho đến khi họ có một quốc gia của riêng mình.
Năm 1862, triết gia Do Thái tại Đức là Mô-sê Hess [1812-1875] xuất bản cuốn sách có tựa đề Rome and Giê-ru-sa-lem (Thành Rome và Giê-ru-sa-lem) trong đó tuyên bố rõ rằng tình cảm quốc gia của người Do Thái là không thể dập tắt được và chỉ có thể hiện thực hóa bằng cách quay trở về Palestine. Nếu cần thiết người Do Thái sẵn sàng hy sinh sự tự do trong hoàn cảnh lưu vong cho sự nghiệp này.
Ít người nhận thức được cảm nghĩ của Hess trong cuốn sách cho đến khi hai người đàn ông từ Odessa (Nga), Leon Pinsker [1821-1891] và Ahad Ha-Am [1856-1927], làm sống lại những ý tưởng của nó. Thành phố cảng Odessa bên biển Hắc Hải (Black Sea) có một phần ba dân số là Do Thái và là nơi ở của 150.000 người Do Thái thế tục có học hành và đang cố gắng hòa đồng vào xã hội Nga lúc bấy giờ. Tuy nhiên những cuộc tàn sát năm 1881 làm vỡ nát giấc mơ hòa nhập và khiến Pinsker cho ra đời ngay cuốn sách Auto-emancipation(Tự-Giải Phóng): “Đối với những người đang sống, người Do Thái là người chết; đối với người bản địa, người Do Thái là người ngoài hành tinh và vô gia cư; đối với người yêu nước, người Do Thái là kẻ không tổ quốc; và đối với mọi tầng lớp, họ là những kẻ đáng ghét.”Pinsker kết luận, người Do Thái chỉ có thể được kính trọng khi họ tự giải phóng mình.
Pinsker dẫn đầu tổ chức Hovevei Tzion (Những người yêu Zion) là tổ chức đã thành lập khu định cư Zion đầu tiên tại Palestine năm 1882. Năm 1890 Hoveveiđã sáng lập Odessa Committee (Ủy ban Odessa) với dự định nhằm giúp phát triển nông nghiệp tại Palestine, nhưng thiếu định hướng chính trị. Cuối cùng thì chính Theodor Herzl là người đã hoàn thành dự định đó.
Theodor Herzl, một nhà báo người Do Thái ở Hungary đã khởi xướng Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hay còn gọi là Chủ nghĩa Zion trong nỗ lực chống lại ách áp bức và ngược đãi người Do Thái và tìm ra bất cứ mảnh đất nào trên thế giới để người Do Thái có thể sống yên ổn và thành lập quốc gia của riêng họ. Tuy thế, trong thâm tâm, người Do Thái luôn biết rằng không đâu bằng đất tổ Palestine mà họ đã bỏ ra đi hơn hai ngàn năm trước. Vì thế Chủ nghĩa Zion kêu gọi việc thành lập một nhà nước quốc gia của người Do Thái ngay tại Palestine dùng làm nơi trú ẩn cho những người Do Thái trên thế giới và ở đó họ sẽ có quyền tự quyết. Các thành viên Zion ngày càng tin rằng nhà nước này phải ở ngay quê hương lịch sử của họ, mà họ gọi là Vùng đất Ít-ra-en.
Tiếp theo Theodor Herzl, một Zionist khác, David Ben-Gurion, người mà sau này trở thành vị thủ tướng đầu tiên của nhà nước Ít-ra-en vào năm 1948, đã tiếp nối và trở thành người lãnh đạo của Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Với lòng khao khát vô bờ bến cho sự nghiệp phục quốc của người Do Thái, David Ben-Gurion đã đấu tranh không ngừng nghỉ và sau này được vinh danh là ‘người cha sáng lập ra tổ quốc Ít-ra-en’. Nếu Theodor Herzl có thể khái quát hóa tầm nhìn cho chủ quyền của người Do Thái và kích thích cộng đồng Do Thái tha hương bằng khái niệm lãng mạn về một nhà nước chủ quyền, thì Ben-Gurion mới chính là người đưa tầm nhìn này từ một ý tưởng để trở thành một nhà nước thực sự có năng lực vận hành.
IX. THÀNH LẬP NƯỚC ÍT-RA-EN NĂM 1948
Chủ nghĩa Zion hiện đại đã đặt viên gạch đầu tiên cho ý tưởng về một quê hương đất nước của người Do Thái với tên gọi Vùng đất Ít-ra-en trên mảnh đất Palestine. Kể từ khi người Do Thái lưu vong gần 2.000 năm, Vùng đất Ít-ra-en vẫn luôn là tâm điểm trong ý thức của người Do Thái.
Thực tế thì ngay từ đầu những năm 1900, người Do Thái đã bắt đầu mua đất và phát triển những vùng định cư ở Palestine. Vào năm 1909, thành phố Tel Avil của người Do Thái đã được thành lập, và vào năm 1920, khoảng 50.000 người Do Thái đã di cư trở về Palestine. Đến năm 1933 dân số Do Thái ở Palestine đã lên tới 220.000 người.
Tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua một kế hoạch phân chia vùng Palestine, sau khi chế độ ủy trị của Anh chấm dứt trên mảnh đất này, thành hai nhà nước Ả Rập Palestine và Do Thái. Tháng Năm năm 1948, người Do Thái ở Palestine tuyên bố thành lập Nhà nước Ít-ra-en độc lập. Vào năm này, dân số của Ít-ra-en chỉ vẻn vẹn có 700 ngàn người. Sau năm 1948, với chính sách hỗ trợ và khuyến khích của Nhà nước Ít-ra-en, dòng chẩy những người Do Thái nhập cư từ khắp các miền đất trên thế giới vào Ít-ra-en tăng lên cuồn cuộn: năm 1949 là 239.576 người; năm 1950 là 170.249 người; năm 1951 là 175.095 người. Trong giai đoạn 1990-1999, sau sự sụp đổ của Liên Xô, gần một triệu người Do Thái quay trở về Ít-ra-en, phần lớn là khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên học thức cao. Diện mạo của đất nước Ít-ra-en thay đổi không ngừng. Hiện nay 9 trong 10 người Ít-ra-en là dân nhập cư hoặc là con cháu thế hệ thứ nhất hay thứ hai của dân nhập cư. Ít-ra-en giờ là nơi sống của những người có 70 quốc tịch gốc và các nền văn hóa khác nhau.
Về phần nhà nước Ả Rập Palestine, do xung đột kéo dài, phải đến tháng Năm năm 1994, sau Hiệp định Oslo, Chính quyền Palestine (tự trị) đứng đầu là Yasser Arafat mới được thành lập trên hai vùng đất tách biệt: Bờ Tây và Dải Gaza. Hai bộ phận này của lãnh thổ Palestine trên thực tế là hai vùng đất cách nhau khoảng 45 km. Bờ Tây nằm giữa Giê-ru-sa-lem – từ lâu đã được tuyên bố là thủ đô của cả Palestine và Ít-ra-en – và Jordan về phía Đông. Dải Gaza là một dải đất nhỏ dọc theo bờ biển Địa Trung Hải phía Tây của Ít-ra-en.
Văn hào Mác-cô Twain [1835-1910] khi ghé thăm Palestine vào năm 1867, đã mô tả nó là: “… Một đất nước hoang vắng phủ đầy cỏ dại đến thê lương trong im lặng…. Chúng tôi không thấy một bóng người trên đường đi …. hầu như không một cây xanh hoặc một bụi cây ở bất cứ đâu. Ngay cả ô liu và xương rồng, những bạn bè gần gũi của khô cằn, đã gần như rời bỏ đất nước này…“. Nếu ông còn sống và quay trở lại Ít-ra-en vào lúc này, ông sẽ phải sững sờ mà chứng kiến rằng một màu xanh của cây trồng và rau quả đã che phủ hầu hết các vùng đồi núi xa mạc hoang vu ngày xưa, các thành thị đang mọc lên, và sau hết, cuộc sống nơi đây đang nảy mầm.
PHỤ LỤC: CÁC CỘT MỐC THỜI GIAN
3760 TCN: Bắt đầu lịch Do Thái.
1812 TCN: Ngày sinh theo truyền thống của Abraham.
~1700 TCN: Jacob lãnh đạo người Do Thái di cư đến Ai Cập.
1300 TCN: Mô-sê dẫn người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập về Miền Đất Hứa (Xuất hành). Trên đường đi, Mô-sê nhận Mười Điều Răn của Thiên Chúa tại núi Sinai, Ai Cập.
1175 TCN: Người Philistines xuất hiện ở Canaan.
1200-400 TCN: Giai đoạn Sách Torah được biên soạn.
1000-586 TCN: Thời gian áng chừng của các vương quốc Ít-ra-en theo Kinh Thánh.
1043-1010 TCN: Người Do Thái thành lập vương quốc Ít-ra-en, trị vì bởi Saul.
1002-970 TCN: David trị vì Ít-ra-en, lấy Giê-ru-sa-lem làm thủ đô.
970-931 TCN: Salomon nối ngôi David và bắt đầu qui hoạch xây dựng lại Giê-ru-sa-lem.
922 TCN: Vương quốc Ít-ra-en bị chia thành Ít-ra-en ở phương Bắc và Giu-đa ở phương Nam. Giê-ru-sa-lem trở thành thủ đô của Giu-đa.
825 TCN: Đền thờ Giê-ru-sa-lem được hoàn thành.
720 TCN: Người Assyria xâm lược Ít-ra-en và trục xuất 10 bộ tộc người Do Thái.
625 TCN: Đế quốc Assyria bị liên minh của Đế quốc Babylon và Median tiêu diệt.
586 TCN: Vua Nebuchadrezzar II của Babylon phá hủy Đền thờ của Salomon và bắt dân Do Thái về Babylon làm nô lệ. Kết thúc thời kỳ Đền thờ thứ Nhất [825 TCN – 586 TCN].
538 TCN: Đại đế Cyrus của Ba Tư tiêu diệt Đế quốc Babylon và cho phép người Do Thái trở về Giê-ru-sa-lem. Một số người lựa chọn không trở về: bắt đầu thời kỳ Cộng đồng Do Thái lưu vong.
538 TCN: Sau khi trở về từ Babylon, các học giả Do Thái bắt đầu sử dụng chữ viết Aramaic để viết chữ Hebrew.
515 TCN: Khánh thành Đền thờ Giê-ru-sa-lem xây dựng lần thứ hai. Bắt đầu thời kỳ Đền thờ thứ Hai.
480-440 TCN: Ezra giúp thiết lập lại trật tự của Giu-đa và qui điển hóa Tanakh. Tanakh – Kinh Thánh Hebrew – trở thành kinh sách căn bản của Do Thái giáo, đặt ra những lề luật cho đời sống hàng ngày, giữ gìn văn hóa và lễ nghi Do Thái.
Thế Kỷ 5 TCN: Canaan rơi vào tay Đế chế Macedonia của Alexander Đại Đế.
198 TCN: Antiochus III của dòng họ Seleucid chinh phục Palestine.
166 TCN: Cuộc khởi nghĩa của người Do Thái dưới sự lãnh đạo của Maccabees dẫn đến việc thành lập vương quốc Do Thái độc lập dưới sự trị vì của các vua Do Thái triều đại Hasmoneans [164-63 TCN].
63-65 TCN: Đại giáo chủ của phái Pharisees Joshua Ben Gamla ban hành sắc lệnh tôn giáo “takkanah”yêu cầu tất cả các ông bố Do Thái phải gửi con trai 6-7 tuổi tới trường tiểu học.
63 TCN: Quân La Mã xâm lược Ít-ra-en.
Những vị vua cuối cùng của nhà Hasmonean (63-37 TCN)
66 TCN: Các đội quân La Mã đụng độ với người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem, khởi đầu cho cuộc Đại khởi nghĩa của người Do Thái.
Triều đại các vua Herođê (37 TCN đến 44 SCN)
Các năm cuối của Đền thờ và chiến tranh người Do thái (44-73 SCN)
70: Quân La Mã đánh chiếm Giê-ru-sa-lem và san bằng Đền thờ. Người Do Thái di cư khắp Đế quốc La Mã. Kết thúc thời kỳ Đền thờ thứ Hai [515 TCN – 70 SCN].
TK 1 – TK 6: Babylon là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
200: Sách Mishna hoàn thành.
313-636: Đế quốc Byzantine cai trị Palestine.
500: Sách Talmud (Pháp điển) của Babylon hoàn thành. Thời kỳ thế kỷ 3-5 gọi là Thời kỳ Talmud.
636-1091: Người Ả Rập cai trị Palestine.
TK 8 – TK 15: Tây Ban Nha là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
1091-1099: Người Seljuk chiếm Palestine.
1099-1291: Quân Thập Tự Chinh chiếm Palestine.
1291-1516: Quân Mamluk chiếm Palestine.
1492: Vua Tây Ban Nha ra sắc lệnh trục xuất người Do Thái.
1517-1917: Palestine thuộc Đế Quốc Ottoman.
TK 16 – TK 18: Ba Lan là trung tâm sinh hoạt của người Do Thái lưu vong.
1840: Rabbi Giu-đa Alkalai ở Bosnia khởi đầu ý tưởng về Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism).
1881: Cuộc đại tàn sát người Do Thái tại Nga của Nga Hoàng.
1897: Theodor Herzl tổ chức quốc Đại hội Zionist để bắt đầu di cư về Đất Thánh.
1901: Theodor Herzl gặp Vua Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman là Abdulhamid II để yêu cầu thành lập quốc gia Do Thái trên mảnh đất Palestine.
1917: Quân đội Anh đánh bại người Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman) và giữ quyền ủy trị Palestine cho đến 1948.
1933: Hitler lên cầm quyền tại Đức.
1939-1945: Thế Chiến II, thảm sát Holocaust. Phát xít Đức giết hại 6 triệu người Do Thái trong các trại tập trung.
1947: Liên Hiệp Quốc đồng ý kế hoạch chia Palestine thành hai quốc gia Do Thái và Ả Rập Palestine.
14/5/1948: Quốc gia Do Thái chính thức ra đời với tên gọi Ít-ra-en, tuyên bố độc lập ngày 14/05/1948. Hơn 1 triệu người Palestine rời khỏi Ít-ra-en. Khoảng 250.000 người Do Thái sống sót khỏi thảm sát Holocaust ở châu Âu trở về đất tổ.
GIỚI THIỆU TÂN ƯỚC
Chúng ta có thông tin tốt hơn về hoàn cảnh soạn thảo các sách của Tân Ước so với hoàn cảnh Cựu Ước. Thật vậy, nhiều trong số những sách này có chữ ký tác giả (các thư) và chúng ta cũng biết đến những người nhận (ví dụ Luca 1,1-4 hoặc thư gởi cho Philemon, hoặc thư thứ nhất gửi cho Cô-rinh-tô , trong đó Phao-lô trả lời các câu hỏi của giáo nhân thành Cô-rinh-tô).
Tân Ước bao gồm 27 cuốn sách, được viết trong thời gian khoảng nửa thế kỷ. Những cuốn sách này được viết bằng tiếng Hy Lạp; tuy nhiên, có một nghi ngờ nhỏ đối với Tin Mừng theo thánh Mát-thêu. Một số học giả tin rằng ban đầu Tin Mừng được viết bằng tiếng Aram và sau đó chỉ được dịch sang tiếng Hy Lạp.
Tân Ước có bốn phần: các sách Tin Mừng, sách Công vụ, các thư và sách Khải huyền. Nhưng ranh giới giữa các phần khác nhau không luôn đóng kín. Sách Công vụ được trình bày như là sự tiếp nối Tin Mừng theo Thánh Luca. Các thư, như Công vụ, chứa các bản tóm tắt của Tin mừng: Công vụ 10, 34-43 chẳng hạn, hoặc 1 Cô-rin-tô 15,1-5. Trong sách Khải huyền có bảy lá thư gửi đến các giáo hội. Một số tường thuật sách Công vụ được đề cập trong các thư.
Nhưng đặc biệt Tân Ước có một sự hiệp nhất đáng chú ý: từ đầu đến cuối, mục đích là làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, dẫn dắt độc giả tin vào Chúa Kitô và giúp họ sống như môn đệ của Chúa Giêsu.
I. BỐI CẢNH BỐN SÁCH TIN MỪNG
Các sách Tin Mừng không phải là những cuốn sách được soạn thảo đầu tiên trong Tân Ước. Hầu hết các thư có trước các Tin Mừng. Nhưng các sách Tin mừng, theo đúng nghĩa của tên gọi các sách, đã được loan báo chính thức vào ngày lễ Ngũ tuần, lễ Thiên Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trong một thời gian dài, Tin mừng đã được các Tông đồ loan báo trực tiếp trước khi được viết thành văn bản. Chỉ có một Tin Mừng. Nhưng bốn thánh sử khác nhau đã tường thuật, mỗi người theo cách riêng của mình, có thể họ soạn thảo cho những độc giả khác nhau, nhưng luôn có cùng mối quan tâm: làm cho Chúa Giê-su Ki-tô được cả thế giới biết đến và kêu gọi mọi người tin vào Ngài.
Chúng ta có thể phân biệt trong Tin Mừng, lời rao giảng (theo tiếng Hy Lạp, kerygma) có nghĩa là Tin mừng được loan báo cho đám đông. Đây là những gì Chúa Giêsu đã làm, những gì đã xảy ra với Ngài, Ngài bị giết như thế nào, Ngài đã phục sinh như thế nào; và giáo huấn (theo tiếng Hy Lạp, didaché), đặc biệt dành cho các môn đệ để củng cố họ trong đức tin và giúp họ sống theo thầy của mình. Nhưng chúng ta cũng lưu ý đến hai khía cạnh này của thông điệp Tin Mừng không phải lúc nào cũng có thể tách rời; một số dụ ngôn, chẳng hạn, được gửi đến đám đông và chứa đựng một giáo lý: dụ ngôn về cỏ lùng (Mt 13,24-30 và 36-43).
1. Nguồn gốc các sách Tin Mừng
a. Tiểu sử hay loan báo
Ít ra từ một thế kỷ nay, các nhà chuyên môn về Kinh Thánh đã nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh những vấn đề có liên quan tới nguồn gốc và sự phát triển của các Sách Tin Mừng. Các Sách ấyđã được tiến hành biên soạn như thế nào? Các Sách ấyđã được viết ở đâu và đã được viết khi nào?
Trong một thời gian dài các nhà chuyên môn về Thánh Kinh cho là tạm đủ khi biết rằng Mát-thêu, một nhân viên thu thuế và là một tông đồ, đã viết Tin Mừng thứ nhất; rằng Mác-cô đã biên soạn Tin Mừng thứ hai dựa vào lời rao giảng của Phê-rô; rằng Lu-ca đã tường thật lại những điều mà “các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vu Lời Chúa truyền lại cho chúng ta” (Lc 1,2). Sau hết là Gio-an tông đồ đã viết “một Sách Tin Mừng mang tính tâm linh” là những suy tư về cũng một sứ điệp Tin Mừng kia. Còn ngày nay những người tìm hiểu Tân Ước muốn biết trước khi các tác giả quyết định viết thành Sách Tin Mừng thì đã xẩy ra những chuyện gì? và các Sách Tin Mừng đã được viết ra vào bán phần thứ hai của thế kỷ thứ nhất như thế nào?
Đã có lúc người ta cho rằng người ta có thể viết Tiểu Sử của Đức Giê-su từ những sự kiện trong cuộc đời Ngài đã được Tin Mừng Nhất Lãm ghi chép lại. Tin tưởng rằng các Sách Tin Mừng chứa đựng những gì liên quan tới Đức Giê-su, các nhà văn đã thử rút ra tất cả những chi tiết mà họ có thể thu góp được làm chất liệu cho việc xây dựng một chuyện kể liên tục về cuộc đời Đức Giê-su. Nhưng rất nhanh chóng người ta nhận ra rằng đó là một công việc rất khó thực hiện và người ta còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng.
b. Những khác biệt trong các Sách Tin Mừng
Chẳng hạn các Sách Tin Mừng không đếm xỉa gì tới giai đoạn giữa biến cố Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem vào lúc 12 tuổi (Lc 2,41-51) và khi ngài bắt đầu cuộc sống công khai lúc ngài khoảng “ba mươi tuổi”(Lc 3,23). Hơn nữa Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca có nhiều khác biệt đáng kể về các chi tiết khi các ngài kể lại các sự kiện. Hơn nữa trong Sách Tin Mừng thứ tư tức Sách Tin Mừng của Gio-an, việc sắp xếp các sự kiện về cuộc đời Đức Giê-su lại khác xa với cách sắp xếp của các Sách Tin Mừng Nhất Lãm (ví dụ sự kiện tẩy uế đền thờ).
Có thể đưa ra hai giải pháp để giải quyết vấn đề trên. Giải pháp thứ nhất của một số người là, dựa vào trí tưởng tượng, họ cố gắng xây dựng những phần còn thiếu bằng cách chọn lọc những chi tiết có thể đóng góp vào bối cảnh của các sự kiện. Giải pháp thứ hai của một số người khác là họ tự hỏi xem Tin Mừng muốn nói gì với mình về Đức Giê-su?
Những người chọn giải pháp thứ nhất phải gò các thông tin có giá trị vào trong các khuôn đã được định trước do nhu cầu về tiểu sử bắt buộc. Những người chọn giải pháp thứ hai nỗ lực đi xa hơn những thông tin về tiểu sử đã tìm thấy trong các sự kiện có gía trị và tìm hiểu ý nghĩa sâu xa hơn gắn liền với các sự kiện ấy. Vì ý thức hơn về bản chất đích thực của các Sách Tin Mừng, các nhà chuyên môn thường bị thúc ép phải viết nên Tiểu Sử Đức Giê-su (Albert Schweitzer), và nhìn nhận các Sách Tin Mừng là một Lời Công Bố. Vì thế người ta đã xử dụng một cách thức mới để tiếp cận các Sách Tin Mừng và các bản văn bắt đầu mang một ý nghĩa to lớn hơn chứ không chỉ là chứa đựng các dữ kiện có tính tiểu sử. Một cuộc cách mạng trong công cuộc tìm hiểu Thánh Kinh đã được thực hiện.
2. Ba giai đoạn loan báo Tin Mừng
a. Trình tự thời gian
Các Sách Tin Mừng xuất hiện như những Sách đầu tiên của Tân Ước. Tuy nhiên các Sách ấy không phải là những tác phẩm văn chương đầu tiên của Ki-tô giáo, như chúng ta đã nói trên đây. Các Thư của Phao-lô đã được viết trước Sách Tin Mừng có sớm nhất (khoảng năm 50-60 sau Công Nguyên). Và cho dù có chứa đựng những tư liệu đã có trước, các Sách Tin Mừng cũng chỉ được biên soạn vào khoảng thời gian từ năm 65 đến năm 100 sau Công Nguyên mà thôi.
Vì thế cho nên trong bất kỳ cách sắp xếp về trình tự thời gian nào của các Sách Tin Mừng thì các Sách ấy cũng được xếp sau các Thư của Phao-lô. Đó là một yếu tố quan trọng mà chúng ta phải quan tâm để hiểu cho đúng về các Sách Tin Mừng. Điều đó có nghĩa là đã có một khoảng thời gian chừng 35 năm trong đó Ki-tô giáo giảng dạy và hoạt động truyền giáo trước khi xuất hiện cuốn Sách đầu tiên ghi chép về hoạt động và lời giảng dạy của Đức Giê-su, dưới dạng Sách Tin Mừng.
b. Ba giai đoạn
Nếu biến cố Đức Giê-su chết và phục sinh xẩy ra vào năm 30 sau Công Nguyên và Sách Tin Mừng đầu tiên chỉ xuất hiện vào khoảng năm 65-70 sau Công Nguyên, thì có gì đã xẩy ra trong khoảng thời gian 35 năm ấy? Tài liệu “Huấn Thị về Chân Lý Lịch Sử của Các Sách Tin Mừng” của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh (1964) cung cấp cho chúng ta một hướng dẫn quan trọng, như sau:
Liên quan tới giá trị đáng tin cậy của những điều được chuyền tải trong các Sách Tin Mừng, nhà chú giải - nếu muốn phán đoán một cách chính xác - phải quan tâm đến ba giai đoạn của Truyền Thống qua đó Giáo huấn và Cuộc sống của Đức Giê-su đã được truyền lại cho chúng ta (VI,2). Nếu không quan tâm tới những điều có liên quan tới nguồn gốc và sự hình thành của các Sách Tin Mừng và không biết sử dụng một cách đúng đắn tất cả những thành tựu của công cuộc khám phá mới, thì nhà chú giải sẽ không làm tròn trách nhiệm của mình là tìm hiểu những gì mà các tác giả được linh ứng muốn nói và thực sự nói trong các Sách Tin Mừng ấy(X).
“Ba giai đoạn của Truyền Thống”mà Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh nhắc đến ở trên là:
1. Giai đoạn Đức Giê-su sống tại Pa-lét-tin;
2. Giai đoạn các Cộng Đoàn Giáo Hội Tiên Khởi được hình thành sau Biến Cố Phục Sinh trong xứ Pa-lét-tin cũng như ở bên ngoài xứ sở ấy; vai trò của các Cộng Đoàn ấy trong việc hình thành các Sách Tin Mừng;
3. Giai đoạn các tác giả Sách Tin Mừng viết các Sách Tin Mừng.
3. Đời sống Chúa Giê-su tại Pa-lét-tin
Thường thì chúng ta giải thích nguồn gốc các Sách Tin Mừng bằng cách bắt đầu với 4 tác giả và với công trình mà các ngài đã thực hiện. Các ngài đã có một chia sẻ quan trọng trong bản văn các Tin Mừng. Tuy nhiên, các ngài chỉ thuộc về giai đoạn thứ ba, tức giai đoạn sau cùng của Truyền Thống mà thôi. Trước khi các ngài viết các Sách Tin Mừng thì các Tông Đồ và các nhà rao giảng đầu tiên của Ki-tô giáo đã dùng chính lời nói từ miệng các ngài mà công bố Tin Mừng về lời nói và việc làm của Đức Giê-su. Chúng ta gọi đó là Truyền Thống Truyền Khẩu. Vì thế, trước khi nhìn vào các nguồn văn, chúng ta phải tìm tòi giai đoạnTruyền Thống Truyền Khẩuliên quan tới Đức Giê-su. Các nghiên cứu so sánh câu chuyện phía sau các Sách Tin Mừng với điều mà người ta biết trong các xã hội không có hoặc có ít học vấn, cho thấy có sự khác biệt rất lớn giữa Truyền Thống Truyền Khẩu và Truyền Thống Thành Văn. Vì vậy trước khi chúng ta phân tích các Sách Tin Mừng như là một tác phẩm văn chương thì chúng ta phải nhìn vào Truyền Thống Truyền Khẩu là Truyền Thống có trước khi bản văn đầu tiên xuất hiện.
Trước lúc các Tông đồ và các nhà rao giảng Ki-tô giáo hoạt động thì bằng lời nói và việc làm riêng của mình, Đức Giê-su đã công bố Tin Mừng. Vì thế những gì mà chúng ta tiếp cận được khi chúng ta đọc các Sách Tin Mừng là thành quả sau cùng của ba giai đoạn và cách riêng của công trình của các tác giả Tin Mừng, nhưng khởi điểm của tất cả những quá trình đó là chính Đức Giê-su.
a. Lời nói và việc làm của Chúa Giê-su
Một điều hết sức quan trọng mà chúng ta luôn phải lưu ý là các Sách Tin Mừng xoay quanh các “lời nói và việc làm của Đức Giê-su.” Các Sách Tin Mừng không chỉ chứa đựng các lời Đức Giê-su đã nói, mà cũng không chỉ tường thuật lại các việc Đức Giê-su đã làm. Những lời Đức Giê-su đã nói và những việc Đức Giê-su đã làm không sao có thể tách rời nhau được và phải được xem xét trong thế bất khả phân ly ấy. Ngay từ lúc khởi đầu này chúng ta nên xem hai yếu tố ấy - lời nói và việc làm - chứa đựng những gì.
"Chính Đức Ki-tô Chúa chúng ta đã chọn các môn đệ trong số những người đã đi theo Người từ buổi đầu, đã chứng kiến các việc Người làm, đã nghe các lời Người nói và bằng cách ấy họ được trang bị để làm chứng cho cuộc sống và giáo lý của Người. Khi dùng miệng lưỡi mà cắt nghĩa giáo lý của mình, Đức Giê-su đã theo cách lý luận và cách trình bày đang thịnh hành thời bấy giờ. Người thích ứng với não trạng của thính giả và thấy những gì Người nói gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí các môn đệ và được họ ghi nhớ" (Huấn Thị, VII).
b. Lời nói
Khi chúng ta nghe từTin Mừngchúng ta nghĩ ngay đến một trong các Sách Tin Mừng. Tin Mừng có nghĩa làTin Vui, Tin Tốt Lành. Từ này trong ngôn ngữ Hy Lạp là EUANGELION, có nghĩa làTin Mừng Cứu Độ. Vì thế Tin Mừng có nghĩa làSứ Điệp, là việc Loan Báo Ơn Cứu Độ.
Từ Tin Mừng theo nghĩa nguyên thủy có ý nhắc đến lời nói. Đức Giê-su đã không hề viết một hay bốn Sách Tin Mừng. Đức Giê-su đã loan báo Tin Mừng và Người mong muốn người ta nghe Người nói. Tất cả những gì được viết ra có liên quan tới lời giảng dậy của Người là do những người khác viết.
Do đó, khi chúng ta sử dụng từ Tin Mừng, chúng ta có ý nói đến:
1. Những Tin Tốt Lành mà chính Đức Giê-su đã rao truyền như trong Mc 1,14-15:
Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
2. Lời rao giảng về Đức Giê-su của các Tông đồ và Ơn Cứu Độ nơi Người như trong Cv 15,7:
Ông Phê-rô đứng lên nói: ”Thưa anh em, anh em biết: ngay từ những ngày đầu, Thiên Chúa đã chọn tôi giữa anh em, để các dân ngoại được nghe lời Tin Mừng từ miệng tôi và tin theo.”
c. Các tác giả Sách Tin Mừng là những người công bố Lời Chúa
Chúng ta nên nhấn mạnh vào sự kiện này là khởi thủy Tin Mừng là việc rao giảng và đón nghe, chứ không phải là việc viết và đọc.
Trong Tân Ước, từ Tin Mừng liên quan tới hoạt động của người rao giảng, điều đó có nghĩa là tác giả Tin Mừng được hiểu là người rao giảng chứ không phải là người viết. Thật thế, Phao-lô đã nhắc đến sự có mặt của các người rao giảng Tin Mừng trong cộng đoàn trước ngày mà Sách Tin Mừng đầu tiên được viết ra (Ep 4,11). Một điều hiển nhiên là ở buổi đầu tác giả Tin Mừng chẳng gắn liền với bất cứ hoạt động ghi chép nào.
Qua quá trình thời gian các từ thường thay đổi và mang một ý nghĩa đặc thù hơn hoặc có tính kỹ thuật. Điều đó cũng đã xảy ra đối với từeuangelion. Từ này chuyển sang nghĩa là những sách ghi chép về cuộc sống và lời rao giảng của Đức Giê-su. Và vì thế các tác giả bốn Tin Mừng biến thành những nhà viết Sách Tin Mừng. Sự thay đổi trọng tâm từ điều được nói sang đều được viết đã được thực hiện vào nữa thứ hai của thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên. Sự phát triển này không đương nhiên xuất phát từ ý nghĩa nguyên thủy của từ. Chúng ta không nên để cho việc thay đổi ấy làm lu mờ ý nghĩa ban đầu của từ euangelion (Tin Mừng).
4. Việc làm của Chúa Giê-su
Khi chúng ta sử dụng từmặc khải, thường chúng ta nghĩ đến tất cả những gì Thiên Chúa hay Đức Giê-su đã nói ra và chỉ những gì đã nói ra. Nhưng Thiên Chúa không nói. Thiên Chúa không có miệng! Điều mà Thánh Kinh muốn ám chỉ là vào một thời điểm nhất định Thiên Chúa làm cho Dân Chúa hay một người nào đó hiểu ra một điều gì đó, như A-bra-ham hay Mô-sê. Nhưng Thiên Chúa có cả trăm cách để làm cho người ta nhận biết thánh ý hay kế hoạch của Người. Khác với Thiên Chúa, Đức Giê-su là một con người thật sự, Người nói, nhưng điều mà Người mặc khải cho chúng ta không chỉ giới hạn trong lời nói của Người.
a. Mặc khải với việc làm
Các Tin Mừng không phải là một tổng hợp những giáo huấn như một minh chứng về sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử. Tuy nhiên các Tin Mừng không nhằm chứng minh tính chân thực của các ý tưởng tôn giáo cho bằng nhằm mục đích chứng minh sự kiện Thiên Chúa hành động giữa dân Người. Bằng chứng ấy chạy dài trong Kinh Thánh, như được ghi trong lời sau đây:
"Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi; Người đã nghe tiếng chúng tôi, đã thấy cảnh khổ cực, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu. Đức Chúa đã giang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, đã gây kinh hồn táng đởm và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, để đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập” (Đnl 26,7-8).
Bản văn trên là một phần của lời tuyên xưng niềm Tin mà Dân Chúa đọc vào dịp dâng của lễ đầu mùa (Đnl 26, 4-11). Điều ấy khẳng định rằng mặc khải mà Thiên Chúa tự mình thực hiện trong lịch sử thì trước hết làmặc khải bằng hành động. Đức Giê-su cũng tiếp tục sử dụng phương pháp sư phạm ấy và rao giảng Triều Đại của Thiên Chúa. Khi Người dùng các dụ ngôn để nói về Triều Đại ấy thì Người biểu hiện bằng hành động cho người ta thấy Triều Đại của Thiên Chúa, y như trong các phép lạ Người làm và như trong cách xử sự của Người. Thực ra, chính trong cung cách ấy mà chúng ta có thể hiểu về các câu chuyện phép lạ được tường thuật lại trong các Tin Mừng. Các phép lạ ấy không phải là những bằng chứng về thần tính của Đức Giê-su cho bằng là sự khởi đầu Triều Đại của Thiên Chúa trong một cung cách mới mà Đức Giê-su đem đến.
b. Lời nói và việc làm hòa cùng một mặc khải
Thiên Chúa tự mặc khải mình cả bằng lời nói lẫn bằng việc làm. Hai yếu tố ấy được tìm thấy trong các Tin Mừng, không thể tách rời nhau và mang tính bổ túc cho nhau. Các lời Đức Giê-su nói sẽ có ít ý nghĩa nếu như các lời ấy không liên kết với các việc Người làm. Chẳng hạn chúng ta hãy nhớ lại lời tuyên bố của Đức Giê-su:”Tội con đã được tha”(Mc 2,5) và thái độ của Đức Giê-su diễn tả sự tha thứ vô điều kiện của Thiên Chúa. Nói cách khác, các việc Đức Giê-su làm có thể thường được hiều theo cùng một hướng với các lời Người nói.
c. Chúa Giê-su là con người của thời đại
Lời nói và việc làm của Đức Giê-su đã xẩy ra trong thời gian và không gian. Điều đó có nghĩa rằng các lời nói và việc làm ấy mang sắc thái của thời đại và của địa phương mà chúng đã được nói lên và đã được làm. Không phải vấn đề là làm thế nào mà sau biến cố Phục Sinh các Ki-tô hữu đầu tiên có thể đi đến chỗ nhận biết và tin rằng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa”(Mc 1,1), vì những người đương thời với Đức Giê-su đã chẳng hề nhìn thấy Thiên Chúa hoặc nghe Thiên Chúa nói (xem 1 Ga 4,12). Họ đã nhìn thấy một con người và nghe người đó nói: đó là Đức Giê-su Na-da-rét (Ga 9,11). Đức Giê-su không phải là Thiên Chúa tàng hình đi đi lại lại. Chúng ta phải xem sự kiện Nhập Thể là một việc nghiêm chỉnh. Đức Giê-su là một người thật sự của thời đại Người. Người là một người Do Thái ở thế kỷ thứ nhất. Người đã đi đây đi đó, đã hành động và suy nghĩ như một người Do Thái lúc bấy giờ. Điều đó có tầm quan trọng đặc biệt để chúng ta hiểu về điểm xuất phát của Truyền Thống Tin Mừng, là Truyền Thống chứa đựng lời nói và việc làm của Đức Giê-su, vì điều đó có liên hệ với:
(1) Ngôn ngữ của Đức Giê-su,
(2) Bối cảnh xã hội-kinh tế và chính trị,
(3) Nền văn hóa,
(4) Thế giới quan đương đại.
d. Ngôn ngữ của Đức Giê-su.
Đức Giê-su nói năng như một người thuộc thời đại và địa phương mình. Người nói tiếng A-ram, một thứ ngôn ngữ sê-mít có nhiều giới hạn mà một trong những giới hạn ấy là không có “thể”so sánh. Người ta không thể nói “hơn, kém”trong ngôn ngữ A-ram. Thay vào đó dân chúng dùng kiểu nói cực đoan, đối chọi, ví dụ: ”Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” (Mt 22,14). Hơn nữa để nói về các thiên thần và ma quỉ Đức Giê-su đã có thể nói như người đồng thời của mình và các từ ngữ Người dùng chắc chắn không thể được coi là những bằng chứng có tính giáo lý về sự có mặt của các Thiên Thần. (Tuy nhiên, chúng tôi không thể nói ở đây rằng nhận xét vừa nêu giải quyết cách dứt khoát vấn đề có thiên thần và ma quỉ. Chúng tôi chỉ muốn nói rằng các lời nói của Đức Giê-su không đương nhiên được coi là các chứng cớ có tính quyết định).
e. Bối cảnh xã hội-kinh tế và chính trị.
Đức Giê-su đã sinh ra vào một trong những thế kỷ nhiều chiến tranh và nhiều dấy loạn nhất của lịch sử dân Do Thái (và các Tin Mừng -thật ra là toàn bộ Tân Ước- đã được viết có ý phản kháng lại cái bối cảnh đầy âu lo đã tác động đến các miền ở ngoài Pa-lét-tin, nơi mà người Do Thái cư ngụ). Xứ Pa-lét-tin của thời Đức Giê-su là một xứ sở bị chiếm đóng. Các nguyên nhân của tình trạng âu lo trên được thâu tóm như sau:
1. Quân đội nước người chiếm đóng,
2. Mâu thuẫn giai cấp và bài giáo sĩ,
3. Xã hội đầy tội phạm,
4. Tôn giáo quá khích,
5. Xuất hiện các ngôn sứ cách mạng và những người cho mình là mê-si-a,
6. Nếp sống vô luân của các quan chức Ro-ma,
7. Tranh giành giữa các nhóm cách mạng khác nhau,
8. Chế độ sưu cao thuế nặng vừa do người Ro-ma, vừa do vua Hê-rô-đê và các vua kế vị,
9. Mối hận thù sâu đậm giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri (J.M.Ford).
f. Nền văn hóa.
Nền văn hóa của thời Đức Giê-su là một nền văn hóa mang tính thánh thiêng hơn là phân biệt thành nhiều lãnh vực khác nhau (kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo). Tất cả mọi lãnh vực đều hòa trộn vào nhau.
Một nghiên cứu về đời sống xã hội xứ Ga-li-lê cho thấy các sắc thái chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa liên kết với nhau như thế nào. Khi lượng giá các bức họa của Tin Mừng phải nói rằng cho dù thiếu chi tiết hay mối quan tâm trình bày toàn bộ hệ thống, có một điều đáng tin căn bản đối với bối cảnh hơn là những nguồn tài liệu văn chương hay khảo cổ khác.
Điều nổi bật là làng xã và nông dân làm nền cho văn hóa cho vùng đất Ga-li-lê. Mặc dù chịu áp lực của nhiều thành phần khác nhau nhất là của giới ưu tú là giới làm nên nhóm Hê-rô-đê trong lãnh thổ An-ti-pas, và dòng dõi tư tế ở Giê-ru-sa-lem với cả hai khuynh hường tôn giáo và trần thế. Thêm vào đó, nền văn hoá của thế giới Hy Lạp phổ biển là một kinh nghiệm nhiều giá trị. Trong khi nền văn hoá ấy cung cấp nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thông qua sự phát triển thị trường và các dịch vụ khác, thì nền văn hoá ấy cũng tạo nên một môi trường thù nghịch trong đó các nền văn hoá thấp kém (văn hóa địa phương) luôn trong thế bị đe dọa bị lấn chiếm hoặc tiêu hủy hoàn toàn (S. Freyne).
I. BỐI CẢNH BỐN SÁCH TIN MỪNG
5. Người đương thời không hiểu Chúa Giê-su
a. Có hai cách không hiểu.
Sự kiện Đức Giê-su đã nói năng theo cung cách diễn tả và các giá trị mà mọi người thời đó chấp nhận không có nghĩa là Người được người ta hiểu thực sự. Đúng ra Đức Giê-su thường không được người ta hiểu. Nhưng thử hỏi bản chất của sự không hiểu đó là thế nào? Việc không hiểu có thể xẩy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Có thể chỉ ở mức độ thuần giao tiếp: một điều gì đó được truyền đạt và vì lý do này hay lý do khác thông tin ấy không đến được với những người mà nó được chuyển tới. Nhưng cũng có thể hiểu ở mức độ sâu hơn, khi việc hiểu có nghĩa là dấn thân, là chấp nhận v..v.. Ở mức độ này việc không hiểu xẩy ra khi dân chúng không sẵn sàng đối với những thay đổi mà họ được đề nghị. Chúng ta chấp nhận rằng Đức Giê-su đã không được người ta hiểu trong mức độ thứ hai này.
b. Người ta không hiểu Đức Giê-su.
Đức Giê-su không được đám đông và các đối thủ hiểu, cũng không được thân nhân, kể cả mẹ Người, hiểu (Mc 3,20-21, 31-35; Lc 2,50); và điều quan trọng hơn nữa là Người cũng không được các môn đệ của mình hiểu, như các tác giả Tin Mừng, nhất là Mác-cô đã ghi nhận:
- Sau khi Đức Giê-su đi trên mặt biển hồ:
“Vì các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều: lòng trí các ông còn mê muội”(Mc 6, 52).
- Sau phép lạ bánh hóa nhiều lần thứ hai:
”Biết thế Người nói với các ông: ”Sao anh em lại bàn tán về chuyện anh em không có bánh? Anh em chưa hiểu chưa thấu sao? Lòng anh em ngu muội thế?”(Mc 8, 17).
Lu-ca cũng ý thức về vấn đề này vì ngài đã kể lại phản ứng của các môn đệ sau khi Đức Giê-su tiên báo cuộc Thương Khó lần thứ ba:
Nhưng các ông không hiểu gì cả; đối với các ông, lời ấy còn bí ẩn, nên các ông không hiểu những điều Người nói.
Ngay cả sau khi Đức Giê-su đã chết và đã phục sinh thì các môn đệ vẫn chưa hiểu. Dường như các ông đã nuôi một giấc mộng khác:
”Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en” (Lc 24, 21).
Và Gio-an tường thuật rằng họ quay lại với nghề cũ:
“Ông Si-mon Phê-rô nói với các ông: ‘Tôi đi đánh cá đây.’ Các ông đáp: ‘Chúng tôi cùng đi với anh.”(Ga 21,3).
c. Một hiểu biết mới.
Nhưng nếu các môn đệ đã không hiểu những gì Đức Giê-su đã nói và đã làm (ví dụ xem Mc 6,52), thì sau biến cố Phục Sinh các ngài rao giảng cái gì khi các ngài bắt đầu sứ vụ của mình?
Khi các môn đệ bắt đầu sứ vụ của mình sau biến cố Phục Sinh, các ngài đã chẳng trình bày các lời nói và việc làm của Đức Giê-su như các ngài đã nghe, đã thấy – mà thường là các ngài không hiểu – trong giai đoạn Đức Giê-su sống với các ngài, nhưng các ngài trình bày các lời nói và việc làm ấy của Đức Giê-su như các ngài đã hiểu sau và trong ánh sáng của kinh nghiệm Phục Sinh là kinh nghiệm bao hàm cả Phục Sinh, Thăng Thiên và Hiện Xuống. Thật thế, chỉ sau Phục Sinh các môn đệ mới bắt đầu hiểu ý nghĩa sâu xa của các lời mà Đức Giê-su đã nói và các việc mà Đức Giê-su đã làm trong đời sống sứ vụ công khai của Người. Chính cuộc gặp gỡ của các môn đệ với Đấng Phục Sinh và Hồng Ân của Chúa Thánh Thần đã ban cho các ngài một hiểu biết mới về những gì Đức Giê-su đã nói và đã làm trước đó.
Vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc phát triển này đã được chính Đức Giê-su khẳng định trong các diễn từ cáo biệt (Ga 14,1-16,33):
- Các điều đó Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Tháng Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (Ga 14,25-26).
- Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy ra (Ga 16,12-13).
Hai bản văn trên nói về sự dậy dỗ của Chúa Thánh Thần sau Phục Sinh. Sự dậy dỗ ấy tiếp nối sự dậy dỗ của chính Đức Giê-su và cũng được giới thiệu với lời: “và Đức Giê-su nói.”Hai đoạn văn trên nói về sự hiểu biết sâu xa hơn nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng đã được cả Chúa Cha, cả Chúa Ki-tô Phục Sinh sai đến.
Nhưng làm thế nào mà chúng ta có thể biết tất cả những chuyện ấy? Chắc chắn các môn đệ đã nghe tất cả những lời Đức Giê-su nói và đã thấy tất cả những việc Đức Giê-su làm trong thời gian Người sống với các ngài. Nhưng vào thời gian ấy các ngài không hiểu ý nghĩa đầy đủ của những lời Đức Giê-su nói và những việc Đức Giê-su làm. Nhưng khi các môn đệ gặp Đức Giê-su Phục Sinh và sau khi nhận Chúa Thánh Thần thì các ngài có một cảm nghiệm độc nhất khiến họ được khai mở vào một viễn cảnh mới.
Cuộc gặp gỡ của các ngài với Đấng Phục Sinh đã cho các ngàimột hiểu biết sâu sắc hơn về tất cả những lời Đức Giê-su đã nói và những việc Đức Giê-su đã làm. Khi các ngài rao giảng, các ngài đã rao giảng trong ánh sáng của bối cảnh mới là bối cảnh của Đức Giê-su Phục Sinh và của Hồng An của Chúa Thánh Thần. Vì thế khi các ngài rao giảng, các ngài không chỉ đơn thuần lặp lại những lời Đức Giê-su đã nói với các ngài trước kia. Các ngài rao giảng những lời của Đức Giê-su và kể lại các sự kiện trong cuộc đời Người như là các ngài đã hiểu ngay tức thì khi các ngài bắt đầu sứ vụ của mình. Các đoạn văn sau đây chứa đựng điều ấy:
- Sau biến cố hiển dung: Đang khi Thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: “Đừng nói cho ai thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy”(Mt 17, 9). Chỉ sau đó các ông mới có thể hiểu ý nghĩa thực sự của biến cố hiển dung.
- Sau khi tẩy uế đền thờ, tác giả Tin Mừng thứ tư ghi nhận:
Vậy khi Người từ cõi chết sống lại, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói(Ga 2,22).
- Trong khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem một cách vinh quang:
Lúc đầu các môn đệ không hiểu những điều ấy. Nhưng sau khi Đức Giê-su được tôn vinh, các ông nhớ lại là Kinh Thánh đã chép những điều đó về Người, và dân chúng đã làm cho Người đúng y như vậy (Ga 12, 16).
Đề kết luận, chúng tôi nói rằng khi các môn đệ bắt đầu rao giảng lời nói và việc làm của Đức Giê-su sau Phục Sinh, các ngài không rao giảng với sự không hiểu biết của giai đoạn các ngài sống với Đức Giê-su mà với hiểu biết mới mà các ngài có được từ kinh nghiệm Phục Sinh, từ cuộc gặp gỡ với Đấng Ki-tô Phục Sinh và nhờ Hồng Ân của Chúa Thánh Thần.
II. CÁC TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG
Chúng ta còn lâu mới họa lại hết sự phát triển của Truyền Thống Truyền Khẩu trong việc rao giảng Tin Mừng trong và ngoài xứ Pa-lét-tin. Giai đoạn này đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển Truyền Thống cuối cùng dẫn tới việc viết các sách Tin Mừng. Thật thế, việc đó không lâu trước khi các sưu tầm về lời nói và có thể cả các chuyện kể bằt đầu thành hình. Điều ấy đưa chúng ta đến việc xem xét việc sưu tầm từng phần.
1. Sưu tập từng phần
Trong giai đoạn Truyền Thống Truyền Khẩu trong các cộng đoàn Pa-lét-tin cũng như trong các cộng đoàn chịu ảnh hưởng văn hoá Hy lạp, các nhu cầu thực tiễn về giảng dậy đôi khi dẫn tới việc viết hay sưu tập các lời nói hoặc các chuyện kể về cùng một đề tài mà lúc ban đầu rời rạc nhau. Các sưu tập này chưa phải là các sưu tập cuối cùng về các lời nói và các chuyện kể mà sau này có thể chứa dựng trong các Tin Mừng. Cũng không phải là sự sưu tập đầy đủ về tất cả các lời nói của Đức Giê-su về một chủ đề riêng biệt nào đó, hay tất cả những việc Đức Giê-su đã làm trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Vì lý do đó, các sưu tập ấy được gọi là các sưu tập từng phần. Chúng ta lấy Lc 11,1-13 làm một ví dụ:
a. Lc 11,1: Chúa trong khi cầu nguyện được phác họa như mẫu mực của cầu nguyện Ki-tô giáo. Một trong các môn đệ xin Chúa: ”Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện cũng như ông Gio-an đã dậy các môn đệ của ông”. Lc 11, 2-4: Đức Giê-su đáp ứng lời yêu cầu ấy bằng Kinh Lạy Cha.
b. Lc 11, 5-8: Tiếp theo là dụ ngôn về người đàn ông đến gõ cửa nhà người bạn vào lúc nửa đêm. Trong hình thức hiện nay và trong bối cảnh, dụ ngôn này là một lời khuyên hãy kiên trì trong cầu nguyện, dù rằng nếu như lời cầu của mình không được chấp nhận ngay lập tức.
c. Lc 11, 9-10: Lời khuyên tương tự đi theo sau dưới dạng lệnh truyền:”Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được…”(Các lời này cũng được tìm thấy trong Mt 7, 7-8, nhưng không ở trong bối cảnh Kinh Lạy Cha).
d. Lc 11,11-13: Kết luận được diễn tả bằng một bức tranh của người cha ban những món quà tốt cho con cái…(các lời này cũng được tìm thấy trong Mt 7, 9-11, dù không phải trong bối cảnh Kinh Lạy Cha).
Thật ra thì Lc 11,1-13 là một bài giáo lý về cầu nguyện. Tất cả các chất liệu được đặt chung ở đây không nhất thiết phản chiếu một bối cảnh trong đó Đức Giê-su đã nói về đề tài này. Có lẽ là một số các lời ấy hay có thể là tất cả những lời ấy đã được nói ra trong nhiều dịp khác nhau. Thật khó có thể quyết định rằng phần nào đã được sưu tập bởi chính Lu-ca hay bởi một thành viên vô danh nào đó của cộng đoàn trước khi biên soạn các sách Tin Mừng. Nếu giả thiết thứ hai là đúng- và điều đó có thể lắm- thì chúng ta có thể nói rằng chúng ta đã khám phá ra giai đoạn trung gian giữa Truyền Thống Truyền Khẩu đã được các cộng đoàn Ki-tô đầu tiên thực hiện và giai đoạn các tác giả viết các Sách Tin Mừng.
(Hãy ghi nhận rằng Mát-thêu cũng trình bày Kinh Lạy Cha trong khuôn khổ của một bài giáo lý về cầu nguyện, đặc biệt Mt 6,9-13 trong bối cảnh của Mt 6,5-15 là đoạn được đặt trong bối cảnh của Mt 6,1-18; tuy nhiên cấu trúc và bối cảnh hoàn toàn khác với đoạn trong Lu-ca.)
2. Tại sao sách Tin Mừng đầu tiên đến muộn?
Như chúng ta đã thấy ở trên, các cộng đoàn Ki-tô đầu tiên đã không tiến hành ngay việc biên soạn Tin Mừng. Sứ điệp lúc đầu được rao truyền bằng miệng lưỡi trong một số thập niên. Nhưng thế hệ Ki-tô hữu thứ hai bắt đầu cảm thấy cần phải có một chứng từ về các lời nói và việc làm của Chúa được viết ra một cách dễ hiểu hơn. Nói một cách cụ thể, ba lý do sau đây gộp chung lại với nhau có thể giải thích tại sao việc Giáo hội tiên khởi đã phải mất 40 năm mới có được cuốn Tin Mừng đầu tiên.
1. Bao lâu mà sự rao giảng được thực hiện trong xứ Pa-lét-tin hay bắt đầu vượt ra ngoài ranh giới xứ này thì các sự kiện về cuộc sống của Đức Giê-su - là nền tảng của lời rao giảng - đều được mọi người biết đến. Vì thế cho nên chưa có nhu cầu phải ghi lại chép lại và phải rao giảng các sự kiện ấy dưới dạng một bản văn.
2. Trong thời gian Đức Giê-su sống các lời rao giảng của Người đã không hề được viết lại trên giấy. Các lời rao giảng của Người được người ta nghe. Sau khi Đức Giê-su chết, dân chúng nghe những lời mà các Tông Đồ rao giảng về Đức Giê-su. Đã thành qui luật là trong môi trường sê-mít, dân chúng chuộng lời nói, lời “sống”hơn chữ viết.
3. Các Ki-tô hữu đầu tiên chờ đợi Đức Giê-su sớm trở lại, thậm chí họ tin Người trở lại vào chính thời kỳ mà thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên sống.
3. Tin mừng được viết sau một thời gian?
Với quá trình thời gian, mỗi một điểm trong ba điều nêu trên đều thay đổi. Và điều mà lúc đầu là yếu tố có thể giải thích tại sao các ngài không viết thì nay trở thành lý do khiến các ngài viết Tin Mừng.
1. Khi mà Tin Mừng được rao giảng càng ngày càng xa Giê-ru-sa-lem và người trở lại ào ạt gia nhập các Giáo hội non trẻ, thì càng ngày càng có nhu cầu về một bản văn ghi lại các lời nói và việc làm của Đức Giê-su để giáo dục.
2. Với việc các Tông Đồ và các nhân chứng khác mất dần đi thì sự tiếp xúc trực tiếp giữa các nhân chứng mắt thấy tai nghe và số các cộng đoàn Ki-tô hữu càng ngày càng nhiều đã trở thành vấn đề. Do đó ‘lời được viết’ một cách nào đó được coi là sự thay thế cho ‘lời được nói’ và cho sự tiếp xúc cá nhân với các nhân chứng mắt thấy tai nghe.
3.Vì thời gian qua đi các Ki-tô hữu nghiệm ra rằng Đức Giê-su không sớm trở lại như họ mong đợi lúc ban đầu. Thế hệ Ki-tô hữu thứ hai đã xuất hiện trên sân khấu và thế hệ thứ ba đang lấp ló. Việc ngày cánh chung chậm đến đòi hỏi sứ điệp Tin Mừng phải mang một hình thái liên tục hơn.
4. Trách nhiệm các tác giả Tin Mừng
a. Ủy ban Giáo Hoàng nói về trách nhiệm của các tác giả Tin Mừng như sau:
"Điều mà lúc đầu được truyền bằng luỡi bằng miệng thì đã được quyết định viết bởi các tác giả được linh ứng trong bốn Tin Mừng nhằm mưu ích cho các Giáo hội, với phương pháp phù hợp với mục tiêu mà mỗi tác giả đặt ra cho mình. Từ nhiều điều được lưu truyền các ngài chọn một số điều, tổng hợp một số điều khác, giải thích một số điều khác nữa vì các ngài nhớ tới bối cảnh của các Giáo hội. Với mỗi một ý nghĩa có thể có, các ngài nhắm là các độc giả sẽ ý thức về tính khả tín của các lời mà các ngài dùng để giáo huấn họ. Thật vậy, từ các nguồn tư liệu nhận được, các tác giả Tin Mừng chọn lựa những điều phù hợp với các bối cảnh của cộng đoàn tín hữu và với mục tiêu mà các ngài có trong đầu và thích ứng việc tường thuật các tư liệu ấy với các bối cảnh và mục tiêu giống nhau. Vì ý nghĩa của một câu nói cũng tùy thuộc vào diễn tiến nên khi kể lại các lời nói và việc làm của Đấng Cứu Độ các tác giả giải thích với từng hoàn cảnh khác nhau, tuỳ vào lợi ích của các độc giả. Vì thế cho nên, chúng ta hãy để cho nhà chú giải tìm kiếm ý nghĩa mà các tác giả Tin Mừng chủ ý khi kể lại một lời nói hay một việc làm theo một cách hoặc đặt vào trong một bối cảnh nhất định. Chân lý lịch sử không hề bị ảnh hưởng bởi sự kiện là các tác giả Tin Mừng kể lại lời nói hay việc làm của Chúa theo một thứ tự khác và diễn tả lời nói của Chúa không theo nghĩa từng chữ mà theo một cách khác, trong khi vẫn bảo toàn ý nghĩa…” (Huấn Thị, IX)
Mỗi tác giả Tin Mừng có một đống tư liệu trong tay. Các tư liệu này một đàng là Truyền Thống Truyền Khẩu và một đàng là các sưu tập từng phần. Các tư liệu ấy biểu hiện các mối bận tâm khác nhau cũng như có các truyền thống khác nhau. Các tư liệu ấy cần được tổ chức theo quan điểm của mục tiêu riêng của tác giả. Các tư liệu ấy như là một chuỗi các kích thước và mầu sắc khác nhau mà các tác giả sẽ kéo một sợi chỉ, do đó xác định diễn tiến và bối cảnh thành một Sách Tin Mừng liên tục.
Ngay khi chúng ta nói đến các bản văn được viết với một tác giả văn chương nhất định là chúng ta có thể xem xét thêm đến công việc biên soạn mà các tác giả thực hiện.
b. Công việc biên soạn
Các tác giả Tin Mừng không được hoàn toàn tự do như họ muốn trong việc sử dụng các tư liệu. Họ làm việc với tư liệu thuộc về Truyền Thống và họ thường cảm thấy bị giới hạn để duy trì tính nguyên vẹn của các đơn vị văn chương đã có sẵn. Tuy nhiên các tác giả Tin Mừng làm việc khá tự do khi thích nghi và giải thích lại các tư liệu Truyền Thống. Tuy vậy công việc của các ngài không phải là công việc riêng tư mà là một mắt xích cuối cùng của một dây chuyền phát triển mang nặng tính cộng đoàn.
Các tác giả Tin Mừng thuộc về Giáo hội và về từng cộng đoàn Ki-tô mà các ngài là phát ngôn viên. Các ngài cũng sống trong bầu khí của sứ điệp Tin Mừng. Nhưng trong nhiệm vụ là người ghi chép lại Truyền Thống Tin Mừng nhân danh Giáo hội, các ngài được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn cách đặc biệt bằng Ơn Linh Ứng. Ơn hướng dẫn ấy bảo đảm cho các ngài đóng vai trò phát ngôn viên có uy tín của cộng đoàn mình. Ơn hướng dẫn ấy không làm mất nét cá biệt của các ngài. Vì lý do đó mà khi các ngài thích ứng và giải thích lại các giáo huấn của Thiên Chúa hằng sống thì vẫn mang dáng dấp văn phong và con người riêng của các ngài.
Liên quan tới việc làm của Đức Giê-su, cần phải ghi nhận rằng việc tẩy uế đền thờ được Mác-cô, Mát-thêu và Lu-ca tường thuật lại vào cuối giai đoạn sứ vụ của Đức Giê-su (Mc 11,15-19; Mt 21,10-17; Lc 19, 45-48) nhưng lại được Gio-an kể lại vào lúc khởi đầu của giai đoạn thi hành sứ vụ ấy.
Liên quan tới giáo huấn của Đức Giê-su, chúng ta hãy lấy dụ ngôn con chiên bị lạc được kể trong cả Mát thêu lẫn trong Lu-ca làm ví dụ. Theo Lu-ca, dụ ngôn con chiên lạc (Lc 15, 4-7) được tạo nên bởi lời cằn ngằn của các người nhóm Pha-ri-sêu: ”Ông này đón tiếp các tội nhân và ăn uống với họ”(Lc 15,2). Đáp lại, Đức Giê-su kể ba dụ ngôn mà một trong ba là dụ ngôn con chiên lạc. Giáo huấn của câu chuyện thật rõ ràng: “Vậy tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”(Lc 15, 7). Họ không bắt lỗi được gì, lời phê phán của họ đã trở thành vô lý; vì thật ra họ đang chất vấn lòng thương xót của chính Thiên Chúa.
Trong Mát-thêu (Mt 18, 12-14), cũng dụ ngôn ấy có lẽ không nhằm đáp lại sự chỉ trích đối với Tin Mừng, mà dành cho các môn đệ và có lẽ dành riêng cho những người lãnh đạo cộng đoàn. Dụ ngôn kết thúc với lời:”Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn một ai trong những người bé mọn này phải hư mất”(Mt 18, 14). Cho dù áp dụng chưa rõ thì mạch văn cũng nghiêng về ý này. Cảnh cáo không được khinh rẻ một trong những người bé mọn (Mt 18, 10) và khuyên răn về việc sửa lỗi anh em (Mt 18, 15-17) khiến cho không còn nghi ngờ gì về cách giải thích của Mt 18,14.
Vì thế cho nên, cũng một dụ ngôn, trong Lu-ca là một lời đáp trả lại sự chỉ trích của những kẻ đối nghịch Đức Giê-su, thì ở trong Mát-thêu lại là lời cảnh cáo dành cho cộng đoàn và cho các người lãnh đạo cộng đoàn để họ không được để cho một người bé mọn nào của cộng đoàn bị hư mất.
II. CÁC TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG
5. Thế nào là một cuốn sách Tin Mừng?
Hình thái văn chương kiểu Tin Mừng là sản phẩm duy nhất của Giáo Hội sơ khai và do đó là một nét đặc thù của Niềm Tin Ki-tô giáo ban đầu. Trong nghĩa ấy “Tin Mừng”gồm các điều sau đây:
1. Là một tường-thuật-lại câu chuyện có tính lịch sử về Cái Chết và Sự Phục Sinh của Đức Giê-su, là biến cố giữ vị trí trung tâm của lời rao giảng của Giáo Hội sơ khai.
2. Trước khi kể lại câu chuyện ấy, Tin Mừng có một phần nói về SỨ VỤ CÔNG KHAI của Đức Giê-su: sự chọn lựa các lời nói và việc làm của Đức Giê-su đã được hiểu sau và dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh.
3. Trong Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca, câu chuyện ấy còn có một phần về “THỜI THƠ ẤU”gần như là một tường trình về những bối cảnh của ngày sinh của Đức Giê-su (Đức Giê-su đã sinh ra như thế nào?), nhưng đúng hơn là một suy tư thần học về ý nghĩa của con người Đức Giê-su và sự sinh ra của Người. Trong Tin Mừng thứ tư- Tin Mừng Gio-an - sự chọn lựa các lời nói và việc làm của Đức Giê-su có phần LỜI TỰA đi trước.
Các nhà chuyên môn Thánh Kinh nhấn mạnh rằng: các Tin Mừng không cống hiến cho chúng ta một bức tranh chính xác về sứ vụ của Đức Giê-su cho bằng cung cấp cho chúng ta một chứng từ về kinh nghiệm của Giáo hội sơ khai được diễn tả bằng cách xếp đặt các tư liệu Truyền Thống liên quan tới Đức Giê-su và các môn đệ Người. Nói cách khác, lịch sử của kinh nghiệm của Giáo Hội sơ khai như đã được sống trong nhiều cộng đoàn khác nhau được đúc kết trong thời gian biểu của sứ vụ của Đức Giê-su, một phần dựa trên nền tảng của những ký ức hiện nay của sứ vụ ấy. Nhưng quan điểm thần học của tác giả Tin Mừng, thường phản ánh bối cảnh và các mối quan tâm của cộng đoàn của ông, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành chất liệu Tin Mừng.
a. Mác-cô: Tin Mừng đầu tiên:
Đại đa số các nhà chuyên môn nổi tiếng về Thánh Kinh đều cho rằng Tin Mừng Mác-cô là Tin Mừng đã được viết sớm nhất. Nếu Tin Mừng Mát-thêu được tìm thấy như tác phẩm đầu tiên của Tân Ước, thì điều đó không có nghĩa là Tin Mừng ấy đã được viết trước nhất, nhưng bởi vì Tin Mừng ấy đã có một ảnh hưởng lớn hơn trong Giáo hội sơ khai là Giáo Hội đã dùng đến Tin Mừng ấy thường xuyên hơn ba Tin Mừng khác cộng lại. Vì thế Tin Mừng Mát-thêu được coi là Tin Mừng “số một”trong các Tin Mừng.
Khi Mác-cô bắt đầu viết Tin Mừng, ngài đã có trong tay một phác thảo tổng quát về sứ vụ của Chúa trong công trình rao giảng. Đó là một phác thảo thô sơ và tổng quát cần được vun đắp thêm bằng các chuyện kể về Đức Giê-su. Với các chất liệu ấy, Mác-cô, đã xây dựng nên công trình của ngài. Việc đó xẩy ra vào khoảng giữa các năm 65 và 70 sau Công Nguyên.
Trong vòng 30 năm sau đó ba vị khác tức Mát-thêu, Lu-ca và Gio-an mới nối gót theo sau. Mát-thêu và Lu-ca chắc chắn đã mắc nợ Mác-cô rất nhiều. Vấn đề vẫn còn được tranh cãi giữa các nhà chuyên môn là Gio-an có lệ thuộc Mác-cô hay một trong các Tin Mừng khác không.
b. Vấn đề Tin Mừng nhất lãm
Nếu đọc ba Tin Mừng Mác-cô, Mát-thêu và Lu-ca một cách chăm chú chúng ta sẽ nhận ra ngay là giữa ba Tin Mừng ấy có một sự giống nhau rất đáng kể. Nếu nội dung của ba Tin Mừng ấy được sắp xếp cạnh nhau trong ba cột song song, thì ít ra chúng ta cũng kết luận được là lúc đầu có một Nguồn chung mà cả ba Tin Mừng cùng dựa vào; hoặc nói là người nọ sao chép của người kia. Phần quan trọng mà cả ba Tin Mừng Mác-cô, Mát-thêu và Lu-ca dường như đều theo là phần được gọi là nhất lãm hay Tin Mừng nhất lãm (trong ngôn ngữ Hy Lạp là syn và optic, có gốc là từ horao, có nghĩa là nhìn; vì thế các Tin Mừng có thể được nhìn chung với nhau, được nhìn ở bên cạnh nhau). Ngày nay “dường như”chúng ta có thể kết luận được là cả ba Tin Mừng nhất lãm đều lệ thuộc vào cùng một Nguồn đã có trước. Tuy nhiên chúng ta phải nhấn mạnh nghĩa của từ ”dường như”, vì có những điều giống nhau và cũng có những khác biệt đáng kể. Vì vậy chúng ta đứng trước một sự hòa trộn giữa những điều giống nhau và những điều khác biệt đáng kể.
Ví dụ chúng ta ghi nhận những chỗ mà cả ba Tin Mừng đều có cùng một nội dung. Tuy nhiên có những phần khác trong các Tin Mừng mà chỉ có hai Tin Mừng kể giống nhau còn Tin Mừng thứ ba lại giữ im lặng. Và còn có những chuyện chỉ một trong ba Tin Mừng tường thuật lại và không được hai Tin Mừng kia nhắc đến. Hơn nữa, mặc dầu hai hay ba có thể cùng kể một chuyện nhưng lại có sự khác biệt trong cách mà câu chuyện được kể lại. Một lần nữa, rõ ràng là chúng ta có một tổng hợp những điều giống nhau và những điều khác nhau.
Những quan sát vừa nêu liên quan tới vấn đề mà ngày nay người ta gọi là vấn đề nhất lãm. Vấn đề ấy liên quan tới việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các Tin Mừng nhất lãm và khám phá ra các nguồn tư liệu hiện có.
c. Các giải pháp đầu tiên
Nỗ lực đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề được trình bày trong một thuyết gọi là thuyết Truyền Thống Truyền Khẩu. Theo thuyết này thì ở đàng sau ba Tin Mừng có một Truyền Thống Truyền Khẩu chung về Đức Giê-su, ít nhiều cố định về mặt nội dung. Thuyết này có thể giải thích những điểm khác nhau, nhưng không giải thích những giống nhau rất nhỏ về ngôn ngữ giữa các Tin Mừng nhất lãm (ví dụ hãy so sánh Mt 3,7-10 và Lc 3,7-9; cũng hãy so sánh Mc 2, 10; Mt 9, 6; Lc 5, 24 trong đó những lời “Người nói với người bị bệnh”được tìm thấy là yếu tố chung cho cả ba Tin Mừng) vì thế lý thuyết này đã bị bãi bỏ.
d. Thuyết Tài Liệu
Một giải pháp có giá trị nhằm giải quyết vấn đề nhất lãm là thuyết được gọi là thuyết Tài Liệu. Thuyết này chủ trương rằng nếu những vấn đề rất giống nhau cùng có mặt trong hai hoặc ba tác giả Tin Mừng, thì điều đó sở dĩ có được là bởi vì các tác giả ấy cùng có chung một hay nhiều Nguồn thành văn. Thuyết này phát triển thành một thuyết mà ngày nay được biết đến dưới cái tên là Thuyết Hai Tài Liệu hay Thuyết Hai Nguồn. Thuyết này chủ trương rằng có Hai Tài Liệu nền tảng ẩn phía sau các Tin Mừng nhất lãm. Đó là (1) Tin Mừng Mác-cô và (2) một Nguồn được tượng trưng bằng chữ “Q”(chữ đầu của từ tiếng Đức: Quelle= Nguồn). Thuyết này có thể tóm gọn như sau:
e. Ưu tiên của Tin Mừng Mác-cô
Tài liệu có sớm nhất về sứ vụ của Đức Giê-su được tìm thấy trong Tin Mừng Mác-cô. Các nhà chuyên môn Thánh Kinh cho rằng Mác-cô đã được Mát-thêu và Lu-ca sử dụng như nguồn Tư Liệu. Các quan sát sau đây có thể được coi như ủng hộ quan điểm ấy:
1. Cả Mát-thêu cả Lu-ca đều chia sẻ một đối tượng chung với Mác-cô. Trong khi Mát thêu chứa đựng hầu hết chất liệu của Mác-cô (600 trong 660 câu của Mác-cô), thì Lu-ca có khoảng một nửa của Mác-cô.
2. Nói rộng ra, Mát-thêu và Lu-ca chia sẻ cách dùng từ của Mác-cô và thường lập lại chính xác các từ của Mác-cô. Mát-thêu dùng lại 51 % và Lu-ca 53 % cách nói của Mác-cô.
3. Mát-thêu và Lu-ca thường theo cách sắp xếp diễn tiến các sự kiện theo cùng một cách. Khi một trong hai tác giả không theo thứ tự này thì tác giả kia lại theo.
Vì các nghiên cứu trên và các nghiên cứu khác có trọng lượng nên chúng ta phải kết luận rằng: Nguồn đầu tiên được Mát-thêu và Lu-ca sử dụng, chính là Tin Mừng Mác-cô.
f. Có thể có một Nguồn (Q) khác
Có lẽ ngoài Tin Mừng Mác-cô thì còn có một Nguồn khác nữa. Nguồn này được các nhà chuyên môn Thánh Kinh gọi là Nguồn Q. Làm sao mà các nhà chuyên môn đi đến giả thuyết có Nguồn Q? Họ lý luận như sau: Mát-thêu và Lu-ca có nhiều câu giống nhau mà không có trong Mác-cô. Thực ra có khoảng 250 câu như thế (so sánh Mt 3,7-10 và Lc 3,7-9; Mt 11, 25-27 và Lc 10,21-22). Họ còn giả thiết rằng Mát-thêu và Lu-ca không hề biết nhau.
Hiện tượng này còn được tin rằng Mát-thêu có một Nguồn thứ hai mà như chúng ta đã nói ở trên là thuộc về nguồn Q. Chẳng may là nguồn Q chẳng tồn tại lâu hơn và chúng ta không biết Mát-thêu và Lu-ca đã biết đến nguồn Q ấy trong cùng một hình thái như nhau không. Nhưng có thể tái lập nguồn Q một cách đàng hoàng nhờ vào những gì có trong Mát-thêu và Lu-ca mà không có trong Mác-cô. Nguồn Q chủ yếu gồm các lời nói của Đức Giê-su. Còn về vấn đề mục đích của nguồn Q thì ý kiến chung đều cho rằng mục tiêu của nguồn Q là một thứ “thủ bản”về giáo huấn có rất sớm vào khoảng năm 50 sau Công Nguyên (có thể cùng thời với thư thứ nhất gửi Thê-xa-lo-ni-ca của Thánh Phao-lô). Tóm lại, chúng ta có thể xác định nguồn Q như một Nguồn giả thiết (được xây dựng lại) chủ yếu gồm các lời nói của Đức Giê-su tìm thấy trong cả Tin Mừng Mát-thêu lẫn Tin Mừng Lu-ca, mà không có trong Tin Mừng Mác-cô.
g. Chất liệu riêng của Mát-thêu hoặc của Lu-ca
Sau khi đã đề cấp đến các chất liệu mà Mát-thêu và Lu-ca đã lấy từ Mác-cô và các chất liệu mà các Tin Mừng ấy đã rút từ nguồn Q, chúng ta khám phá ra rằng mỗi tác giả Tin Mừng trên còn có khá nhiều tư liệu riêng của mình. Mát-thêu có riêng hơn 300 câu (gọi là “phần riêng của Mát-thêu”) và Lu-ca có riêng ít nhất 600 câu (gọi là “phần riêng của Lu-ca,”)
Ví dụ về “phần riêng của Mát-thêu”là tường thuật về Thời Thơ ấu (Mt 1-2), một vài tường thuật khác như câu chuyện Phê-rô đi trên nước (Mt 14, 28-31), cái chết của Giu-đa (Mt 27, 3-10), Phi-la-tô rửa tay (Mt 27, 24-25). Phần lớn “phần riêng của Lu-ca”được tìm thấy trong tường thuật gọi là Hành Trình (Lc 9,51-19,44). Thí dụ về “phần riêng của Lu-ca”là: Bài giảng ở Na-da-rét (Lc 4,16-30), câu chuyện người phụ nữ tội lỗi (Lc 7,36-50), các môn đệ trên đường Em-mau (Lc 24,13-35) và các dụ ngôn nổi tiếng, dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,29-37), dụ ngôn người con hoang đàng, cũng được gọi là dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15,11-32), dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế (Lc 18, 9-14).
Sử dụng hình vẽ và phương pháp phê bình Nguồn (là phương pháp có khả năng vạch ra các Nguồn mà các tác giả Tin Mừng đã lấy tư liệu từ trong đó ra), nhà chuyên môn Thánh Kinh hiện đại có bốn con đường hay là bốn Truyền Thống trong các Tin Mừng nhất lãm, tức Mác-cô, Nguồn Q, phần riêng của Mát-thêu (M) và phần riêng của Lu-ca (L). Hình vẽ sau đây cho thấy các tư liệu ấy liên hệ với nhau như thế nào:
Để kết luận, chúng ta có thể nói thuyết hai nguồn không phải là điều chúng ta phải tin như một số người chống đối vẫn thường chỉ trích, nhưng đúng hơn chỉ là một giả thuyết để làm việc. Có lẽ chúng ta nên chú ý nhiều hơn về vai trò củaTruyền Thống hơn là các người bảo vệ Thuyết Hai Nguồn đã quan tâm.
6. Các chất liệu
a. Các chuyện kể mang tính loan báo:
Các chuyện kể mang tính loan báo là các đơn vị dưới dạng chuyện kể với một mục tiêu đơn giản là cung cấp một cái khung, chung quanh một lời nói quan trọng của Đức Giê-su. Phần kể chuyện sẽ được thu hẹp tối đa. Có thể là một số câu chuyện đã được cộng đoàn Ki-tô tiên khởi khai triển rộng hơn là các nhân chứng mắt thấy tai nghe đã truyền lại. Một ví dụ về chuyện kể mang tính loan báo là ở Mc 2, 23-28 là câu chuyện cung cấp bối cảnh cho lời tuyên bố của Đức Giê-su: ”Ngày sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sa-bát.”
b. Các chuyện kể về phép lạ:
Có những chuyện kể mà mối quan tâm là chính phép lạ. Thông thường chúng ta sẽ thấy diễn tiến cơ bản gồm các yếu tố như sau: (1) miêu tả bối cảnh, (2) việc chữa lành, và (3) tác động trên những người chứng kiến. Nhưng trong một vài hình thức triển khai chúng ta thấy như sau: (1) mô tả bệnh, (2) niềm tin ẩn kín hay thể hiện, (3) sự can thiệp của Đức Giê-su bằng lời nói hay cử chỉ, (4) kết quả tức thời, (5) phản ứng của những người có mặt.
Khác với các chuyện kể mang tính loan báo, các chuyện kể về phép lạ thường có các lời khẳng định về địa dư và thời gian đi kèm. Chúng ta cũng thấy trong các chuyện kể ấy các diễn tả sinh động trái ngược hẳn với chuyện kể mang tính loan báo. Sau cùng trong các chuyện kể mang tính loan báo, chúng ta quan sát thấy ảnh hưởng của Truyền Thồng Truyền Khẩu chung, trong khi trong các chuyện kể về phép lạ chúng ta có thể khám phá ra hoặc thông tin trực tiếp về các sự kiện hoặc về tài kể chuyện của tác giả Tin Mừng. Một ví dụ về chuyện kể về phép lạ là Mc 1, 23-28, phép lạ chữa người bị thần ô uế nhập tại Ca-phác-na-um.
c. Các chuyện kể về Đức Giê-su
Các chuyện kể về Đức Giê-su khác với các chuyện kể vể phép lạ, không những vì chúng không có một hình thức nào nhất định cả, mà còn vì chúng đòi độc giả phải chú ý tới tất cả các nhân vật trong câu chuyện. Các chuyện ấy được chăm chút nhiều hơn và cũng nhiều mầu sắc và sinh động hơn. Với các chuyện kể về Đức Giê-su chúng ta đã đi xa khỏi lời rao giảng và giáo huấn chung của Ki-tô giáo là những việc đã có tác động đáng mơ ước trong các chuyện kể mang tính loan báo. Thật ra, chúng ta đang đề cập đến các Truyền Thống có tính chất tư nhiều hơn và tiếp cận với giai đoạn của công việc biên soạn văn chương thực sự. Phần lớn các chuyện kể về Đức Giê-su là các chuyện kể hoàn chỉnh. Nhiều nhà chuyên môn Thánh Kinh cho rằng đối với một số chuyện kể ấy Mác-cô lệ thuộc vào các chứng nhân mắt thấy tai nghe, nhất là lệ thuộc vào Phê-rô, nhưng điều đó còn tranh cãi. Một ví dụ về chuyện kể về Đức Giê-su là Mc1, 1-8, Ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng.
d. Các phần do Mác-cô sáng tác
Trong nhóm các câu chuyện này, Taylor nghĩ rằng các câu chuyện ấy không chứa đựng những dữ kiện của Truyền Thống mà là sản phẩm do bàn tay Mác-cô hay do một bàn tay khác có trước Mác-cô tạo ra. Ở đây chúng ta không có gì chắc chắn cả. Không dễ gì mà thấy được sự phân biệt giữa các phần này và các loại nói trên kia. Tiêu chuẩn phân biệt duy nhất là có thể quan sát được tính giả tạo của bản văn. Một ví dụ về phần sáng tác của Mác-cô là Mc 3, 13-19, việc Đức Giê-su lập Nhóm Mười Hai.
e. Các đoạn tổng kết
Các đoạn tổng kết tự chúng giải thích về mình. Các đoạn tổng kết quan trọng cống hiến một cái đinh cho cấu trúc của Tin Mừng như một toàn bộ là Mc 1,14-15; 3,7-12; 6,6-13. Có nhiều đoạn tổng kết dẫn nhập hoặc bao gồm các nhóm câu chuyện hay được gắn vào từng câu chuyện một.
f. Các lời nói và dụ ngôn
Các lời nói và dụ ngôn thường khác biệt với các chất liệu kể chuyện mà chúng ta đã đề cập tới từ trước cho tới giờ. Thường thường chúng được xếp vào loại giáo huấn. Cũng khó mà phân biệt hoàn toàn giữa chuyện kể và giáo huấn. Phần quan trọng nhất của loại này trong Mác-cô là các dụ ngôn trong chương 4 và diễn từ cánh chung trong chương 13. Ngoài ra phần lớn chỉ là chắp vá. Ví dụ bài diễn từ về truyền giáo của Mát-thêu (chương 10) chỉ có 4 câu trong Mc 6,8-11. Bài diễn từ về cộng đoàn (Mt 18) chỉ có 12 đến 17 câu trong Mc 9. Điều đó dường như cho thấy rằng Mác-cô không biết tới nguồn mà Mát-thêu và Lu-ca đã rút ra chất liệu cho việc giảng dậy. Dường như Mác-cô đã lấy các lời nói từ một nguồn khác.
g. Tính đa dạng
Các sự kiện nói trên cho thấy có một sự đa dạng về chất liệu Tin Mừng. Đơn giản là không thể coi thường tính chất văn chương của Tin Mừng Mác-cô. Dường như ngài rất lệ thuộc vào Truyền Thống và ngài bảo toàn hình thức của Truyền Thống ấy. Thật quan trọng hiểu rằng tác giả cuối cùng đã sử dụng và đã truyền lại chất liệu ấy với các ý tưởng hướng dẫn của cá nhân mình (điều này sẽ được nghiên cứu bởi phương pháp phê bình công việc biên soạn).
III. CÁC TIN MỪNG NHẤT LÃM
Ba "Tin mừng”đầu tiên, có lẽ chúng ta đã thấy, có nhiều điểm chung. Những tường thuật và lời nói của Chúa Giêsu giống nhau gần như từng chữ, để chúng ta có thể tái tạo trong ba cột song song. Khái quát có nghĩa là: "những người thấy cùng nhau hoặc có thể thấy cùng nhau". Đặc biệt, gần như hoàn toàn nội dung Tin mừng theo thánh Mac-cô được tìm thấy ở Mt và Lc.
Không kể thời niên thiếu của Chúa Giê-su, Tin Mừng Nhất Lãm đều mang những nét chính yếu này:
1/ Dọn vào sứ vụ (Gioan Tẩy Giả rao giảng – Chúa Giêsu chịu phép rửa và bị cám dỗ)
2/ Sứ vụ của Chúa Giêsu tại xứ Galilea và các miền phụ cận.
3/ Hành trình đến Giêrusalem và những ngày cuối cùng tại đó.
4/ Kết thúc là biến cố thương khó – chết và sống lại.
1. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu
Ý tưởng trung tâm của Mát-thêu là trình bày Chúa Giêsu như Đấng Mêsia được loan báo trong Kinh thánh, người hoàn thành Lề luật và các Ngôn sứ và Người mang Nước Thiên Chúa đến (Mát-thêu nói thay cho cụm từ Nước Trời, có lẽ là bản dịch nghĩa đen của Aramaic).
Hai chương đầu tiên là phần dẫn vào nhằm mục đích cho thấy Chúa Giêsu tiếp tục và quy tụ trong Ngài lịch sử những người được chọn: gia phả, thời thơ ấu bị đe dọa (như Mô-sê), lưu vong ở Ai Cập và trở về từ Ai Cập.
Phần trung tâm của Tin Mừng (từ chương 3 đến chương 25) có thể được chia thành năm phần, mỗi phần bao gồm một bài tường thuật theo sau là các bài diễn văn.
a) ch. 3 và 4: câu chuyện - Gioan Tẩy giả; bí tích rửa tội và cám dỗ của Chúa Giêsu; bắt đầu chức vụ công khai.
chương 5-7: Diễn văn - "Bài giảng trên núi", lề luật của Vương quốc. Chúa Giêsu hiện ra như Môsê mới, vượt trội so với người cũ.
b) ch. 8 đến 10, 5: tường thuật chủ yếu bao gồm các phép lạ: "vương quyền của Chúa Giêsu biểu lộ".
chương 10, 5-42: Diễn văn - hướng dẫn các môn đệ: rao giảng về Nước Trời.
c) ch. 11 và 12: tường thuật - những phản ứng khác nhau trước Chúa Giêsu. Câu hỏi (Gio-an tẩy giả), hoài nghi, thù địch, vương quyền bị phản kháng.
chương 13: Diễn văn - Mầu nhiệm Vương quốc và sự phát triển (dưới dạng dụ ngôn).
d) chương 13,53-17,27: câu chuyện - những phản ứng mới trước Chúa Giêsu. Bất tín của người dân và các nhà lãnh đạo. Đức tin của các môn đệ.
Loan báo thập giá.
chương 18: Diễn văn - Dân của vương quốc: khiêm tốn và tha thứ.
e) ch. 19 đến 23: tường thuật (bao gồm cả lời của Chúa Giêsu) các môn đệ, người thiện cảm hoặc các gài bẫy do đối thủ đặt câu hỏi cho Chúa Giêsu. Tiến vào Giê-ru-sa-lem. Căng thẳng lên cao.
chương 24 và 25: diễn văn cho các môn đệ - kết thúc thời gian và Nước Trời đến. Cần thiết cảnh giác.
Các chương cuối của Tin Mừng bao gồm tường thuật về cuộc khổ nạn (26,1 đến 27,66) và sự phục sinh (28), kết thúc với lệnh truyền giáo được trao cho các môn đệ. Rao giảng Tin mừng cho khắp thế giới
Dường như Mát-thêu viết Tin Mừng chủ yếu cho người Do Thái. Địa điểm và ngày soạn thảo không được biết đến. Người ta thường nghĩ rằng Tin mừng này được viết vào khoảng năm 70.
Truyền thống đã sớm gắn kết Tin Mừng này cho Mát thêu. Trên thực tế, sách này không có nói đến tác giả. Một giám mục đầu thế kỷ thứ hai, Papias, nói. "Mát-thêu đã thu thập các "logia "(= lời) bằng tiếng Do Thái (có thể là Aram) và mỗi người dịch nó tốt nhất có thể.”Một số người nghĩ rằng Papias nói về Tin Mừng, những người khác cho rằng ông gợi lên một tập hợp các ngôn từ của Chúa Giêsu, được sử dụng bởi các nhà truyền giáo. Không có gì cho phép chúng ta quyết định vấn đề (điều này không quan trọng đối với đức tin).
2. Tin Mừng theo thánh Mac-cô
Tin Mừng Mác-cô ngắn nhất trong bốn và có lẽ cũng lâu đời nhất. Dường như Mát-thêu và Luca đã sử dụng rộng rãi Mác-cô, vì toàn bộ các phần của Tin Mừng này được tìm thấy trong hai Tin mừng kia.
Mác-cô là người duy nhất đặt một tựa đề cho Tin Mừng của mình (1,1).
Sau phần dẫn nhập rất ngắn, xác định sứ vụ của Chúa Giêsu (1,15) so với sứ vụ của Gio-an tẩy giả, Mác-cô tóm tắt lời rao giảng của Chúa Giêsu.
Những tường thuật và lời nói của Chúa Giêsu tạo nên phân đoạn lớn nhất của Tin Mừng (đến tường thuật thương khó) không tuân theo một dàn bài chính xác như trong Mát-thêu. Chúng ta không thể phân biệt thứ tự thời gian chặt chẽ nhất là trong chi tiết. Nhưng Mác-cô không tìm cách làm việc như một nhà sử học hay nhà viết tiểu sử. Ông loan báo Tin mừng. Kerygma (thuyết giảng) giữ vị trí lớn nhất trong cuốn sách của ông (việc giảng dạy bị hạn chế hơn).
Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt hai phần lớn trong tường thuật về sứ vụ của Chúa Giêsu.
a) từ 1,14 đến 8,26: Chúa Giêsu được thể hiện công khai bằng lời nói, phép lạ, thái độ của Ngài. Ở mọi nơi, Ngài tạo ra sự ngạc nhiên. "Người này là ai? Uy quyền này đến từ đâu?” (1,22; 1,27; 2,7; 4,41; 6,2-3; 6,14-16; 6,51. 7. 37. ...). Mác-cô nhấn mạnh phản ứng của những người mà Chúa Giêsu gặp. Một số người nhận ra rằng uy quyền của Ngài đến từ Thiên Chúa và trở thành môn đệ của Ngài; những người khác mà không lên tiếng (đám đông); những người khác phản đối (gia đình Ngài, đồng bào của Ngài, nhưng đặc biệt là các kinh sư và người Pha-ri-siêu). Khi Ngài nói về bản thân mình, Ngài sử dụng danh hiệu bí ẩn "con người". Khi một thần khí ô uế tuyên bố Ngài là "con Thiên Chúa", Ngài áp đặt sự im lặng (3,12). Câu hỏi vẫn luôn còn: "Người này là ai?"
b) Bước ngoặt của Tin Mừng ở vị trí Xê-da-rê thành Phi-lip-phê (8,27-33). Chính Chúa Giêsu hỏi các môn đệ của mình: "Các con nói ta là ai?” Phê-rô tuyên xưng đức tin: "Ngài là Đức Kitô". Nhưng ngay sau khi Chúa Giê-su bắt đầu tuyên bố cái chết của mình. Phê-rô không hiểu, chống cự. Chúa Giêsu phải tiết lộ cho các môn đệ của mình Ngài sẽ là Đấng cứu thế như thế nào. Phần thứ hai của Tin Mừng này là một cuộc hành trình tiến về thập giá. Sự thù địch ngày càng lớn. Thuyết giảng trước đám đông nhường chỗ cho các cuộc tranh luận với các đối thủ và giảng dạy cho các môn đệ (tập trung chủ yếu vào việc Con Người sẽ bị hạ xuống và cái chết sắp tới (8,31; 9,31; 10,45. 12). Tại Giê-ru-sa-lem, các sự kiện tăng tốc: những kẻ thù của Chúa Giêsu không tha thứ cho Ngài khi Ngài tiến vào Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn và sự can thiệp của Ngài trong Đền thờ.
c) Chúng ta đi đến với Cuộc Khổ Nạn (chương 14 và 15). tường thuật này giữ một vị trí tương đối quan trọng trong Mác-cô: Chúa Giêsu là Đấng Mêsia bị đóng đinh. Ngài đã phải chịu đau khổ để cứu rỗi loài người (10,45; 9,12).
d) Tường thuật phục sinh trong Mác-cô khá ngắn. Thời điểm Phục sinh không là vấn đề quan trọng. Những gì quan trọng chính là việc chứng thực và công bố phục sinh.
Một truyền thống cổ xưa, tường thuật bởi Papias, nói rằng Mác-cô là thông dịch viên của Phê-rô và ghi chú trong Tin Mừng của mình những gì Phê-rô đã nói. Chúng ta có thể tin rằng điều đó là như vậy. Do đó, tác giả của Tin mừng này có thể là Gio-an Mác-cô, nói đến trong sách Công vụ (12,12, v.v.) và một số thư tín (Phi-lê-môn 24; 1 Phê-rô 5,13, v.v ...). Có lẽ Mác-cô đã viết Tin mừng của mình ở Rô-ma vào khoảng năm 60.
3. Tin mừng theo thánh Lu-ca
Luca là người duy nhất trong bốn thánh sử giải thích ý định của mình trong phần mở đầu (1,1-4). Chúng ta có thể lưu ý ba điều:
1. Luca viết để người đọc có thể biết "sự chắc chắn của những lời giảng dạy mà ông đã nhận được".
2. Ông đã nghiên cứu tìm kiếm nghiêm túc bằng cách đặt câu hỏi cho các nhân chứng các sự kiện mà ông tường thuật, đó là các Tông đồ.
3 - Ông nỗ lực trình bày những sự kiện này một cách nhất quán.
Theo một phong tục của thời đó, cuốn sách dành riêng cho một nhân vật. Nhưng không nghi ngờ gì cả Luca đang nhắm mục tiêu một đối tượng lớn hơn nhiều. Tin mừng của ông thực sự được gửi đến thế giới Hy Lạp thời của ông. Ông đặt cuộc đời của Chúa Giêsu trong lịch sử thế tục của thời đại (1, 5; 2,1; 3,1). Ông là một nhà sử học hơn các thánh sử khác. Nhưng chủ đề của cuốn sách vẫn là Tin Mừng, rao giảng tông đồ. Ngôn ngữ của Luca là tiếng Hy Lạp, ít Semitic hơn ngôn ngữ của các thánh sử khác. Tin mừng thể hiện công việc khảo sát của tác giả nhiều hơn, ví dụ, trong những tường thuật thời thơ ấu, Luca bắt chước phong cách của bản LXX (Cựu Ước Hy Lạp).
Trong chương 1 và 2, chúng ta có các tường thuật về sự ra đời và thời thơ ấu của Chúa Giêsu để cho thấy sự chờ đợi của Ít-ra-en đã chấm dứt (1,32-33; 1,54; 1,68; 2,11, 2,29-32). Nhưng sự xuất hiện của Chúa Giêsu cũng liên quan đến dân tộc khác (dân ngoại) 2,14; 2,30-32. Ngay từ đầu, chúng ta được mặc khải trong một sấm ngôn, Chúa Giêsu sẽ trở nên con người nào: Con Thiên Chúa (1,32 và 35; 2,49), Đấng Cứu Rỗi (1,69 và 77; 2,11 ), Chúa và Đấng Thiên Sai (2,11).
Từ chương 3,1-9,50 Lu-ca ghi lại sứ vụ của Chúa Giê-su tại Galilê. Hầu hết các tường thuật và lời nói của Chúa Giêsu ở trong Mác-cô và Mát-thêu. Nhưng có những khác biệt đáng kể, đặc biệt là rao giảng ở Nazareth (4,16-30). Ý nghĩa sứ mệnh của Chúa Giêsu được mặc khải trong một sấm ngôn sứ của Is 61. Ở đây đặc vấn đề về ân sủng của Thiên Chúa, về lòng thiện hảo của Ngài đối với dân nghèo, những người bé nhỏ, những người tội lỗi. Lu-ca nhấn mạnh mạnh vào khía cạnh này của Tin mừng, ví dụ như trong 7,36-50.
Nhưng sứ điệp của Chúa Giêsu gặp phải bất chấp và thù địch, nhất là khi nói đến sự cứu rỗi dân ngoại (4,25-27).
Trong phần tiếp theo (9,51; 19,28), Luca kể lại hành trình của Chúa Giêsu đến Giê-ru-sa-lem, do đó đến thập tự giá (9,51). Có nhiều tường thuật và dụ ngôn không có tương đồng trong hai Tin mừng đầu tiên. Đối với các tường thuật: 9,51-56; 10,38-42; 13,1-5; 13,10-17; 19,1-10. Đối với các dụ ngôn: 10,29-37; 11,5-8; 12,16-21; 15,1-32; 16,1-12; 16,19-31; 17,7-10; 18,1-14. Chúa Giêsu gặp phải sự thù địch ngày càng tăng: Ngài cố tình đến Giê-ru-sa-lem (9,51; 13,31-33); Ngài khóc thương thành phố từ chối Ngài (13,34-35 và 19,41-44).
Trong tường thuật về những ngày cuối cùng ở Giê-ru-sa-lem, (19,29 đến 21,38), như trong tường thuật cuộc Khổ Nạn, (chương 22 và 23) Luca theo sát Tin mừng Mác-cô.
Mặt khác, chương 24, tuyên bố phục sinh, duy nhất tường thuật câu chuyện đẹp những người lữ hành Emmaus, như các môn đệ khác sau này (24,44-45) hiểu ý nghĩa thập tự giá dưới ánh sáng những lời ngôn sứ (24,27). Tin mừng kết thúc với những gì làm phần khởi đầu của sách Công vụ: lời hứa Chúa Thánh Thần (24,49-50 = Công vụ 1,4-5).
Ai là tác giả của Tin Mừng này? Có lý do để tin vào truyền thống gán Tin Mừng và sách Công vụ cho Luca, bạn đồng hành của Phao-lô, thầy thuốc yêu dấu (Cl 4,14; 2 Tm 4,11). Niên đại soạn thảo không chắc chắn - có thể là một chút trước năm 70.
4. Tin mừng theo thánh Gio-an
Chính Gio-an nói với chúng ta điều gì đã thôi thúc ông viết (20,31). Mục tiêu Gio-an theo đuổi không khác với mục tiêu của các thánh sử khác (những người mà Gio-an chắc chắn biết): dẫn dắt độc giả của mình đến với đức tin vào Chúa Kitô. Nhưng Gio-an thực hiện theo một cách khác. Ông tập trung vào tất cả mọi thứ giúp hiểu sâu sắc hơn con người và công việc của Chúa Giêsu. Ví dụ, Gio-an chỉ tường thuật một vài phép lạ, nhưng ông cho thấy mỗi phép lạ trong số đó là dấu chỉ của những gì Chúa Giêsu đã đến hoàn thành cho con người: qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu mặc khải như là bánh sự sống. Mỗi dấu hiệu được theo sau một lời giải thích, dưới hình thức đối thoại (với Ni-cô-đem hoặc người đàn bà Samari) hoặc thảo luận với những đối thủ của mình, trong đó Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là ai và Ngài mang đến sự sống đời đời.
Chương đầu tiên là dẫn nhập gồm hai phần: Gio-an giới thiệu ngay từ đầu Đấng mà Gio-an sẽ nói: Chúa Giêsu. Mở đầu 1,1-18 chỉ định Chú Giê-su là Ngôi lời, đã ở với Chúa ngay từ khởi thủy. Thiên tính của Chúa Giêsu như thế được nhấn mạnh. Nhưng Ngôi lời trở thành thành xác thịt, đã nhập thể (c. 14): nhân tính của Chúa Giêsu được nhấn mạnh, "Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật". Tất cả Tin Mừng sẽ tường thuật vinh quang này mặc khải như thế nào, chủ yếu là trên thập giá (12,16 và 23).
Lời mở đầu được theo sau bởi một loạt các lời chứng (Gio-an Tẩy giả, các môn đệ đầu tiên), qua đó Chúa Giêsu được trình bày cho người đọc (câu 29. 36. 41. 45. 49). Câu cuối cùng của chương đầu tiên (câu 51) loan báo những gì sẽ tiếp theo, khi quy chiếu đến thị kiến của Gia-cóp (Sáng thế 28,10-17). Trời rộng mở, chính là sứ vụ của Chúa Giêsu. Thiên Chúa được mặc khải ở đây tốt hơn trong Cựu Ước (1,17:Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có). Đây cũng sẽ là một trong những chủ đề chính của Gio-an.
Sách các dấu chỉ
Tựa đề sách "các dấu chỉ” như thế có thể đặt cho phần trung tâm của Tin Mừng (cho đến chương 23).
- Chương 2: nước biến thành rượu và thanh tẩy đền thánh, tiếp theo là hai đối thoại:
- Chương 3: đối thoại giữa Ni-cô-đem và Chúa Giê-su, Do Thái giáo không thể ban sự sống đời đời; chính là quà tặng của Thiên Chúa nhờ Chúa Thánh Thần ban cho những người tin vào Chúa Giêsu;
- Chương 4: Chúa Giê-su đối thoại với người phụ nữ Samari, chính Ngài là người trao ban nước mang lại sự sống chứ không phải giếng của Gia-cóp (Do Thái giáo) hay tôn giáo Samari.
- Chương 5: chữa lành bệnh liệt, tiếp theo là tranh cãi, ở đó Chúa Giêsu cho thấy chính Ngài là người hoàn thành công việc của Thiên Chúa khi ban sự sống cho con người. Lưu ý rằng mỗi dấu chỉ là một lời kêu gọi đức tin. Một số người tin; những người khác đối lập với Chúa Giêsu. Thập giá đã phác họa ra ở phía chân trời.
- Chương 6: dấu hiệu bánh hằng sống. Chúa Giêsu là bánh hằng sống, là sự sống cho thế giới.
- Chương 9: chữa lành của một người mù cho thấy Chúa Giêsu là ánh sáng của thế giới (đã được loan báo trong chương 8) và những đối thủ của Ngài có mắt như mù. Chủ đề phán xét trở lại: không tin đã bị phán xét.
- Chương 11: dấu chỉ La-za-rô sống lại. Chúa Giêsu là người chiến thắng cái chết. Bên cạnh những dấu chỉ này, chúng ta những đối thoại và các diễn văn của Chúa Giêsu (chương 7, 10 và 12) mang lại các ánh sáng mới về con người và công việc của Chúa Giêsu (ví dụ, mục tử nhân lành, Chúa Giêsu ban sự sống để các con chiên có sự sống sung túc).
- Chương 13-17: chứa các đối thoại cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ của mình. Ý nghĩa sự sống, sự chết và sự sống lại của Ngài, lời hứa ban Chúa Thánh Thần, sứ mạng của các môn đệ là những chủ đề chính.
- Chương 18 và 19: tường thuật thương khó là một phần của Tin mừng, gần nhất với các Tin mừng Nhất lãm.
- Tường thuật về sự phục sinh có những điểm chung với ba Tin Mừng khác, nhưng cũng có những khía cạnh đặc trưng; đoạn văn Tho-ma nhấn mạnh về sự cần thiết của đức tin;
- Chương 21 cho thấy Chúa Kitô phục sinh cũng chính là Chúa Giêsu mà các môn đệ biết và tiếp tục tin tưởng Ngài để thực hiện sứ mạng mà Ngài đã giao phó cho họ (xem 20,21).
Gio-an (thuộc truyền thống của Tông đồ Gio-an, Tin mừng thứ tư, có khả năng, mặc dù chưa được chứng minh), được soạn thảo cho cả người Do Thái và dân ngoại. Gio-an dường như biết các trào lưu tư tưởng vĩ đại của thời đại mình. Gio-an cố gắng diễn dịch sứ điệp Tin Mừng để được mọi người hiểu. Bằng cách làm nổi bật các biểu tượng đơn giản, nhưng giàu ý nghĩa, chẳng hạn như nước hằng sống, ánh sáng, người mục tử, bánh, cây nho, phán xét, Gio-an cố gắng đặt mình trong tầm hiểu biết của tất cả, Do Thái hoặc Hy Lạp, học giả hoặc người không biết gì. Tin mừng thứ tư có lẽ được soạn thảo vào cuối thế kỷ thứ nhất. Gio-an vẫn còn làm chúng ta ngạc nhiên hiện nay. Thực sự là một tin mừng phổ quát.
5. Sách Công vụ Tông đồ
Sách Công vụ là một phần mở rộng của Tin mừng theo thánh Luca (Công vụ 1,1-5 và Luca 1,1-4). Cùng một tường thuật tiếp theo. Trong sách Công vụ, Luca tường thuật Tin mừng Chúa Giê-su Ki-tô được lan truyền như thế nào "ở Giê-ru-sa-lem, ở Sa-ma-ri, và đến tận cùng trái đất”(1,8), trên thực tế cho đến Rome, thủ đô của Đế chế; nhưng phong trào được phát động và không có gì ngăn cản được. Sự tiến triển của Tin Mừng xuyên suốt công việc của Chúa Thánh Thần (1,5; 1,8; 4,31; 5,32; 8,29; 11,12; 13,2, v.v ... ), dẫn dắt các Tông đồ, chiến thắng các chướng ngại vật, liên tục mở rộng lĩnh vực sứ mạng Kitô giáo. Người ta có thể nghĩ rằng tựa đề "Công vụ của Chúa Thánh Thần”sẽ phù hợp hơn với cuốn sách này.
Nhưng đúng thật là Chúa Thánh Thần đã sử dụng các tông đồ. Luca đặc biệt nói về hoạt động của Phê-rô cho đến chương 12, sau đó là của Phao-lô (không quên Gio-an, Thê-pha-nô, Phi-líp-phê và các bạn đồng hành của Phao-lô). Nhưng chính toàn thể Giáo hội rao giảng Tin mừng: 8,4; 13,1-3. Một số đoạn văn trong sách Công vụ được viết ở ngôi thứ nhất (Chúng tôi ...). 16,10-17; 20,5-15; 21,1-18; 27,1; 28,16. Theo truyền thống, chính Luca đã có mặt bên cạnh Phao-lô trong những khoảnh khắc được kể bởi những đoạn văn này. Đối với phần còn lại của cuốn sách, có lẽ ông đã sử dụng các nguồn, như đối với Tin Mừng: các chứng cứ, các tông đồ, các ghi chú của những người đã nghe, v.v ...
6. Các Thư Phao-lô
Công việc truyền giáo của các Tông đồ, một số trong đó được kể lại trong sách Công vụ, dẫn họ đi từ thành phố này sang thành phố khác; bằng cách thành lập các giáo hội. Để nâng đỡ đức tin các môn đệ, để giữ họ khỏi những nguy hiểm đe dọa, để trả lời câu hỏi của họ, các Tông đồ đã viết: nhiều thư gửi cho các cộng đồng mà họ đã thành lập hoặc họ muốn đến thăm. Tân Ước lưu giữ 21 thư của các Tông đồ, thường được gửi đến các giáo hội, đôi khi cho các cá nhân (Ti-mô-thê, Ti-tô, Phi-lê-mon). Những lá thư khác của các Tông đồ đã không đến với chúng ta (1 Cô-rinh-tô 5,9: Trong thư đã gửi cho anh em, tôi có viết là đừng đi lại với những kẻ dâm đãng).
Các thư Tân Ước không được viết để đưa vào quy điển Thánh Kinh. Mục đích của họ là trả lời các hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cho các nhu cầu đặc biệt của một giáo hội. Nhưng viết theo linh hứng của Chúa Thánh Thần, các Tông đồ bày tỏ "tư tưởng của Chúa Kitô (1 Cô-rinh-tô 2,16) theo cách rất chân thực và mạnh mẽ đến nỗi các Kitô hữu đã nhận ra chính là Lời Chúa.
Ít nhất một số trong các thư này đã được viết trước Tin mừng. Hầu hết trong số các thư đã được ký kết (không giống như các Tin mừng); một ngoại lệ, thư gởi cho tín hữu Híp-ri. Các trường hợp soạn thảo thường được chỉ định rõ ràng.
Thư gởi tín hữu Ro-ma
Bức thư này, chắc chắn là quan trọng nhất trong tất cả các thư Phao-lô (thư có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Giáo hội), được viết ở Cô-rinh-tô năm 57. Phao-lô không biết Giáo hội Roma, nhưng Phao-lô muốn đến thủ đô của Đế chế (1,8-13). Lá thư ngài là một loại "danh thiếp": ngài trình bày "Tin mừng của mình” (2,16; 16,25), sứ điệp mà ngài loan báo, Tin mừng ngài không xấu hổ (1,16 -17). Do đó, thư chứa đựng sự trình bày có hệ thống và kỹ lưỡng nhất về đức tin Kitô giáo trong tất cả các thư tín.
Phao-lô nhắc nhở các Kitô hữu về nguồn gốc Do Thái cũng như các Kitô hữu có nguồn gốc Hy Lạp rằng sự cứu rỗi của họ là toàn bộ công trình ân sủng của Thiên Chúa và do đó, họ không thể tự hào về điều đó. Do đó, họ phải "đón nhận nhau vì Chúa Kitô đã đón nhận họ” (15,7).
1 Cô-rin-tô
Được soạn thảo ở Ê-phê-xô trong những năm 53-56, lá thư này rõ ràng là một "soạn thảo hoàn cảnh". Phao-lô đã loan báo Tin Mừng tại Cô-rinh-tô từ 50 đến 53 (Công vụ 18,1-16). Cô-rin-tô khi đó là một cảng lớn, một trung tâm thương mại rất năng động, nơi đó sự giàu có và đau khổ cùng tồn tại, nơi đó có sự đồi trụy nảy nở (Aphrodite, nữ thần tình yêu, được tôn vinh bởi mại dâm thiêng liêng). Giáo hội Cô-rinh-tô là cuộc gặp gỡ giữa Tin mừng với một thế giới ngoại giáo sâu đậm.
Phao-lô viết lá thư đầu tiên sau tin tức nhận được từ Cô-rin-tô (1,11; 5,1; 11,18), buộc ông phải can thiệp để khắc phục một tình huống bị đe dọa bởi sự chia rẽ (chương 1 đến 4), vô đạo đức (ch. 5), các vụ kiện giữa anh em (ch. 6), sự rối loạn trong các quy tụ cộng đồng (chương 11). Phao-lô cũng trả lời các câu hỏi về thần tượng (ch. 8). Các vấn đề khác như Bữa Tiệc Ly (ch. 11), việc sử dụng các ơn đặc sủng (ch. 12), các giáo phái (ch. 14) và phục sinh (ch. 15) là chủ đề được chú ý của Tông đồ. Niềm tin vào một mình Giê-su Ki-tô (1,24; 1,30-31; 2,2; 3,11, v.v.) và tình yêu anh em (ch. 13) là câu trả lời của Phao-lô cho những khó khăn này.
2 Cô-rin-tô
Sau khi viết thư thứ nhất, dường như Phao-lô đã đến thăm Cô-rin-tô (12,14; 13,1-2) để lập lại trật tự trong Giáo hội. Nhưng ông đã gặp phải sự phản đối dữ dội (2,5). Do những sự cố này, Phao-lô đã viết một "lá thư nghiêm trọng”(2,3-4; 2,9; 7,8-13), rất không may mắn là chúng ta không có lá thư này hiện nay. Bức thư này đã đưa tín hữu Cô-rin-tô đến tâm hồn tốt hơn. Do đó, Phao-lô có thể viết lại (2 Cô-rinh-tô) một cách thanh thản hơn, mở lòng với Cô-rinh-tô, khiến họ hiểu được niềm vui và nỗi buồn trong chức vụ của Phao-lô (ch. 1 đến 7). Trong chương 8 và 9, ngài khuyến khích người Cô-rin-tô hãy hào phóng với Giáo hội Giê-ru-sa-lem. Trong phần cuối của thư tín, ông nhiệt liệt bảo vệ chức vụ tông đồ của mình, tái khẳng định thẩm quyền của mình dến từ Chúa Giêsu Kitô.
Thư gởi tín hữu Ga-lát
Để hiểu thư gởi cho tín hữu Ga-lát, hãy đọc Công vụ 13,44-52 và 15,1-35. Một số Kitô hữu gốc Do Thái, những người tuyên bố "Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Mô-sê, thì anh em không thể được cứu độ” (Công vụ 15,1) gây rắc rối cho những người Ga-lat được Phao-lô rao giảng. (Đây có phải là Kitô hữu của các thành phố nơi đó Phao-lô đi qua trong hành trình truyền giáo đầu tiên của ông (Công vụ 13 và 14), là một phần của tỉnh Galat của La Mã - hay người Galat đúng nghĩa, cư dân miền Bắc và có thể được Phao-lô viếng thăm lúc hành trình thứ hai của mình (Công vụ 16,6 và 18,23)? Câu hỏi không được trả lời, trong trường hợp đầu tiên, thư của Phao-lô sẽ viết từ năm 49 hoặc 50, trong trường hợp thứ hai, năm 53 và 55.
Kitô hữu Ga-lát đã tự bị quyến rũ chuyển hướng Tin Mừng. Phao-lô, sau khi khẳng định thẩm quyền tông đồ, cảnh báo họ chống lại lỗi lầm nguy hiểm mà họ được dạy:Điều gì cứu anh em, lề luật hay ân sủng? Anh em có tin vào Chúa Kitô không?Nhưng trong thực tế, chính ân sủng cứu những ai, giống như Áp-ra-ham, đặt niềm tin vào Thiên Chúa (ch. 3 và 4). Tương tự như vậy, chính Thần khí chứ không phải xác thịt cho phép sống như con cái của Thiên Chúa, và không phải là nô lệ.
Thư gởi tín hữu Ê-phê-xô
Tín hữu Ê-phê-xô có lẽ không phải là những người duy nhất nhận được thư này từ Phao-lô. Một số bản thảo cổ thực sự bỏ qua các từ "gởi cho Ê-phê-xô”ở đầu chương 1: sau đó chúng ta sẽ có một lá thư luân lưu cho các giáo hội các tỉnh của châu Á, được Phao-lô rao giảng trong thời gian ở Ê-phê-xô (Công vụ 19,10). Ê-phê-xô là trung tâm thương mại và tôn giáo lớn nhất trong tỉnh (Công vụ 19).
Phao-lô đã viết bức thư này trong thời gian bị giam cầm ở Roma vào khoảng 61 hoặc 62. Không phải đối mặt với tình huống khủng hoảng, Phao-lô có thể viết một cách tự tin và tự do ca khen ân sủng Thiên Chúa (chương 1 và 3) và nhấn mạnh đặc biệt vào hai khía cạnh của Tin mừng: sự cứu rỗi nhưng không và sự hòa giải của người Do thái với dân ngoại trong Chúa Kitô (chương 2). Sau đó, Phao-lô khuyến khích các Kitô hữu cư xử như những người được Chúa Thánh Thần đổi mới trong Giáo hội (4,1-16), trên thế giới (4,17 đến 5,20), trong gia đình và tại nơi làm việc (5,21 đến 6,9), khi chiến thắng sự dữ nhờ khí cụ của Thiên Chúa (6,10-20).
Thư gởi tín hữu Phi-lip-phê
Bức thư này được viết trong tù (có lẽ ở Roma) cho thấy mối quan hệ tình cảm tồn tại giữa Phao-lô và các Kitô hữu Phi-lip-phê, thuộc địa La Mã nơi Tông đồ đã loan báo Tin Mừng trong hành trình truyền giáo thứ hai của mình (Công vụ 16). Niềm vui là lưu ý chủ yếu của bức thư huynh đệ này, nơi Tông đồ tạ ơn Thiên Chúa trong khi khuyến khích người Phi-líp-phê vẫn kiên định trong đức tin và tình yêu - theo gương của Chúa Giê-su đã hạ mình xuống thập giá (2,5-11: bài thánh ca tráng lệ cho Chúa Kitô, người tôi tớ đau khổ mà Thiên Chúa đã thiết lập Chúa tể trên mọi tạo vật). Phao-lô và cũng như tất cả tín hữu Phi-líp-phê cảnh báo chống lại nguy cơ tự phong vinh quang về sự công chính của chính họ thay vì dựa vào ân sủng của Chúa Kitô (chương 3).
Thư gởi tín hữu Cô-lô-xê
Bức thư gửi chơ các tín hữu Cô-lô-xê, một thành phố ở Tiểu Á cách Ê-phê-xô 160 km, trong nhiều khía cạnh giống thư gửi tín hữu Ê-phê-xô. Thư cũng được viết trong thời gian Phao-lô bị giam cầm tại Roma. Nhưng lần này Phao-lô phải chiến đấu chống lại sự sai lệch nghiêm trọng về đức tin Kitô giáo. Người Cô-lô-xê bị thu hút bởi một học thuyết, tuyên bố vượt trội hơn Tin Mừng bằng cách thêm chủ nghĩa lề luật của người Do Thái (2,16), triết học (2,6), thị kiến (2,18). Câu trả lời của Phao-lô rất đơn giản "bạn có mọi thứ trọn vẹn trong Đức Ki-tô” (2,10). Phao-lô cũng tôn vinh con người, và đặc biệt là con người và công việc của Chúa Giêsu Kitô (1,15-20; 2,9-10; 2,13-15).
Thư thứ 1 gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca
Đây là lá thư đầu tiên trong những lá thư của Phao-lô (năm 51, khi Phao-lô ở Cô-rin-tô). Việc rao giảng ở Thê-xa-lô-ni-ca, thủ đô của Ma-xê-đô-ni-a đã gặp phải sự thù địch của người Do thái (Công vụ 17,1- 8). Phao-lô đã phải rời khỏi một giáo hội trẻ vừa thành lập. Do đó, ông vui mừng trước tin vui mà ông đã nhận được từ Giáo hội này (chương 1 và 2). Ông khuyến khích người Thê-xa-lô-ni-ca vẫn kiên định trong đức tin và cư xử theo cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Ông khuyên nhủ họ hãy cảnh giác trong khi chờ đợi sự trở lại của Chúa (4,13-5,11).
Thư thứ 2 gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca
Nó được viết ở Cô-rin-tô ngay sau lần đầu tiên để sửa chữa một cách giải thích sai lạc những lời của Tông đồ về sự trở lại của Chúa. Các Kitô hữu lo lắng không thấy Chúa Giêsu trở lại ngay lập tức mất hứng thú với cuộc sống hiện tại, thậm chí ngừng làm việc. Phao-lô khuyến khích các Kitô hữu hãy trung thành và phục vụ Chúa trong thế giới này.
7. Các thư mục vụ
Hai bức thư gọi là thư mục vụ, đó là thư Ti-mô-thê và thư Ti-tô, vì thư chủ yếu chứa lời khuyên cho "các mục tử". Chúng ta không biết hoàn cảnh soạn thảo của các thư này - có lẽ là vào thập niên 60, ngay trước cái chết của vị tông đồ, sau này các nhà chú giải cho rằng các thưu này được viết trể hơn do các môn đệ của Phao-lô sau khi ngài đã chết. Chúng ta không biết gì về cuộc đời của Phao-lô sau khi ở lại Rô-ma (Công vụ 28)
2 Ti-mô-thê 4,6-8:
[6]Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi.[7]Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.[8]Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện..
Thư thứ nhất gởi Ti-mô-thê
Ti-mô-thê là bạn đồng hành của Phao-lô (Công vụ 19,22), cha ông là người Hy Lạp và mẹ Do Thái (Công vụ 16,1-3). Nhiều đoạn khác nhau trong hai lá thư mà Phao-lô gửi cho Ti-mô-thê giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ông: 1 Tm 4,12 (ông vẫn còn trẻ); 1 Tm 1,18; 4,14; 2 Tm 1,6 (ông được sắp đặt cho chức vụ của mình bởi lời ngôn sứ); 1 Tm 5,23 (ông có sức khỏe mong manh).
Phao-lô khuyến khích bạn đồng hành về đời sống Kitô hữu và về chức vụ của ông; Phao-lô hướng dẫn ông trong việc lựa chọn "giám mục”= giám thị được gọi là "bô lão”trong Ti-tô 1, và các phó tế; Phao-lô cảnh báo ông chống lại những học thuyết sai lầm.
Thư thứ 2 gởi Ti-mô-thê
Lời khuyên cá nhân chiếm ưu thế trong bức thư này được viết trong nhà tù ở Roma (đây là lần bị giam cầm sau sự kiện giam cầm tường thuật trong sách Công vụ 28. Phao-lô biết rằng cái chết của ngài đã gần kề.) Sự hiện diện của Ti-mô-thê, người sẽ mang cho ngài một chiếc áo khoác và các cuốn sách (4,6-13), hiện diện rất quý giá đối với Phao-lô, nhưng trong lúc đó, Phao-lô thúc giục Ti-mô-thê hãy trung thành với Tin mừng (1,6-14) và với Chúa Giê-su Ki-tô (2,8-13). Một lần nữa, Phao-lô cảnh báo chống lại các tiến sĩ giả (ch. 3).
Thư gởi Ti-tô
Người bạn đồng hành này của Paul, có nguồn gốc ngoại giáo (Gl 2,3), người chịu trách nhiệm các giáo hội ở Crê-ta, mà ông phải tổ chức (1,5). Lời khuyên của Tông đồ liên quan đến các bô lão, các tiến sĩ giả để bác bỏ, các bổn phận của các Kitô hữu, cho dù họ già, trẻ hay nô lệ. Trong suốt bức thư, Phao-lô trở lại với điều cốt yếu. Tin Mừng, mà ông đã tổng kết một cách đáng ngưỡng mộ trong 1,1-3; 2,11-14; 3,3-8).
Thư gởi Phi-lê-mon
Bản văn ngắn này đi kèm với câu chuyện nô lệ trốn thoát Onesime mà Phao-lô gởi trả về với chủ, ông Philemon và Phao lô yêu Phi-lê-môn đón nhận Onésime "như một người anh em” chứ không phải là một nô lệ nổi loạn. Phao-lô đang ở trong tù khi ngài viết bức thư này (xuất hiện cùng thời với thư gởi tín hữu Cô-lo-xê: so sánh Cl 4,3; 4,7-14 với Pl 1,9 và 10, 23 và 24).
8. Các thư công giáo
Thư gởi tín hữu Híp-ri
Chúng tôi không biết tác giả, ngày tháng, hoặc thậm chí là người nhận cuốn thư này, nó giống như một chuyên luận về thần học hơn là một lá thư được soạn thảo do hoàn cảnh trong một khoảnh khắc. Thư này không được ký, phong văn của tác giả rất khác với phong cách của Phao-lô, không cho phép gán thư cho Phao-lô. chính tựa đề cũng không phải là nguyên bản: nhưng có mọi lý do để tin rằng những người nhận là Kitô hữu gốc Do Thái vẫn gắn bó với Do Thái giáo. Về ngày tháng, người ta có thể nghĩ rằng nó cũ hơn sự phá hủy Giê-ru-sa-lem vào năm 70, bởi vì tác giả nói về việc thờ phượng Đền thờ như một thực tại hiện tại (10,1-3).
Chủ đề lớn của Thư đối là sự vượt trội của Kitô giáo so với Do Thái giáo: con người và công việc của Chúa Giêsu tốt hơn tất cả những gì Do Thái giáo biết: Mô-sê, chức tư tế và các hy tế cổ xưa, giao ước đầu tiên. Giao ước mới, được ký kết bởi dòng máu của Chúa Giêsu, vị Tư tế chủ tể hoàn hảo, mang đến cho con người sự cứu rỗi.
Tác giả không bao giờ ngừng khuyến khích độc giả của mình rút ra những hậu quả trong đời sống Kitô hữu của họ về sự viên mãn của công việc của Chúa Kitô (2,1-4; 3,7 đến 4,16; 5,11 đến 6,12) và đặc biệt là trong phần cuối của thư, từ chương 11, chúng ta có bức tranh toàn cảnh vĩ đại của những người có đức tin.
Thư Gia-cô-bê
Bức thư này không được gửi đến một Giáo hội cụ thể mà cho tất cả các Kitô hữu gốc Do Thái (1,1: mười hai chi tộc rải rác). Tác giả của nó có lẽ là Gia-cô-bê, anh em của Chúa, được đề cập trong Công vụ 15. Niên đại của thư không chắc chắn.
Nếu tên của Chúa Giê-su chỉ xuất hiện ở đó hai lần, thì giáo huấn của thư quy chiếu nhiều lần đến Bài giảng trên núi (1,2; 2,5; 3,12; 5,1; 5,12). Gia-cô-bê khuyến khích các Kitô hữu cư xử theo "sự khôn ngoan”gần với khôn ngoan của Do Thái giáo, nhưng được giác ngộ bởi giáo huấn của Chúa Giêsu. Ngài chỉ trích đức tin không có việc làm (2,14-26) chắc chắn nhắm vào các Kitô hữu, những người rút ra kết luận một cách không sâu sắc thông điệp của Phao-lô, nói rằng các công trạng không quan trọng, nhưng công chính hóa bởi đức tin. Gia-cô-bê cho thấy sự nghiêm khắc đối với người giàu (1,9-11; 2,1-13; 4,13 đến 5,6) và sự cảm thông lớn đối với người nghèo.
Thư thứ nhất của Phê-rô
Người ta thường tin rằng Sylva (5,12) từng là thư ký cho Phê-rô, điều này giải thích tiếng Hy Lạp tốt của bức thư này, và quy chiếu đến "Babylon”(5,13) chỉ định một cách tượng trưng Roma. Nhưng điều này không được chứng minh.
Trước tiên, Phê-rô gởi đến những người trở lại đạo mới để khiến họ hiểu được những gì Tin mừng đang thay đổi cuộc sống của họ (1,3 đến 2,10). Có thể đoạn văn này là một lời rao giảng của Tông đồ nhân dịp các bí tích rửa tội. Từ 2,11 đến 3,12, Phê-rô khuyến khích các Kitô hữu cư xử như những môn đồ đích thực của Chúa Giêsu trên thế giới. Trong phần cuối của thư, Phê-rô khuyến khích các Kitô hữu đứng vững giữa đối lập (và thậm chí là bắt bớ 4,12-19), trước khi nhắc lại nhiệm vụ của các bô lão và thanh niên.
Thư thứ 2 của Phê-rô
Chúng ta không biết đến các hoàn cảnh soạn thảo của thư. Sự khích lệ thánh thiện của chương 1 dựa trên sự chắc chắn của chứng ngôn các Tông đồ và sứ điệp các ngôn sứ. Các cảnh báo trong chương 2 chống lại các tiến sĩ giả rất giống với các cảnh báo trong thư tín của Giu-đa. Về phần chương 3, đó là một sự khích lệ chờ đợi với sự kiên nhẫn và tự tin cho sự trở lại của Chúa.
Thư thứ nhất Gio-an
Bức thư này đã được ký tên, nhưng quan hệ của thư với Tin Mừng của Gio-an rõ ràng đến mức chắc chắn là cùng một tác giả. Gio-an sử dụng tất cả thẩm quyền của mình như một nhân chứng của Chúa Giêsu (1,1-4) để ban cho các Kitô hữu sự bảo đảm về cứu rỗi của họ: (1,5 đến 2,2; 3,18-21; 4,13-19; 5,1-12) và khuyến khích họ rút ra những hậu quả của sự hiệp thông với Thiên Chúa, nghĩa là yêu thương (2,3-11; 3,11-24, v.v ...) Gio-an chiến đấu với một học thuyết nguy hiểm, học thuyết chối bỏ nhân tính của Chúa Giêsu (4,2) và từ chối nhìn thấy nơi Ngài là Chúa Kitô (2,22), Con Thiên Chúa (4,15). Những kẻ dị giáo này không quan tâm đến việc tuân giữ các điều răn, đặc biệt là giới răn yêu thương (2,4; 2,9).
Các thứ 1 và 2 Gio-an
Gio-an tự giới thiệu như là nhà văn của giáo hội tuyển chọn và của con cái của giáo hội (có lẽ là một Giáo hội - thư thứ 2) và một Gaius nào đó (thư thứ 3 có tính cách cá nhân hơn nhiều). Đây là sự khích lệ cho tình yêu anh em và cuộc chiến chống lại các tiến sĩ giả là chủ đề chính.
Thư Giu-đa
Thư này chủ yếu chứa một cuộc tấn công bạo lực vào các tiến sĩ giả, những người chống lại đức tin "được truyền từ các thánh một lần và mãi mãi”(c. 3).
9. Sách Khải huyền của Gio-an
Chúng ta thường nhận định "Gioan”chính người ký sách Khải huyền cùng là Tông đồ cùng tên, mặc dù phong văn của sách Khải huyền rất khác so với Tin mừng và các thư.
Sách Khải huyền (Apocalypse, từ này có nghĩa là "mặc khải”1,1) giữ một vị trí đặc biệt trong Tân Ước. Các thị kiến của Gio-an đóng một vai trò quan trọng. Nhưng ngôn ngữ hình ảnh của những thị kiến này đã dẫn đến những diễn giải đôi khi trái ngược nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể yên tâm rằng Gio-an lần đầu tiên viết để củng cố đức tin của các Kitô hữu bị đàn áp trong thế kỷ thứ nhất. Ông tuyên bố lớn tiếng rằng chiến thắng sẽ thuộc về Thiên Chúa và Chúa Kitô Con của Ngài, bất chấp sự tung xiềng lực lượng của Đối thủ. Kitô hữu được khuyến khích để trung thành (2,10): người nào vượt qua sẽ có phần trong Vương quốc của Chúa Kitô. Các biểu tượng và hình ảnh của sách Khải huyền là một loại ngôn ngữ được mã hóa chỉ định thực tế và các nhân vật thời đó. Nhưng những nhân vật và thực tế này (ví dụ, Babylon vĩ đại) đại diện cho tất cả những gì trong lịch sử sẽ đóng một vai trò tương đương trong việc diễn ra chương trình của Thiên Chúa cho Giáo hội và cho thế giới.
THAY LỜI KẾT LUẬN: ĐI XA HƠN TRONG KINH THÁNH
I. CHÚA GIÊ-SU TRONG CỰU ƯỚC
1. Hai bản văn Tân ước cơ bản
[6]Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,[7]nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế (Phi-líp-phê 2,6-7).
[16]vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.[17]Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. (Cô-lô-xê 1,16-17).
Tất cả các Kitô hữu đều tin vào sự ra đời siêu nhiên của Chúa Giêsu Kitô con Đức Trinh Nữ Maria, tin vào cái chết của Ngài trên thập giá và sự phục sinh của Ngài từ cõi chết. Nhưng có phải tất cả họ đều ý thức rằng quan niệm về Chúa Giêsu trong cung lòng của Maria không có gì giống như mỗi người chúng ta? Thực sự, chúng ta tất cả là thụ tạo, trong khi đó Chúa Giêsu là Đấng Tạo Hóa. Chúa Giêsu không phải được tạo nên từ lúc thụ thai và chín tháng sau chào đời, nhưng Ngài đã tồn tại từ cõi đời đời, và luôn là nguồn gốc của mọi thứ; sự thụ thai trong bụng của Maria là nhập thể Con Thiên Chúa trong xác thịt con người, nhưng trong mọi trường hợp, không phải là một tạo vật mới. Chỉ đơn giản Chúa Giêsu đồng ý đi theo trong suốt thời gian trần thế trong toàn bộ hành trình của một con người bình thường, từ khi thụ thai đến khi chết.
Vì Chúa Giê-su đã tác động trong vũ trụ trước khi đến thế gian, chúng ta có thể mong đợi những gì Cựu Ước nói về Ngài; trong thực tế, Cựu Ước liên tục nói về Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã mặc khải với Thiên Chúa Cha và với Chúa Thánh Thần. Mặc dù những người trong Cựu Ước không biết mặc khải rõ ràng về Chúa Giêsu là ai, ngày nay chúng ta có thể nhận ra, dưới ánh sáng của Tân Ước, nhiều đoạn của Cựu Ước nói về Ngài. Các ngôn sứ đã soạn thảo Cựu Ước được Đức Chúa Thánh thần soi dẫn và không phải lúc nào cũng hiểu được sức mạnh mặc khải mà họ truyền tải. Giao ước mới cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về thực tế về sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô trong các văn bản của Giao ước cũ.
Chúng ta sẽ nghiên cứu ba đoạn văn trong Cựu Ước, trong đó hiện diện của Chúa Giêsu được nhận biết rất rõ ràng ngày nay.
2. Những bản văn Cựu ước nào đã dự kiến Đức Ki-tô đến?
Có nhiều sấm truyền trong Cựu Ước liên quan đến Chúa Giêsu Kitô. Một số nhà chú giải đã liệt kê nhiều chứng ta ngôn sứ về Đấng Thiên sai. Sau đây là những bản văn được coi là rõ ràng nhất và quan trọng nhất:
a. Về sự ra đời của Chúa Giê-su
Is 7,14:Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.
Is 9,5:Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.
Mk 5,1:Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa.
b. Về sứ vụ và cái chết của Chúa Giê-su
Dcr 9,9:
Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ!
Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò!
Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi:
Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng,
khiêm tốn ngồi trên lưng lừa,
một con lừa con vẫn còn theo mẹ.
Thánh vịnh 22,17-19:
[17]quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa,
chúng đâm con thủng cả chân tay,
[18]xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.
[19]Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn.
Sấm ngôn liên quan đến Chúa Giêsu rõ ràng nhất được chứa trong toàn bộ chương 53 của sách I-sa-i-a. Đặc biệt câu 3-7:
[3]Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.
[4]Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.
[5]Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.
[6]Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng ĐỨC CHÚA đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.
[7]Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.
Sấm ngôn "70 tuần”trong Đn 9 đã tiên đoán ngày chính xác mà Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai sẽ bị "loại bỏ".
Dcr 9,24-27:
[24]Bảy mươi tuần đã được ấn định cho dân và thành thánh của ngươi, để chấm dứt gian tà, xoá sạch tội ác, đền xong lỗi lầm, để đem lại sự công chính vĩnh cửu, để thị kiến và lời ngôn sứ được ứng nghiệm, và để xức dầu Nơi Cực Thánh.
[25]Vậy ngươi hãy biết và hiểu: từ khi lời được ban ra nhằm xây dựng lại Giê-ru-sa-lem cho tới khi vị thủ lãnh được xức dầu xuất hiện, thì có bảy tuần. Trong sáu mươi hai tuần, phố xá và thành luỹ sẽ được tái thiết, nhưng được tái thiết trong thời buổi cùng quẫn.
[26]Sau sáu mươi hai tuần, một vị được xức dầu sẽ bị thủ tiêu; vị ấy sẽ không có... Thành đô và thánh điện sẽ bị dân của một thủ lãnh đến phá tan. Nhưng thủ lãnh này sẽ bị cuốn đi mất. Cho đến cùng, sẽ diễn ra chiến tranh và những cảnh tàn phá đã được quyết định.
[27]Nội một tuần, nó sẽ củng cố minh ước với số người đông đảo. Trong nửa tuần, nó bắt phải ngưng hy lễ và hiến lễ, nó đặt bên cánh Đền Thờ đồ ghê tởm khốc hại cho đến khi lệnh tiêu huỷ đã được quyết định giáng xuống kẻ tàn phá.”
Is 50,6 mô tả chính xác những cú đánh mà Chúa Giêsu đã nhận:
"Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ".
Dacaria 12,10 dự đoán rằng Đấng Thiên Sai sẽ bị "đâm", như trường hợp sau cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá:
"Ta sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, giúp chúng biết sống đẹp lòng Ta và tha thiết cầu nguyện. Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta. Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng".
Nhiều ví dụ khác có thể được đưa ra, nhưng những điều này là đủ. Cựu Ước tuyên bố rõ ràng sự xuất hiện của Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.
II. - SỰ TẠO DỤNG VŨ TRỤ
1. Sáng thế 1
11Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất...3Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.”Liền có ánh sáng...6Thiên Chúa phán: “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước.”...
9Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra.”...
11Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống.”...
14Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm...20Thiên Chúa phán: “Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời.”...24Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại.”...
26Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, ... ”27Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình...
Những câu thấy trong chương đầu tiên của Sáng thế, được giải thích bởi lời mở đầu của Tin mừng theo thánh Gioan:
2. Ga 1,1-18
"11Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.2Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.3Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành4ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.5Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.6Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an.7Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin.8Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.9Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.10Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người.11Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.12Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.13Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.14Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.15Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”16Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.17Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. 18Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết ".
Tân Ước (Gioan) giải thích Cựu ước (Sáng thế). Bất cứ khi nào Chúa nói (Chúa nói: ...), đó là Chúa Giêsu đang làm việc, vì Chúa Giêsu là lời của Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã có mặt trong sự sáng tạo của vũ trụ, Ngài là nguồn gốc của sự sáng tạo này và sự sáng tạo này là dành cho Ngài. (Cô-lô-sê 1,16).
3. Sự tạo dựng và sự tạo dựng mới do Thánh ý Thiên Chúa và Lời của Ngài
Chúa Kitô đã can thiệp trong sự sáng tạo. Ngài tiếp tục hành động trong sáng tạo mới. 33 đoạn văn Tân Ước trích dẫn Sáng thế 1 hoặc liên quan đến nó. Dưới đây là một số ví dụ quan trọng:
Hr 11,3 và Ga 1,1-3 nhắc đến Sáng thế 1,1
St 1,1: Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất . | Hr 11,3: Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có. |
Ga 1,1-3:1Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. 2Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. 3Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành |
2 Pr 3,5 nhắc đến St 1,3. 6 và 9
St 1,3. 6. 9:3Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.”Liền có ánh sáng. 6Thiên Chúa phán: “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước.” 9Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra.” Liền có như vậy. | 2 Pr 3,5: Thật vậy, họ không muốn biết rằng từ lâu đã có trời và đất, và đất từ nước mà ra và nhờ nước mà đứng vững do lời của Thiên Chúa. |
1 Tm 4,4 nhắc đến St 1,31
St 1,31:
31Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
1 Tm 4,4:
Thật vậy, tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ.
Tin mừng theo thánh Gio-an âm vọng Sáng thế 1
- Chúa Giê-su Ki-tô là Lời Thiên Chúa
Gio-an xác định Chúa Giêsu Kitô là Lời Thiên Chúa nhờ đó mọi việc đã được thực hiện. Chúa Kitô đã ở đó ngay từ đầu, ngay cả trước khi bắt đầu sáng tạo. Ngài là một với Thiên Chúa, Ngài là Đấng Tạo Hóa chủ quyền.
- Hình ảnh Thiên Chúa, trưởng tử của mọi tạo vật, Đấng sáng tạo của Thiên Chúa, Cl 1,15-17:
15Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo,
16vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng
nhờ Người và cho Người.
17Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người.
Hai danh hiệu của Chúa Giêsu Kitô đưa ra một viễn cảnh quan hệ giữa sự sáng tạo và sự cứu chuộc.
* Là hình ảnh Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô là mối liên kết giữa Đấng sáng tạo và thụ tạo.
* Khi kết hợp với Đấng sáng tạo, Ngài mặc khải Thiên Chúa cho loài thụ tạo.
- Trưởng tử nghĩa là tiền hiện hữu và không phải là tạo vật
Trưởng tử không có nghĩa là Chúa Giêsu là một sinh vật hay thấp kém hơn Thiên Chúa. Đó là một diễn đạt của người Do Thái ngụ ý về tiền hiện hữu.
- Phục hồi hình ảnh Thiên Chúa trong con người
Vì Chúa Giêsu Kitô là hình ảnh Thiên Chúa, nên Kitô hữu được kêu gọi phải phù hợp với Chúa Kitô. Sự thống trị duy nhất trên người Kitô hữu là thẩm quyền Chúa Kitô; trong hình thức một tôi tớ khiêm tốn.
- Đức Ki-tô, nguyên tố sáng tạo của Thiên Chúa
Cl 1,16:
16vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng
nhờ Người và cho Người.
Chúa Kitô là tác nhân hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa, khung quy chiếu cho sự sáng tạo. Tất cả mọi thứ được tạo dựng bởi Ngài, và trong Ngài, có nghĩa là, quy chiếu đến Ngài hoặc liên quan đến Ngài.
- Nguồn gốc vũ trụ trong Đức Ki-tô, để tôn vinh Đức Ki-tô
Cl 1,17-18:
“17Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người .
18Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu."
Chúa Kitô không chỉ là nguồn gốc của vũ trụ. Ngài cũng là cùng đích.
Tất cả mọi thứ được tạo dựng cho Ngài, có nghĩa là, phải phục tùng Ngài và tôn vinh Ngài. Mọi sự hiện hữu trong Ngài (câu 17).
Động từ quá khứ hoàn thành của Hy Lạp diễn tả một hoạt động tiếp tục. Tất cả mọi sự tiếp tục và giữ vững kết nối với nhau trong Chúa Kitô. Ngài là nền tảng duy nhất của sự hiệp nhất của vũ trụ và cùng đích của nó.
- Đức Ki-tô là trung tâm của vũ trụ
* Trong uy quyền sáng tạo các phép lạ Ngài làm
Tầm quan trọng của Chúa Kitô trong sáng tạo ở trong quyền năng sáng tạo thể hiện trong các phép lạ của Ngài. Bệnh nhân được chữa lành, người chết được hồi sinh, những cơn bão lặng yên, cho thấy Ngài khôi phục lại trật tự và sự hài hòa trong cơ thể con người hoặc các hệ thống thiên nhiên bị xáo trộn.
* Trong giảng dạy của Ngài Mt 6,9-10:
9“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,10triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Thiên Chúa, với một từ đơn giản, đã tạo ra vương quốc của mình trên trái đất. Do đó, chúng ta có thể tin tưởng Ngài vì Ngài chăm sóc chúng ta. Chúa Giêsu dạy trong Bài giảng trên núi rằng cha Ngài có chủ quyền và sẽ chăm sóc chúng ta.
* Ngài dạy chúng ta đặt niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng chăm sóc chúng ta Mt 6,25-26:
“25Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?26Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?"
- Đức Ki-tô là hình ảnh của vinh quang Thiên Chúa 2 Cr 4,6
6Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.
Chúng ta có thể thiết lập song song giữa ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa trên khuôn mặt của Chúa Kitô, ánh sáng tỏa sáng hôm nay trong tâm hồn chúng ta và ánh sáng chiếu rọi vào bóng tối trên đó Thánh thần Thiên Chúa bay lượn lúc sáng tạo (St 1,3).
Sự tạo dựng và sự tạo dựng mới trong Rm 8, 18-22
18Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.19Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người.20Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy21là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.22Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở
- Đau khổ của thiên nhiên, ước muốn kết thúc sự nô lệ
Phao-lô sử dụng một hình ảnh kỳ lạ: sự đau khổ của thiên nhiên khao khát với một ước mơ mãnh liệt về việc chấm dứt nô lệ (ràng buộc).
* Sự nô lệ của thiên nhiên thành "Phù phiếm”hoặc "phù vân", thiếu ý nghĩa, thiếu mục đích.
Gv 1,2: "Ông Cô-he-lét nói: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân".
Rm 8,20: Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy.
Ngược lại với từ "telos”(cùng đích)", từ Hy-lạp "mataiôtès “(c. 20), có ý nghĩa là "phù phiếm”hoặc "phù vân", vô nghĩa và thiếu mục đích.
Kết hợp vói Giảng viên 1,2: "phù vân”chính là nô lệ cho vô nghĩa, thiếu cùng đích.
- Rên la và đau đớn lúc sinh con
Sáng tạo không có khả năng hoàn thành mục đích là hậu quả trực tiếp của rối loạn bắt đầu trong St 3,17: “Với con người, Chúa phán: “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: ‘Ngươi đừng ăn’, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra".
Người đặt sự sáng tạo vào tính phù vân, chính là Thiên Chúa
- Trách nhiệm nhân loại: thụ tạo bị tước đoạt vì bất tuân
Trách nhiệm của sự "phù phiếm”thuộc về nhân loại.
Sự bất tuân ngăn cản trật tự thiên nhiên hoàn thành mục đích. Thụ tạo bị tước đoạt sự hoàn thành đích thực khi con người vẫn không thể góp đích thực.
Thiên Chúa đặt sáng tạo dưới phù vân không loại trừ hy vọng Rm 8,20-21:
20Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy21là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.
Tuy nhiên, Thiên Chúa đã cho con người một niềm hy vọng: chính sự sáng tạo sẽ được giải thoát khỏi sức mạnh hư mất khiến thụ tạo thành nô lệ để tiếp cận với tự do mà con cái Thiên Chúa sẽ biết trong vinh quang.
- Hòa giải với tất cả thụ tạo
Rm 8,22: “Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở."
Nỗi khổ hiện tại của sáng tạo là "những tiếng rên rỉ và đau đớn khi sinh nở". Cuối cùng chúng sẽ nhường chỗ cho niềm vui và sự viên mãn.
Rm 8,23: "Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa."
Nhờ sự cứu chuộc, hòa giải của nhân loại không chỉ sẽ được thực hiện hay chuộc lại bởi chính Thiên Chúa, mà còn là sự hòa giải của toàn bộ trật tự tạo dựng. Chính sự sáng tạo, tham gia vào "tự do vinh quang”mà Phao-lô hình dung cho con cái của Thiên Chúa
Đức Ki-tô Đấng chủ quyền trên trật tự vũ trụ trong sách Khải huyền
- Đức Ki-tô, chứng nhân của sự sáng tạo mới: Kh 1,4-5
4Tôi là Gio-an kính gửi bảy Hội Thánh A-xi-a. Xin Đấng hiện có, đã có và đang đến, xin bảy thần khí hiện diện trước ngai của Người,5xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta
Đức Ki-tô Sáng tạo, Alpha và Omega
Kh 1,8: Đức Chúa là Thiên Chúa phán: “Ta là An-pha và Ô-me-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng.”
Chúa Kitô, Đấng Tạo Hóa, Alpha và Omega,khởi đầu và kết thúc, đầu tiên và cuối cùng (Khải Huyền 1,8) được Gio-an trích dẫn là nhân chứng trung thành (Khải Huyền 1,5) trong Kh 3,14:
"Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Lao-đi-ki-a: Đây là lời của Đấng A-men, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng."
Như nhân chứng của giao ước mới, lễ Ngũ tuần, trong Thánh Thần Thiên Chúa.
Như trong giao ước cũ trên núi ving quang núi Si-nai.
Như trong Thần trí vinh quang của Sáng thế 1,2: “Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước."
Hy vọng trong sách Khải huyền và sự Sáng tạo trong St 1,1
Trời mới và đất mới thay thế những trời đất đầu tiên (Khải huyền 21, 1a, St 1,1).
Kh 211Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa.
- Bóng tối (St), không còn biển (Khải huyền)
Đêm đen và bóng tối của St 1,2 phản chiếu trong Khải Huyền 21,1a: không có biển trong vũ trụ mới.
- Đổi mới sáng tạo trong toàn thể
Gio-an hứa hẹn một trời mới và đất mới, nghĩa là sự biến đổi và đổi mới của toàn bộ sự sáng tạo.
- Thành phố Thánh thiêng hòa giải con người và thiên nhiên
Kh 21,2-4:2Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuốngt, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang.3Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ.4Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”
Kh 21,1-2:Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa.2Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuốngt, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang.
III. KHÔN NGOAN
1. TÓM TẮT NHỮNG GÌ CHÚNG TA ĐÃ BIẾT
1. Khôn ngoan: nghệ thuật thành công cuộc sống
- Qua các sách khôn ngoan chúng ta vừa đọc, các hiền nhân đa dạng, trong các sách Châm ngôn, Gióp, Cô-he-lét, Ben Sira, tác giả sách Khôn ngoan của Sa-lô-môn, đều có ý muốn cho con dân tìm khôn ngoan trong cuộc sống, để sống và cũng để đón nhận những thử thách đau khổ có thể làm con người thất vọng. Mỗi người cố gắng đạt được từ những điều tối thiểu và đơn giản trong cuộc sống, như kỹ năng, hiểu biết, tư duy, lựa chọn, ứng xử trong xã hội, cách sống trong quốc gia và bổn phận đối với Thiên Chúa đến những tư duy sâu sắc trả lời cho những câu hỏi hiện sinh, trong tất cả các tình huống của cuộc sống.
- Để giúp đa số con người chỉ biết làm ăn sinh sống đời thường trong một xã hội, một tôn giáo và một dân tộc đặc biệt, dân tộc Thiên Chúa tuyển chọn, tìm thấy con đường an bình và hạnh phúc. Các hiền nhân thông minh, có năng khiếu quan sát, có óc suy luận và tìm tòi, ham thích đọc sách và du lịch, và nhất là trung thành với lề luật Thiên Chúa, đã ước muốn tìm ra những nguyên tắc cụ thể, những thước đo trong cuộc sống, những khuôn vàng thước ngọc và họ cũng có tài năng văn chương để truyền tải hiệu quả cho các môn sinh cũng như những người muốn nghe và đọc họ.
- Các hiền nhân không những là những người uyên bác, có đầu óc cầu tiến và lạc quan, nhưng còn là những văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, học giả minh triết, thần học gia để có thể soạn trong các thể loại văn chương gần và hợp với quần chúng:Meshal, meshalim. Nhưng đặc biết nhất, họ là những con người khiêm tốn, biết giá trị và giới hạn con người và chính mình.
2. Các giới hạn của khôn ngoan nhân loại
- Nhận biết khiêm tốn cho chính mình, họ cũng ý thức về giới hạn của họ và của tất cả nhân loại. Tuy mọi người thông thái và khôn ngoan luôn tìm kiếm khôn ngoan ví như vàng ròng và những viên ngọc hiếm, họ cưng biết rằng hiện sinh con người là một mầu nhiệm thoát khỏi đôi mắt và trí óc nhỏ bé của họ. Và sự cao cả của họ, chính là dám nhận biết sự thật đáng sợ và dám nói: khôn ngoan nhân loại có tính cách căn rễ giới hạn. Giới hạn trong mọi mặt và mọi hoàn cảnh.
- Chúng ta hãy tự đánh giá những giới hạn đó qua các trích dẫn sau đây trong sách Châm Ngôn:
19,14Cửa nhà, tài sản là gia nghiệp của cha ông, còn người vợ khôn ngoan là do ĐỨC CHÚA.
21,31Chiến mã được chuẩn bị cho ngày giao tranh, nhưng thắng bại thuộc quyền ĐỨC CHÚA.
26,12Nếu con gặp một kẻ tự cho mình là khôn, thì thà hy vọng vào đứa ngu còn hơn.
28,11Kẻ giàu có cứ tưởng mình khôn, nhưng người nghèo mà sáng suốt thì biết rõ kẻ ấy.
161Suy nghĩ lo toan là việc của con người, còn nói câu trả lời là do ĐỨC CHÚA.
2Con người cho lối sống của mình là trong sáng, nhưng ĐỨC CHÚA thấu suốt mọi tâm can.
19,21Lòng con người ấp ủ bao dự tính, duy kế hoạch của ĐỨC CHÚA mới trường tồn.
- Trong Ngôn Sứ Ê dê ki en:
28,5Vì ngươi rất khôn ngoan và có tài buôn bán, nên của cải ngươi đã tăng lên và ngươi sinh lòng
tự cao vì lắm của.6Bởi vậy, Chúa Thượng là ĐỨC CHÚA phán thế này: Vì ngươi dám cho mình ngang hàng với thần thánh,
- I-sa-i-a:
21Khốn thay những kẻ coi mình là khôn ngoan, và cho mình là thông minh,
- Giê-rê-mi-a
4,22Dân Ta quả thật là ngu xuẩn, chúng không nhận biết Ta. Chúng là những đứa con dại dột, là những kẻ tăm tối u mê. Chúng chỉ khéo làm điều dữ, chứ chẳng biết làm điều lành.
3. Khôn ngoan, quà tặng của Thiên Chúa
Is 11,2: Thần khí ĐỨC CHÚA sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ ĐỨC CHÚA.
Tv 104,2: Công trình Ngài, lạy CHÚA, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.
G 12,13: Nhưng i nơi Thiên Chúa có cả okhôn ngoan lẫn sức mạnh, mưu lược cũng như tài thông hiểu đều thuộc về Người.
Hc 1,8-10:8Chỉ có một Đấng khôn ngoan rất đáng sợ, ngự trên ngai của Người.
9Đó chính là Đức Chúa. Người đã tạo dựng, đã thấy, đã đếm và làm cho khôn ngoan nổi bật trên mọi công trình,10nơi mọi phàm nhân, theo lòng quảng đại của Người, và Người đã rộng ban khôn ngoan cho những ai yêu mến Người.
II. CÁC BẢN VĂN CỰU ƯỚC: KHÔN NGOAN NHÂN VẬT HÓA
- Chúng ta chỉ nhắc lại ở đây các bản văn chúng ta đã có dịp đọc qua khi học các sách liên quan. Qua các bản văn Cựu Ước này, người Ki-tô hữu nhận ra rằng Đức Khôn Ngoan, gắn liền với Thiên Chúa, lấy các hình dung và tính cách người ta có thể hòa nhập vào Mặc khải của Thiên Chúa cho con người và cuối cùng là sự Hiện diện của chính Thiên Chúa trên thế gian, ở giữa chúng ta và trong chúng ta.
1. Châm Ngôn 8
8,1-3:
- Đức Khôn Ngoan là Ai? Một khuôn mặt phụ nữ, một đấng lên tiếng kêu gọi, là Lời. Quan trọng là chính Đức Khôn Ngoan tự lên tiếng trước. Một diễn văn đích thực, chứ không phải chỉ là một trao đổi với một vài kiến thức. Đức Khôn Ngoan không trả lời cho ai, cũng như không ai mời Đức Khôn Ngoan, chính Đức Khôn Ngoan lên tiếng với toàn uy quyền của mình.
- Đức Khôn Ngoan lên tiếng ở đâu? Một không gian trước các cửa thành, một nơi chốn quy tụ tất cả những ai qua lại. Người ta cũng thường tụ họp những nơi này cho các hội họp phụng vụ. Đức Khôn Ngoan không dành cho một nhóm người trí thức, nhưng cho tất cả mọi người.
8,4-11:“[4]Phàm nhân hỡi, ta mời gọi các ngươi đó". Chúng ta lưu ý đến các từ in đậm trong bản văn: ta ngỏ lời với các ngươi, hỡi con cái loài người.
A:[5]Hỡi những kẻ ngây thơ, hãy học cho biết điều khôn khéo;
hỡi những người ngu xuẩn, hãy học cho biết lẽ phải chăng.
B:6Nghe đây, ta sẽ công bố những lời cao quý,
môi ta sẽ thốt lên những điều ngay thẳng.
C:7Miệng ta nói sự thật, môi ta ghê tởm chuyện gian tà.
8Mọi lời ta nói ra đều ngay chính,
không có chi sai lạc, chẳng có gì quanh co.
B':9Đối với ai am hiểu, mọi lời của ta đều đứng đắn;
đối với người có được tri thức, mọi lời của ta đều ngay thẳng.
A':10Hãy đón nhận lời nghiêm huấn của ta quý hơn cả bạc,
hãy đón nhận tri thức quý hơn vàng ròng.
11Khôn ngoan đáng quý hơn cả trân châu,
không báu vật nào so sánh nổi.”
- Tác giả đã hình thành một cấu trúc đồng tâm. Câu 4 nằm ngoài cấu trúc, vì là lời mời gọi dành cho tất cả mọi người, không phân biệt. Ý nghĩa câu 4 chỉ nhắc lại những điều đã nói đến trong phần dẫn nhập của chương 8.
- Trung tâm (c. 7-8) cho chúng ta hai khái niệm chính: Chân lý và công lý, hai thuật từ là thuộc tính của Thiên Chúa. Những từ này thấy ở trong Sách Đệ Nhị Luật:
Đnl 32,4-5:4Người là Núi Đá: sự nghiệp Người hoàn hảo, vì mọi đường lối Người đều thẳng ngay. Chúa tín thành, không mảy may gian dối, Người quả là chính trực công minh.5Những đứa con mà Chúa đã sinh ra không tỳ ố lại lỗi đạo với Người, ôi nòi giống lưu manh tà vậy!
8,12-21:
12“Ta là Khôn Ngoan, ta làm bạn cùng mưu trí,
ta biết đường suy tính đắn đo.
13(Kính sợ ĐỨC CHÚA là gớm ghét điều dữ).
Thói kiêu căng ngạo mạn, và lối sống bất lương
cũng như những lời gian manh, tráo trở,
đó là những điều ta chê ghét.
14Ta nắm mưu lược và thành công, ta có hiểu biết và sức mạnh.
15Chính nhờ ta, mà vua chúa biết cầm quyền trị nước,
các thủ lãnh có những phán quyết công bằng.
16Cũng nhờ ta, hàng lãnh đạo biết cách điều khiển,
giới cầm quyền biết xét xử công minh.
17Kẻ yêu ta sẽ được ta yêu lại, người tìm ta ắt sẽ gặp ta.
18Bên cạnh ta là giàu sang, danh giá, là phú quý bền lâu và thịnh vượng.
19Trái trăng ta cho hưởng quý hơn cả vàng ròng, hoa lợi ta tặng ban tốt hơn bạc nguyên chất.
20Ta bước đi trên lối công bằng, đi giữa nẻo công minh chính trực,
21để làm giàu cho những kẻ yêu ta, khiến kho tàng của họ thêm phong phú.
- Đức Khôn Ngoan tự định nghĩa chính mình: phần lớn các từ ở đây, tìm thấy trong Is 11,2; G 12,13-16. Và nhất là trong Is 11,2 đó là Thần Khí Thiên Chúa ngự trên nẩy chồi của nhà Giê-sê, cha vua Đa-vít: Thần khí ĐỨC CHÚA sẽ ngự trên vị này:thần khíkhôn ngoan và minh mẫn,thần khí mưu lược và dũng mãnh,thần khí hiểu biết và kính sợ ĐỨC CHÚA.
- Lưu ý các động từ "tìm kiếm”và "yêu": Khôn ngoan 6,12 có lẽ lấy cảm hứng từ Cn 8,17.
Kn 6,12: Đức Khôn Ngoan sáng chói, và không hề tàn tạ. Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng. Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp.
- Trong Ga 14,21 Chúa Giê-su nói:Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.
- Trong phần này, Đức Khôn Ngoan tự giới thiệu mình, tự mặc khải. Thể loại tự mặc khải được dùng trong vài diễn văn của YHWH: St 28,13-15; Xh 3,4-10; 20,1tt; Is 44,24-28; 45,6b-8. Các diễn văn này liên quan đến sự cứu độ Ít-ra-en. Trong khi đó, Đức Khôn Ngoan tự mặc khải cho mọi người trên thế giới (tính phổ quát).
8,22-31: YHWH, ĐỨC KHÔN NGOAN, THẾ GIỚI VÀ CON NGƯỜI
22“ĐỨC CHÚA đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người,
trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất.
23Ta đã được tấn phong từ đời đời, từ nguyên thuỷ, trước khi có mặt đất.
24Khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có mạch nước tràn đầy, ta đã được sinh ra.
25Trước khi núi non được đặt nền vững chắc, trước khi có gò nổng, ta đã được sinh ra,
26khi ĐỨC CHÚA chưa làm ra mặt đất với khoảng không, và những hạt bụi đầu tiên tạo nên vũ trụ.
27Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời, khi Người vạch một vòng tròn trên mặt vực thẳm,
28khi Người làm cho mây tụ lại ở trên cao và cho các mạch nước vọt lên từ vực thẳm,
29khi Người định ranh giới cho biển, để nước khỏi tràn bờ, khi Người đặt nền móng cho đất.
30Ta hiện diện bên Người như tay thợ cả. Ngày ngày ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, ta không ngớt vui chơi,31vui chơitrên mặt đất, tađùa vui với con cái loài người.
- Nguồn gốc của Đức Khôn Ngoan là YHWH. Pvcgk dịch ra từ híp-ri dịch là "dựng nên", người ta vẫn tranh luận về động từ qnh, có lẫn lộn giữa động từ "tạo dựng”và "có được”ở đây không?
- hn"q': qal: pf. Œq, ht'n>q'(, t'ynIq', yt'ynIq' R 4,5 ( = Qr t'-, Kt yti-), WnynIq', sf. Whn"q', ^n<òq'; impf. hn39,1; — 2. buy St 47,20; — 3. spec.: buy as a wife R 4,10; ransom, redeem slaves Nkm 5,8; acquire wisdom & c. Cn 4,5; — 4. God subj.: redeem Is 11,11.
- Vậy Đức Khôn Ngoan đến từ Thiên Chúa và duy nhất là Thiên Chúa. Chính Ngài đã "dệt”nên. Biểu đạt kỳ lạ đối với chúng ta ngày nay, nhưng biểu đạt híp-ri cho chúng ta một ý nghĩa khác là thai nghén.
G 10,11: Ngài ođắp lên con bằng da bằng thịt, rồi lấy gân lấy cốt mà dệt mà thêu.
Tv 139,13: Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
- Các câu 22-23 chỉ rõ lúc thai nghén Đức Khôn Ngoan, với nhiều biểu đạt định nghĩa uy quyền của Đức Khôn Ngoan trên tất cả các công trình của Thiên Chúa.
- Các câu 30b-31: Đức Khôn Ngoan "vui chơi”và "đùa vui”trước Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan là gạch nối vui tươi giữa Thiên Chúa và nhân loại.
8,32-36: "VÀ BÂY GIỜ..."
32“Giờ đây, hỡi các con, hãy nghe ta. Phúc thay người bước theo đường lối ta chỉ bảo.
33Muốn nên khôn, phải nghe lời nghiêm huấn, đừng bao giờ gạt bỏ.
34Phúc thay người lắng nghe ta dạy, ngày ngày canh thức trước cửa nhà ta, túc trực ở ngay lối ra vào.
35Vì gặp được ta là gặp sự sống, và hưởng ân lộc ĐỨC CHÚA ban cho.
36Còn ai phạm đến ta là làm hại chính mình, mọi kẻ ghét ta là yêu cái chết.”
- Câu 32 nhắc lại rằng Đức Khôn Ngoan gởi đến tất cả mọi người (con và con người, c. 34).
- Động từ quan trong ở đây là động từ "lắng nghe”(3 lần 8,32. 33. 34; xem 8,6-10)
- Lắng nghe được cũng cố bởi thuật từ "phúc", đối lập với một loại “nguyền rủa”(8,36): lắng nghe-phúc thay-lắng nghe-phúc thay. Trước khi triển khai các phúc trong các câu 34-35.
- Ai là những người hưởng phúc của Đức Khôn Ngoan? Không phải những người đi cầu xin, hay các quan chức hoàng gia, nhưng là những ai lắng nghe chăm chỉ Đức Khôn Ngoan. Và họ sẽ gặp được sự sống và ân huệ của Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan là sự sống và ai không đến với Đức Khôn Ngoan, sẽ đi đến cái chết (7,1-27). Đối lập được thấy trong Cn 1,32-33; 2,21-22; 3,32-35.
Câu 35-36 nhắc chúng ta sự lựa chọn sách Đệ Nhị Luật đề nghị:
Đnl 30,15-20:15Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh (em) chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ.16Hôm nay tôi truyền cho anh (em) phải yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc, và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc cho anh (em) trong miền đất anh (em) sắp vào chiếm hữu.17Nhưng nếu anh (em) trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lạy các thần khác và phụng thờ chúng,18thì hôm nay tôi báo cho anh (em) biết: chắc chắn anh (em) sẽ bị diệt vong, sẽ không được sống lâu trên đất mà anh (em) sắp sang qua sông Gio-đan để vào chiếm hữu.19Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống,20nghĩa là hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), nghe tiếng Người và gắn bó với Người, vì như thế anh (em) sẽ được sống, sống lâu mà ở lại trên đất ĐỨC CHÚA đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho các ngài.”
Sau đó sách Huấn Ca 15,17:Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó.
2. Châm Ngôn 9,1-6
1Đức Khôn Ngoan đã xây cất nhà mình, dựng lên bảy cây cột,
2hạ thú vật, pha chế rượu, dọn bàn ăn3và sai các nữ tỳ ra đi. Đức Khôn Ngoan còn lên các nơi cao trong thành phố và kêu gọi:4“Hỡi ngườingây thơ, hãy lại đây!”Với người ngu si, Đức Khôn Ngoan bảo:
5“Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế!
6Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết.”
- Đức Khôn Ngoan xây nhà của mình, với 7 cây cột.
- Bữa ăn của Đức Khôn Ngoan: ai là thực khách? Những người nghèo hèn và thấp bé: ngây thơ và ngu si?
- Ăn bánh và uống rượu do chính Đức Khôn Ngoan.
Is 55,1-3:1Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào.2Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng?
Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị.
3Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít.
3. Huấn Ca 24
4. Ngợi ca Đức Khôn Ngoan - Kn 7-9
5. Lời cầu nguyện của Sa-lô-môn để có được khôn ngoan - Kn 9
VI. TÂN ƯỚC VÀ KHÔN NGOAN
I. QUAN SÁT TIÊN QUYẾT
1. Các bản văn khôn ngoan trong Tân Ước
Danh sách các bản văn Tân Ước dưới đây không có ý cho rằng các bản văn khác của Tân Ước không mang tính khôn ngoan. Vì chính các dụ ngôn của Đức Ki-tô chứng tỏ Ngài cũng là một Đấng Khôn Ngoan.
Các bản văn dưới đây chỉ cho thấy tương quan giữa Đức Ki-tô và Đức Khôn Ngoan và từ khóa "khôn ngoan, sophia trong tiếng hy-lạp.
a. Các Tin Mừng và sách Công vụ:
Mt 11,19.25; 12,42; 13,54; 23,34-36; Mc 6,2; Lc 2,40. 52; 7,35; 10,21; 11,31; 11,49-51; 21,15.
Ga 1,1-18; Cv 6-7
b. Các thư và sách Khải huyền:
Rm 1,14. 22; 8,3; 11,33; 16,27; 1 Cr 1,17. 19. 20. 21. 22. 24. 25. 26. 27. 30; 2,1. 4. 5. 6. 7. 13; 3,18. 19. 20; 6,5; 8,6.; 2 Cr 1,12; Ga 4,4; Ep 1,8. 17; 3,10; 5,15; Cl 1,9. 28.; 2,3. 23; 3,16; 4,5; 2 Tm 3,15; Gc 1,5; 3,13. 15. 17.; 1 P 1,16; 3,15; Kh 5,12; 7,12; 13,18; 17,9.
II. TIN MỪNG NHẤT LÃM VÀ SÁCH CÔNG VỤ
Chúng ta thấy, khái niệm Đức Khôn Ngoan không đủ để nói lên mầu nhiệm cao cả của Đức Giê-su Ki-tô, con Thiên Chúa nhập thể. Các bản văn khôn ngoan Cựu Ước có ích trong việc soi sáng một vài khía cạnh của mầu nhiệm đặc biệt là trung gian của Chúa Giê-su và thân cận với con người.
Theo đuổi tìm kiếm của chúng ta trong các bản văn Tin Mừng Nhất lãm, chúng ta thấy từ sophia liên quan trục tiếp đến Đức Giê-su Ki-tô.
1. Chúa Giê-su, bậc Thầy Khôn ngoan
Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, chúng ta thấy các chuỗi bản văn trình bày Chúa Giê-su như vị Thầy Khôn Ngoan. Không chỉ vì Chúa Giê-su, trong diễn văn Phúc Thật, lên tiếng như một hiền nhân, nghĩa là dùng thể văn và từ vựng của các nhà khôn ngoan (dụ ngôn, bí nhiệm, cách ngôn,vv.), nhưng vì chính Ngài được xem như Ngôi Lời Khôn Ngoan:
Mt 13,54 (x. Mc 6,2 và Lc 4,22): Người về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế?
- Ở đây câu hỏi của người dân thật đáng chú ý và có ý nghĩa thần học trong trình thuật: câu hỏi đặt ra vấn đề khôn ngoan và nguồn gốc của khôn ngoan.
- Như thế "bởi đâu?”là một câu hỏi nền tảng, vì nhắm đến các điều kiện của một diễn văn khôn ngoan. "Bởi đâu?”có nghĩa là, có phải đến từ Thiên Chúa không? Nếu không phải từ Thiên Chúa, thì đến từ đâu?
- Một tương quan khác đáng chú ý: tương quan giữa phép lạ và khôn ngoan. Chúa Giê-su không chỉ là Đấng có những lời khôn ngoan, nhưng Ngài còn có những hành động nêu lên câu hỏi, vì các hành động đó không thể đến từ con người: "Do đâu Ngài thực hiện được các phép lạ?” Các người nghe Ngài đang làm những phân tích và phán đoán của họ. Nhận biết Chúa Giê-su không chỉ dựa trên diễn văn khôn ngoan ngài phát biểu, nhưng chính con người của Ngài, như Ngôi Lời Khôn Ngoan. Điểm này nhắc chúng ta các bài học về khôn ngoan trong sách Châm Ngôn 1-9: Hiền nhân khuyên các trai trẻ ngây thơ đừng cám dỗ theo những lời khuyến dụ, nhất là khi các lời này mang dáng vẻ chân lý. Người nói dối cũng có thể dùng những lời của hiền nhân! Và cũng như thế, các kẻ chuyên cám dỗ rất sành công việc này. Phải phán xét đến sự tương quan lô-gic giữa lời nói và hành động, giữa diễn văn và chính con người.
2. Cặp người khôn/kẻ bé mọn
Mt 11,25-26 (Lc 10,21): Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không chobậc khônngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.26Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.
Chúng ta so sách với ý tưởng chỉ có Thiên Chúa ban khôn ngoan cho con người với sách Đa-ni-en trong Cựu Ước, nhưng trong Lời của Đức Ki-tô, có đối lập giữa người khôn ngoan theo nghĩa phàm nhân và các kẻ bé mọn, nhận khôn ngoan nơi Thiên Chúa, Ngài là trung tâm của mặc khải khôn ngoan:
Đn 2,20-21:20bằng những lời sau đây: “Chúc tụng danh Chúa muôn muôn đời, vì Người là Đấng khôn ngoan và quyền năng.21Người là Đấng làm cho tứ thời bát tiết chuyển vần, Người phế lập các vua, Người ban sự khôn ngoan cho các nhà thông thái, ban tri thức cho người hiểu rộng biết nhiều.
3. Chúa Giê-su, Hiền nhân
Mt 12,38-42 (Lc 11,29-32):38Bấy giờ có mấy kinh sư và mấy người Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ.”39Người đáp: “Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giô-na.40Quả thật, ông Giô-na đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy.41Trong cuộc phán xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa.42Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa.
Lc 21,15: Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được.(Ở đây, chính Đức Giê-su hứa sẽ trợ giúp các chứng nhân của Người (x. Ga 14,18.21). Nhưng trong bản song song Lc 12,11-12 cũng như ở Mt 10,19-20 và Mc 13,11, đó là vai trò của Chúa Thánh Thần (x. Ga 15,26-27; 16,8-11).
- Các đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy tương quan trực tiếp của Chúa Giê-su với Đức Khôn Ngoan của các sách khôn ngoan.
- Mt 12,42 chứng tỏ rằng Ngài là vị thầy Khôn Ngoan và một số nhà chú giải còn cho rằng Ngài chính là Đức Khôn Ngoan: “mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa."
- Nếu vua Sa-lô-môn là biểu tượng khôn ngoan trong văn học Do thái, nhiều tác phẩm khôn ngoan gán cho vua Sa-lô-môn (1 V 3; Cn 1,1; 10,1; Hc 47,12-22).
a) Chúa Giê-su là Đấng Khôn Ngoan, nghĩa là Đấng vượt trên tất cả, ngay cả vượt trên Sa-lô-môn nữa.
b) Chúa Giê-su là Đức Khôn Ngoan đến thế gian.
c) Chúa Giê-su là Đấng Khôn Ngoan, nghĩa là Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Đấng Khôn Ngoan duy nhất và là nguồn tất cả khôn ngoan.
- Trong Tin Mừng Mat-thê-ô: Sa-lô-môn/Chúa Giê-su - Giô-na hoặc Đấng Khôn Ngoan/Ngôn sứ. Chúa Giê-su Đấng Khôn Ngoan và Ngôn sứ tuyệt vời là con người tích hợp thiên tính khôn ngoan và thiên tính ngôn sứ. Chúng ta không cần phân biệt ở đây vấn đề Ngài là Đấng Khôn Ngoan hay Một Ngôn Sứ, nhưng qua hai chức năng đó, Ngài cho con người biết đâu là nguồn gốc, con đường và sứ vụ của Ngài trên thế gian. Bản văn của Mat-thê-ô đã cho chúng ta một hướng rõ rệt: "Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giô-na". Thánh sử Mat-thê-ô đã thấy ở đây dấu chỉ của Con Thiên Chúa, tử nạn và phục sinh, và không xa lắm tư tưởng của 1 Cr 1,23-24:thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
III. TIN MỪNG GIO-AN
Gioan 1,1-18 | Huấn ca | Khôn ngoan | Châm ngôn | Ba-rúc |
1Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời | 24,9Người đã dựng nên Ta trước muôn đời, từ khởi thuỷ, và Ta sẽ tồn tại mãi đến muôn đời. 1,4Khôn ngoan đã được tác thành trước vạn vật | 9,4Xin rộng ban cho con Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên toà Chúa. | 8,22 8,30 | |
1bNgôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa 4ở nơi Người là sự sống | 11Tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa, và khôn ngoan vẫn ở với Người đến muôn đời. | 6,18Mà yêu mến là tuân giữ lề luật. Chú tâm tới lề luật của Đức Khôn Ngoan là bảo đảm được trường sinh bất tử. 19Trường sinh bất tử cho ta được ở bên Thiên Chúa. 8,17...thân thiết với Đức Khôn Ngoan là được trường sinh bất tử; | 8,35 | |
4và sự sống là ánh sáng cho nhân loại | 24,32Tôi sẽ làm cho lời dạy bảo rực sáng tựa bình minh, cho nó chiếu toả mãi tận chốn xa vời | 6,12 7,10 7,26 | 4,2Hỡi Gia-cóp, hãy quay trở về đón nhận Lề Luật, hãy dõi theo ánh sáng của Lề Luật | |
10Người ở giữa thế gian, | 24,3“Ta phát xuất từ miệng Đấng Tối Cao và như mây mù, Ta bao phủ cõi đất. 4Ta cắm lều trên nơi cao thẳm và đặt ngai Ta trên cột mây. 5Duy có mình Ta đi vòng cả bầu trời và rảo bước khắp vực sâu thăm thẳm. 6Trên sóng biển, trên toàn cõi đất, trên mọi nước mọi dân, Ta nắm trọn chủ quyền. | |||
10và thế gian đã nhờ Người mà có, | 8,6 9,1-2 | 3,19 8,30 | ||
10nhưng lại không nhận biết Người. | 3,31Đường khôn ngoan, nào ai biết được, nẻo khôn ngoan, mấy kẻ quan tâm? | |||
12thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. | ||||
4Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. | 24,8Bấy giờ, Đấng tác thành vạn vật truyền lệnh cho Ta, Đấng tạo thành Ta dựng lều cho Ta ở. Người phán: “Hãy cắm lều ở Gia-cóp, hãy hưởng phần sản nghiệp ở Ít-ra-en.” | 7,27 | 3,38 Rồi Đức Khôn Ngoan xuất hiện trên mặt đất và đã sống giữa loài người. |
VI. TÂN ƯỚC VÀ KHÔN NGOAN
IV. PHAO-LÔ VÀ KHÔN NGOAN
Các thư Phao-lô chứa đựng nhiều bản văn thuộc dòng văn khôn ngoan liên quan đến Chúa Giê-su Ki-tô. Chúng ta chỉ khảo sát ở đây hai bản văn cụ thể: 1 Cr 1-2 và Cl 1,15-20.
1. 1 Cô-rin-tô 1-2
a. Bản văn 1,17-31
------------
17Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Ki-tô khỏi trở nên vô hiệu.
18Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.
19Vì có lời chép rằng: Ta sẽ huỷ diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái.
20Người khôn ngoan đâu? Người học thức đâu? Người lý sự của thời này đâu? Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao?
------------
21Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin.22Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,
23thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ.
24Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
25Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái KHÔN NGOAN của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.
------------
26Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ KHÔN NGOAN trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái.
27Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ KHÔN NGOAN, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh;
28những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có,
29hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người.
------------
30Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự KHÔN NGOAN của chúng ta, sự KHÔN NGOAN phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em,
31hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.
------------
2. Cô-lô-xê 1,15-20
a. Bản văn
15Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo,
16vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.
17Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người.
18Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu.
19Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người,
20cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.
2. Đọc bản văn
a. Đức Kitô là Thiên Chúa
Trong 1,15 Phaolô viết: Thánh Tử, là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo. Ngài sử dụng từ eikon, được dịch là “hình ảnh". Hình ảnh ở đây có thể được hiểu theo hai nghĩa: “đại diện”(representation) hay là “sự tỏ hiện”(manifestation). Phao lô muốn nói rằng chính Đức Kitô là sự tỏ hiện trọn hảo của Thiên Chúa Cha, muốn biết Thiên Chúa Cha như thế nào thì chúng ta phải nhìn vào Đức Kitô. Đức Kitô cũng là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa Cha, Ngài tỏ hiện trong hình dáng chúng ta có thể hiểu, nhận biết và có thể thấy được.
Thiên Chúa phán khi tạo dựng con người: “Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta…(St 1,26-27). Từ “eikon”trong sách Sáng thế diễn tả rằng chính con người được tạo nên không là gì khác ngoài “eikon”của Thiên Chúa, ý nghĩa nhân sinh đích thực của con người.
b. Đức Kitô và các tạo vật
Thuyết Ngộ Đạo cho rằng thế lực thù nghịch với Thiên Chúa đã tạo dựng nên mọi sự. Phaolô khẳng định chính Chúa Con mới là ngọn nguồn của mọi tạo vật:
a.“Ngài là Trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo”(1,15). Phụng Vụ các Giờ Kinh chuyển dịch như vậy có thể làm cho chúng ta có thể lầm hiểu là Chúa Con được tạo dựng nên đầu tiên, nhưng trong tiếng Hípri và Hy Lạp thì từ “prototokos”(firstborn, trưởng tử), không mang ý niệm về thời gian. Có hai nghĩa cần lưu tâm: 1) “Prototokos”có nghĩa là danh dự hoặc một tước hiệu được ban cho. Ví dụ dân Ít ra en là trưởng tử của Thiên Chúa (Xh 4,22), nghĩa là dân Ít-ra-en mang vinh dự là dân được Chúa chọn, yêu thương và sủng ái. 2) “Prototokos”cũng là tước hiệu của Đấng Cứu Thế. Trong sách Thánh vịnh nói về lời hứa cho dân liên quan đến Đấng Cứu Thế: “Phần ta, Ta sẽ đặt Người làm Trưởng Tử, cao cả hơn vua chúa trần gian” (Tv 89,28). Khi Phaolô nói Đức Kitô là Trưởng tử của muôn loài, có nghĩa là vinh quang và danh dự của tất cả mọi loài đều thuộc về Ngài.
b.“Trong Người, muôn vật được tạo thành” (1,16a)(xem Ga 1,3; Hr 1,2), và Chúa Con là Đấng tác thành vạn vật. Phaolô đưa ra một loạt các tạo vật thuộc mọi tầng lớp và mọi loài: “trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình, dẫu là hàng dũng lực thần thiêng, hay là bậc quyền năng thượng giới…”, như một lời đáp trả lời dạy sai lạc của Thuyết Ngộ Đạo. Ngài khẳng định rằng chính Đức Kitô trổi vượt trên chuỗi truyền thể mà họ đưa ra, Ngài không phải là một vị thần trong chuỗi này.
c.“Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng, nhờ Người và cho Người” (1,16b). Đức Kitô không chỉ là ngọn nguồn của tạo vật, nhưng Ngài còn là đích đến của tạo vật. Lịch sử đang di chuyển đến một đích điểm, khi mọi tạo vật sẽ chúc tụng danh Chúa Giêsu (1 Cr 15,25, Pl 2,10-11, Kh 19,16).
“Cho Người” (Eis auton): có những người coi đây là mục đích Kitô học của công cuộc tạo dựng, nghĩa là vì Con và để cho Con được vinh quang mà Thiên Chúa tạo dựng mọi sự. Có những người khác lại cho rằng muôn loài được tạo thành để quy phục Con. Cả hai lối giải thích đều có giá trị. Các thư Phaolô thường chỉ dùng “Eis auton” cho Chúa Cha mà thôi, nhưng một điểm nối dài Kitô học chẳng gây thiệt thòi gì cho Chúa Cha cả.
d.“Tất cả đều tồn tại trong Người” (1,17). Nghĩa là Chúa Con không chỉ là ngọn nguồn, là khởi nguyên và đích đến của mọi tạo vật, nhưng ở giữa khoảng thời gian khởi nguyên và đích đến đó. Chính Ngài làm cho mọi vật được kết nối với nhau, chuyển động trong trật tự theo như ý của Ngài. Mọi quy luật vận động trong vũ trụ không chỉ là quy luật khoa học nhưng còn là quy luật thánh nữa.
Vì thế trong tương quan với các tạo vật, Chúa Con là khởi nguyên và là kết thúc. Ngài là sức mạnh làm cho mọi sự gắn kết và tồn tại. Ngài là Đấng Sáng tạo, là Đấng gìn giữ và là đích đến của muôn loài. Ngài là đấng cùng hành động với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng (Ga 1,3) và cũng trong tư cách là Đấng đứng đầu mọi sự (Hr 1,3).
c. Đức Giêsu trong tương quan với Hội Thánh
“Ngài là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (1,18c). Phaolô quay về với sự kiện trung tâm của đức tin và kinh nghiệm của Giáo Hội là sự Phục Sinh. Đức Kitô không chỉ là một nhân vật đã sống và đã chết như chúng ta được nghe và biết. Nhưng qua sự Phục Sinh, Ngài là Đấng đang sống, chúng ta đang gặp và có kinh nghiệm với Ngài, Ngài là Đấng đang sống ngay lúc này giữa lòng Giáo Hội.
“Để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu” (1,18d). Chính sự Phục Sinh của Đức Kitô làm cho Người trổi vượt trên tất cả mọi loài trên trời cùng dưới đất. Nhờ sự Phục Sinh, Ngài cho thấy rằng chính Ngài đã chiến thắng hết thế lực phản nghịch, không có một thế lực nào có thể thống trị được Ngài. “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người” (1,19). Trong Thuyết Ngộ Đạo, từ “pleroma”(fullness, viên mãn) liên hệ tới chuỗi các truyền thể là thế giới của các hữu thể thần thiêng được cho là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Nhưng khi thánh Phaolô dùng từ này ngài có ngụ ý nói đến quyền năng và ân sủng cứu độ tuyệt đối nơi Đức Kitô (Cv 5,31; 17,31). Trong tiếng Hy Lạp, từ “katoikesai”(dwell, hiện diện nơi) mang nghĩa là ở lại vĩnh viễn. Điều này trái ngược với các giáo thuyết sai lạc khi cho rằng Đức Kitô chỉ mang trong Ngài quyền năng thánh thiêng trong một khoảng thời gian nhất định. Từ “viên mãn” (fullness) ở đây chỉ ra rằng năng quyền của Đức Kitô trên Hội Thánh và muôn loài làvô tận. Quyền năng này Ngài có được là qua sự Phục sinh của Ngài hơn là đến từ bản tính Thiên Chúa trong Ngài.
d. Đức Kitô là trung gian hòa giải muôn loài với Chúa Cha
“Cũng như muốn nhờ Ngài, mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình, nhờ máu Người đổ ra trên thập giá Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (20). Mục đích Đức Kitô đến là để mang sự hòa giải, Ngài đến để hàn gắn lại vết rạn nứt giữa Thiên Chúa và con người. Một điều chúng ta cần phải nhớ đó là mục tiêu hòa giải vẫn là với Thiên Chúa. Kinh thánh Tân ước không nhắc đến việc Thiên Chúa được hòa giải nhưng luôn nói đến con người được hòa giải, vì Thiên Chúa chỉ luôn dành cho con người tình yêu mà thôi. Cái giá cho công cuộc hòa giải chính là máu đổ ra trên thập giá qua cái chết của Đức Kitô: “Ðến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32). Qua cái chết của Đức Kitô Thiên Chúa muốn diễn tả rằng Thập Giá chính là phương cách duy nhất để Ngài có thể chiến thắng được trái tim con người, Ngài mời gọi con người đáp trả tình yêu này.
Hòa giải mọi loài dưới đất thì có thể dễ hiểu, nhưng hòa giải mọi sự trên trời thì sao? Mọi loài trên trời có cần cứu độ hay không? Cũng có ý kiến cho rằng các tạo vật dẫu ở trên trời cũng cần phải được hòa giải với Thiên Chúa, như lời Kinh thánh trong Cựu ước: “Người bắt lỗi cả các thiên sứ của Người” (G 4,18), “Ngay các tầng trời, cũng chẳng thanh sạch trước mắt Người” (G15,15). Vì thế, ngay cả các thiên thần cũng cần được hòa giải qua thập giá Đức Kitô. Còn Origen thì giải thích rằng câu này ám chỉ đến Satan và bè lũ của nó, cuối cùng cũng phải nhờ công nghiệp Đức Kitô mà được hòa giải với Chúa Cha. Có ý kiến lại cho rằng đây không có ý nói đến các thiên thần được hòa giải với Thiên Chúa, nhưng chính các thiên thần hòa giải với con người. Vì con người lỗi phạm với Thiên Chúa nên các thiên thần giận dữ với con người, chính công nghiệp của Đức Kitô cất khỏi các thiên thần cơn giận này để minh chứng rằng Chúa yêu con người dường nào.
Kết
1. Một số nhà chú giải cho rằng, Cl 1,15-20 là đỉnh cao Kitô học trong Kinh Thánh, gọi là “Thánh thi Đức Kitô”. Thánh thi, mang hình thái của Hípri hơn là văn chương Hy Lạp, là lời khẳng định tột đỉnh về con người và sứ mệnh nơi Đức Kitô. Đức Giêsu Đấng trổi vượt trên mọi loài được nhìn với các khía cạnh: thứ nhất nhấn mạnh đến vị trí trổi vượt của Ngài trên mọi loài, thứ hai nhấn mạnh công cuộc cứu chuộc của Ngài trong vai trò là Đấng Cứu Thế. Cl 1,15-20 là lời giải đáp thích đáng đối với các Kitô hữu ở Cô-lô-xê hay bất cứ nơi đâu, hay đối với chúng ta là những người còn hoài nghi về vai trò của Đức Kitô trong thế giới.
2. Sự khác biệt giữa Cl và các thư đích thực của Phao-lô thấy trong lĩnh vực tư tưởng thần học của Cl và tạo thành một tổng thể mạch lạc. Lưu ý đến nhấn mạnh đến vũ trụ học trong Kitô học (đã có trong 1 Cr 8,6; 2 Cr 4,4; Pl 2,6-11) và cách sử dụng khung biểu tượng không gian hơn là thời gian.
3. Giáo hội phát triển xung quanh hình ảnh của thân thể không phải là mối quan hệ với nhau mà là mối quan hệ của Chúa Kitô-Giáo hội. Giáo hội được xem là một thực tại "Công giáo”(ngoại trừ 4, 15-16).
4.Cánh chung học khởi đầu lúc nhận bí tích rửa tội vì tham gia vào sự sống lại của Chúa Kitô; họ được tách ra khỏi quyền lực của bóng tối và đã được chuyển đến vương quốc của Con Thiên Chúa. Trong 3,1-3 chúng ta đã sống lại với Đức Ki-tô: nhưng đời sống phục sinh này là "ẩn dấu trong Đức Ki-tô". Bây giờ chúng ta có thể tham gia Đức Ki-tô trên Thiên Đàng. Điều này giả định rằng chúng ta phải chết cho những gì chống lại sức mạnh của Thánh Thần. Điều này cũng thấy trong Ê-phê-xô (2,6).
KẾT LUẬN
Khôn ngoan nhân vật hóa và Khôn Ngoan Ngôi Lời
Tựa đề nêu trên đã cho chúng ta một ý tưởng rõ ràng: Một mặt, Cựu Ước cho chúng ta khôn ngoan nhân vật hóa và trong Tân Ước, Đức Giê-su Ki-tô chính là Đấng Khôn Ngoan, hay nói cách khác, Khôn Ngoan nhập thể, Ngôi Lời. Biểu đạt "Khôn ngoan thành Ngôi Lời” có thể để chúng ta hiểu rằng Khôn Ngoan chỉ chính mình trong Chúa Giê-su Ki-tô, như tác giả thư gởi tín hữu Híp-ri:1,1Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ;2nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.
Vấn đề của chúng ta là cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các bản văn Cựu Ước trong đó nói rằng Đức Khôn Ngoan hiện hữu từ trước và hiện diện khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và đến cư ngụ nơi nhà con người từ khi con người xuất hiện. Nhiều thánh giáo phụ còn mạnh miệng nói rằng, Đức Khôn Ngoan này chính là Đức Ki-tô, Khôn Ngoan thành Ngôi Lời. Trong trường hợp này, chúng ta phải giải thích các mâu thuẩn khác: làm sao trình bày, trong thuật từ khôn ngoan, đức Ki-tô đến nhiều cách khác nhau? Làm thế nào hòa giải việc Đức Khôn Ngoan đến với những gì đã nói trong Hc 24,23 và Br 3-4 về tương quan giữa Khôn Ngoan/Lề luật?
Nếu chúng ta muốn gán cho hình dung Đức Khôn Ngoan cho Đức Ki-tô, phải chăng chúng ta tự đưa chúng ta đến những ngõ cụt? Và như thế chúng ta có thực sự tôn trọng hệ thống ý nghĩa phức tạp và phong phú đa dạng của Kinh Thánh? Nhưng khi chúng ta tránh nhận dạng một cách chắc chắn Đức Khôn Ngoan không có nghĩa là chúng ta xem việc nhân vật hóa, như đã xuất hiện trong truyền thống các hiền nhân, chỉ là một sự so sánh, ẩn dụ hay phúng dụ.
Chúng ta chỉ có thể ngưỡng mộ cách thức các bản văn Tân Ước , đặc biệt là các thư Phao-lô, đã biết bảo tồn tính phong phú đa dạng của các bản văn nhân vật hóa Khôn ngoan và cho Đức Ki-tô, cũng như Chúa Thánh Thần (trong vài bản văn thư Phao-lô) các chức năng khôn ngoan.
Nếu như các Tin Mừng dè dặt về việc nhận nhận dạng Đức Ki-tô/Khôn Ngoan phải chăng vì họ, cũng như truyền thống khôn ngoan, biết rằng Đức Khôn Ngoan không phải là Thiên Chúa, cũng không ngang bằng Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan là thần thiêng nhưng không là Thiên Chúa, là quà tặng của Thiên Chúa, nhưng không vì đó cho rằng quà tặng này là Thiên Chúa. Nếu các giáo phụ nhận dạng Đức Ki-tô/Đức Khôn Ngoan hoặc Thánh Thần/Đức Khôn Ngoan phải chăng các ngài đã không xem Đức Khôn Ngoan theo cách đọc của Tân Ước? Các ngài muốn đi xa hơn Tân Ước?
Đức Ki-tô, đấng trung gian
Chúng ta có thể nói rằng Tân Ước đã dùng các từ ngữ của văn chương khôn ngoan (x. 1 Cr 1-2) vì lý do là việc loan báo Tin Mừng trong một thế giới dưới văn hóa Hy-lạp. Nhưng điều đó không đủ lý do để giải thích tại sao Tân Ước mô tả Đức Ki-tô các chức năng và danh hiệu khôn ngoan: sự trung gian của Tân Ước về mầu nhiệm của Đức Ki-tô chứng tỏ tính nhất quán và mạch lạc nội tại.
Tân Ước cho Đức Ki-tô các chức năng và các tước hiệu trong một bối cảnh rất rõ ràng, bối cảnhsự trung gian:khi sử dụng hệ tư tưởng khôn ngoan, các bản văn Tân Ước muốn thấy rõ các yếu tố đối lập, diễn tả Đức Ki-tô tự căn rễ khác hoàn toàn với tất cả thụ tạo, mà cũng chỉ cho chúng ta thấy là sự khác biệt căn rễ này xem như tách biệt và xa cách. Nói cách khác, hệ khôn ngoan cho phép tránh các biểu thức định vị Đức Ki-tô (Đức Ki-tô ở trên, vv...), các biểu thức có thể đặt lại vấn đề trung gian, một cách diễn đạt sự hiện diện năng động.
Chúng ta cũng không ngạc nhiên vì hệ khôn ngoan đã được dùng một cách rõ ràng về vấn đề trung gian, trong trường hợp Đức Khôn Ngoan chủ yếu là đấng trung gian, hiện diện năng động và yêu mến của Thiên Chúa đối với loài thụ tạo, nhất là đối với con người.
Nhờ vào hệ khôn ngoan, các bản văn Kinh Thánh có thể định vị Đức Ki-tô đối với toàn thể chương trình ý định và cứu độ của Thiên Chúa, ý định đã hoạt động trong hiện diện quan phòng và vẫn luôn tiếp tục.
Vì mầu nhiệm của khôn ngoan là mầu nhiệm của tương quan giữa Thiên Chúa và loài thụ tạo, trong những gì thụ tạo có điểm chung. Cho Đức Ki-tô các chức năng và tước hiệu khôn ngoan chỉ có thể minh chứng rằng các diễn văn về Thiên Chúa, về nhân loại và Đức Ki-tô (như sự hiện diện của Thiên Chúa đối với con người) thì tuyệt đối liên quan với nhau.
Gián đoạn và liên tục
Chúng ta không thể trình bày trong 30 tiết học mầu nhiệm tạo ra do việc nhân vật hóa Khôn ngoan. Nhưng cách thức mà chúng ta liên kết Cựu Ước và Tân Ước đã có ý nghĩa. Công việc đó chỉ ra một lộ trình, nhưng lộ trình không kết thúc và mang tính cách luôn liên tục.
Chắc chắn từ Cựu Ước đến Tân Ước, cũng có những lằn mức. Lằn mức trước tiên ở cấp độ phương pháp, sau đó vấn đề không được đặt ra cùng một cách thức dành cho Tân Ước hay Cựu Ước.
Nếu như trình bày và diễn giải, các bản văn Cựu Ước gồm việc theo các dấu vết các tư duy của các hiền nhân Ít-ra-en về hình dung của Đức Khôn Ngoan; trong khi đó các bản văn của Tân Ước minh chứng rằng chúng ta phải bắt đầu từ con người Đức Giê-su Ki-tô để đặt vấn đề và tìm hiểu.
Trên ngưỡng cửa Ki-tô học cũng vậy, các bản văn Ki-tô học lấy lại một truyền thống đến từ Cựu Ước bằng cách thực hiện các chuyển dịch vấn đề: tôn trọng các truyền thống và tôn trọng những gì phát biểu trong biến cố Giê-su Ki-tô, mời gọi các tín hữu kiên nhẫn tìm hiểu mầu nhiệm Đức Ki-tô.
Liên tục, với điều kiện trong những gì diễn tả hình dung Đức Khôn Ngoan, một hiện diện năng động, sáng tạo và trung gian của Thiên Chúa trong thế giới chúng ta, trong trái tim con người.
Liên tục và nhất là đồng dạng, vì công việc đang tự hoạt động tự biến chuyển một cách chậm và tiệm tiến của truyền thống khôn ngoan mà Tân Ước lấy lại từ giáo thuyết các ngôn sứ và vì cách thức loan báo Tin Mừng của Tân Ước.
Mầu nhiệm Đức Ki-tô
Tất cả các bản văn Tân Ước chúng ta khảo sát trong môn học này không được viết trong cùng một thời kỳ. Chúng ta không thể nói rằng các bản văn này thuộc về lớp soạn thảo trể của giáo hội tiên khởi. Vì một bản văn soạn thảo trể cũng quy chiếu về một truyền thống cũ và đã được xác định rất sớm. Như thế, hình thức khuôn mẫu như Rm 8,3 và Gl 4,4 minh chứng một nguồn gốc cũ xưa rằng rất sớm mầu nhiệm Đức Ki-tô không chỉ được loan báo theo các từ (tử nạn/phục sinh) nhưng còn qua các từ nói về nguồn gốc (Chúa con được sai đến) và cả hai (mục đích và nguồn gốc) không bao giờ tách biệt.
Chắc chắn, nhấn mạnh về tiền hiện hữu và trung gian sáng tạo của Chúa Con đã có sau sự phát triển về cái chết cứu độ và phục sinh, nhưng quy chiếu về khái niệm "trước”(tiền) của đời sống trần thế của Chúa Giê-su là những yếu tố của các lớp cổ xưa nhất của Tân Ước.
Cả hai cực (gốc và đích) đã xác định hai loại suy nghĩ về mầu nhiệm Đức Ki-tô: một tư duy đi từ Giê-su Na-da-rét, từ con người Giê-su, để đi đến khái niệm Chúa phục sinh -những gì chúng ta gọi là tiến trình Ki-tô học đi lên- và Ki-tô học, từ Đức Ki-tô tiền hiện hữu và trung gian của sự tạo dựng, mô tả các giai đoạn thể hiện giữa con người (Ki-tô học đi xuống). Cả hai loại tiến trình bổ sung cho nhau, nhưng lịch sử Ki-tô học chứng tỏ rằng điều này hay điều kia thì ưu tiên, tùy theo mỗi thời kỳ.
Hôm nay, cách thức trình bày mầu nhiệm Đức Ki-tô có lẽ là một loại Ki-tô học đi lên (với sự nhấn mạnh về Chúa Giê-su, con người giữa những con người, chia sẻ yếu đuối mỏng dòn và không chắc chắn của họ, vv.) Chúng ta thấy đó một hệ quả của bối cảnh thời gian.
Tư duy Ki-tô học vẫn còn đánh dấu bởi sự phê phán rằng người ta có thể tóm tắt như sau: khi nói về Giê-su Ki-tô như một hữu thể trên trời và tiền hiện hữu, xuống làm người để cứu chuộc, Giáo Hội tiên khởi có thể xem Đức Ki-tô như một nhân vật huyền thoại. Chúng ta sẽ không đủ thời gian ở đây để trả lời cho phê phán này.
Chúng ta cũng biết rằng các trường phái lịch sử các tôn giáo không đặt vấn đề nhiều về các lý do nhân vật hóa sự khôn ngoan. Vì khi cho Đức Ki-tô các chức năng khôn ngoan, Tân Ước đã theo cùng một lo-gic của Cựu Ước; hiện tượng nhân vật hóa khôn ngoan trong các bản văn Cựu Ước không phải là một phúng dụ, cũng không là một huyền thoại hóa, nhưng là một ý thức nghiêm túc của sự trung gian. Nghiên cứu lý do nhân vật hóa khôn ngoan và câu hỏi về sự nhất quán của đấng trung gian trở thành một nhiệm vụ ưu tiên.
Như thế việc Tân Ước dùng các nét khôn ngoan để mô tả sự trung gian hoàn toàn của Đức Ki-tô rất có ý nghĩa. Nếu khôn ngoan là hình dung chống tôn thờ ngẫu tượng một cách tuyệt vời, tại sao chúng ta lại ngạc nhiên khi Tân Ước đã áp dụng vào Đức Ki-tô một số chức năng của Đức Khôn Ngoan? Phải chăng chức năng Chúa tể phổ quát và hằng hữu của Đức Ki-tô bảo vệ chúng ta khỏi tất cả nô lệ và tất cả ngẫu thần?
Để kết, chúng ta cũng nhắc lại ở đây để so sánh: Đối với Ai-cập cổ đại, khôn ngoan là nữ thần Ma'at; đối với người Hy-lạp, khôn ngoan được trình bày bởi con cú mèo, một loài chim đêm. Đối với Phao-lô, khôn ngoan là thập giá Chúa Ki-tô, là Đức Ki-tô chịu đóng đinh.
IV. TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM
Sáng thế 22,11-13
11Nhưng sứ thần của ĐỨC CHÚA từ trời gọi ông: “Áp-ra-ham! Áp-ra-ham!”Ông thưa: “Dạ, con đây!”12Người nói: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!”13Ông Áp-ra-ham ngước mắt lên nhìn, thì thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông Áp-ra-ham liền đi bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình.
Chúng ta đã quen thuộc với câu chuyện này cho thấy đức tin của Áp-ra-ham được thử thách và Áp-ra-ham là người chiến thắng trong thử thách này. Đức tin của tổ phụ lớn đến nỗi ông nghĩ rằng Chúa sẽ phục sinh Isaac (xem Hr 11,17-19). Văn bản này nói tất nhiên về Chúa Giêsu. Áp-ra-ham sẽ hy sinh đứa con trai duy nhất của mình, và những sự kiện ngôn sứ này loan báo hy sinh của Con Thiên Chúa, sẽ đến trong nhiều thế kỷ sau đó. Áp-ra-ham không thể biết Chúa Giê-su Ki-tô như chúng ta ngày nay, nhưng, chúng ta vẫn có thể nghĩ rằng Áp-ra-ham đã có, từ lúc đó, một mặc khải hiểu biết về biến cố ngôn sứ mà ông đã sống, và do đó Chúa Giêsu đã mặc khải: "Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ”(Gio-an 8,56).
Vì vậy, chúng ta đã trình bày ba đoạn văn Cựu Ước nói về Chúa Giêsu, nhưng trong thực tế, chúng ta có nhiều. Chúng ta muốn khuyến khích Cựu Ước và tìm kiếm những kho báu ẩn giấu đó, những bản văn nói về Chúa Giêsu.
Áp-ra-ham là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong Tân Ước. Mát-thêu truy tìm gia phả của Chúa Giê-su (Mt 1,17). Những người Do Thái trung thành được gọi là con cái Áp-ra-ham (Lu-ca 13,16; 19,9) và hứa rằng ông sẽ thiên đàng để gặp họ khi họ rời khỏi cuộc đời này (Lu-ca 16,22). Một bản tóm tắt về những thành tựu của Áp-ra-ham trong Công vụ 7 và Hr 11, và hai sự cố nổi bật. Đầu tiên, Áp-ra-ham sẵn sàng rời khỏi đất nước của mình và tin vào Chúa và Thiên Chúa dẫn ông đến một đất nước mới. Thứ hai, hãy tin rằng Chúa có thể biến tổ phụ thành cha của nhiều quốc gia, mặc dù vợ ông, bà Sarah không thể có con. Thật vậy, Áp-ra-ham nghĩ rằng đức tin của ông rất lớn đến nỗi ông đã hiến dâng con trai Isaac như một sự hy sinh nếu đó là điều Chúa muốn (Gc 2,21). May mắn thay, Thiên Chúa không muốn ông hy tế con trai mình(xem St 22).
Đức tin Áp-ra-ham cũng rất quan trọng đối với Phao-lô, nhưng ông dùng điều này để minh chứng một quan điểm khác. Một số Kitô hữu Do Thái khăng khăng rằng Ki-tô hữu dân ngoại cần phải cắt bì để thuộc về dân Chúa (Công vụ 15,1). Rốt cuộc, St 17,12-13 gọi phép cắt bì là một dấu hiệu giao ước vĩnh cửu của Giao ước và nói rằng áp dụng cho bất kỳ dân ngoại nào sống ở giữa họ. Làm thế nào những Kitô hữu dân ngoại tuyên bố tin vào Thiên Chúa nếu họ không làm những gì Thiên Chúa yêu cầu?
Phao-lô thấy điều này khác. Phao-lô nghĩ rằng việc cắt bao quy đầu mâu thuẫn với Tin mừng, ở đó không còn người Do Thái hay người Hy Lạp ... nô lệ hay tự do ... nam và nữ (Gl 3,28). Phao-lô không muốn một sự tách biệt con cái Áp-ra-ham và Ki-tô giáo dân ngoại, những người được gọi là con cái Áp-ra-ham một cách đúng đắn vì họ có chung đức tin với Áp-ra-ham (Gl 3,6-9). Thật vậy, Phao-lô có thể lập luận rằng đức tin Kitô giáo tương tự như đức tin của Áp-ra-ham vì cả hai đều liên quan đến việc tin rằng Thiên Chúa gọi hiện hữu những gì không hiện hữu (Rm 4,17). Người Híp-ri cũng có một lập luận tương tự, trong đó việc sẵn sàng hy sinh Isaac của Áp-ra-ham tương tự như đức tin phục sinh, vì ông đã xem xét sự kiện rằng Thiên Chúa có thể làm sống lại một người chết, và theo nghĩa bóng, Thiên Chúa nhận lại con mình (Hr 11,19=Quả thật, ông Áp-ra-ham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng).
Nếu Phao-lô đúng khi bảo vệ quan điểm dân ngoại được bao gồm trong dân Thiên Chúa mà không cần phải cắt bì, thì dường như mâu thuẫn với các mệnh lệnh trước đó của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa như vậy có thể được tin cậy? Đây là chủ đề của Rm 9-11, trong đó Phao-lô lưu ý rằng Ít-ra-en cũng là con cái của Áp-ra-ham nhưng bị loại ra khỏi Ít-ra-en. Phao-lô suy luận rằng đây không phải là dòng dõi theo sinh học, theo logic của con người, nhưng theo định nghĩa của Thiên Chúa, những người Thiên Chúa gọi và đáp lại Thiên Chúa bằng đức tin, chính xác là những gì dân ngoại của Phao-lô đã làm.
Trong bức thư gửi tính hữu Ga-lát, Phao-lô đặc biệt táo bạo. Tông đồ sử dụng hai người vợ ông Áp-ra-ham như một ngụ ngôn về hai loại người: những người tự do và những người nô lệ. Vì Phao-lô nghĩ rằng cắt bao quy đầu là một hình thức nô lệ, ông cho rằng rằng đối thủ của ông thể hiện mình là con của người phụ nữ nô lệ Hagar chứ không phải là con của lời hứa, con của bà Sara (Gl 4,22-31).
V. CÁC CÂU HỎI CHO BÀI KIỂM TRA CUỐI MÔN HỌC
1. Kinh Thánh là gì?
2. Kinh Thánh có thật là lời Thiên Chúa?
3. Kinh Thánh có chứa những sai sót, mâu thuẫn, hoặc sai lệch hay không?
4. Những gì nói trong Kinh Thánh có thích hợp cho ngày nay không?
5. Quy điển Kinh Thánh được xác định như thế nào và khi nào?
6. Chúng ta đọc Kinh Thánh hay học Kinh thánh? Tại sao chúng ta nên đọc Kinh Thánh / nghiên cứu Kinh Thánh?
7. Kinh Thánh dạy dỗ chúng ta có nghĩa là gì? 2 Tm 3,16-17.
8. Ai là tác giả của các sách trong Kinh Thánh?
9. Tại sao phải tin vào tính không sai lạc của Kinh Thánh?
10. Chúng ta có thể thêm nhiều sách nữa vào trong quy điển Kinh Thánh không?
11. Quy điển Thánh Kinh là gì? Có bao nhiêu quy điển khác nhau?
12. Bảo tồn các bản văn: Kinh Thánh có từng sai lạc, bị thay đổi, chỉnh sửa, sửa đổi hoặc giả mạo không?
13. Cựu Ước có ý nghĩa gì đối với chúng ta, những người Ki-tô hữu, so với Tân Ước – Hai bộ sách này có sự khác biệt nào?
14. Tại sao Thiên Chúa lại ban cho chúng ta bốn sách Tin Mừng, diễn đạt một cách khác nhau, thay vì chỉ cần có một?
15. Kinh Thánh, Lời Thiên Chúa giúp gì cho đức tin và sự cứu độ của chúng ta?
16. Tại sao chúng ta cần đọc hay nghiên cứu Kinh Thánh Cựu Ước?
17. Nơi nào có thể giúp chúng ta bắt đầu việc đọc Kinh Thánh?
18. Chúng ta hiểu như thế nào về câu nói này của thánh Phao-lô: “Còn với những người khác, thì tôi nói–chính tôi chứ không phải Chúa: nếu anh em nào có vợ ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng rẫy vợ(I Cô-rinh-tô 7,12).” Vậy, thư của thánh Phao lô có linh hứng không?
19. Những kinh nào người công giáo chúng ta thường đọc, đến từ Kinh thánh?
20. Khi đọc hay khảo sát Kinh thánh, chúng ta phải làm sao để biết những gì Thiên Chúa muốn nói cho chúng ta hôm nay?
21. Chúng ta nghĩ thế nào, khi có những người cho rằng, rất nhiều chi tiết trong Kinh thánh, không đúng với khoa học, với lịch sử?
22. Có thể/có nên diễn giải bản văn Kinh Thánh theo nghĩa đen không, theo nghĩa nền tảng không?
23. Linh hứng Kinh Thánh là gì?
24. Tại sao việc nghiên cứu bối cảnh Kinh Thánh là quan trọng? Điều gì sai khi lấy câu Kinh Thánh ra khỏi bối cảnh?
25. Tại sao gọi Kinh Thánh là sách Thánh?
26. Làm sao con người có thể biết đến hiện hữu Chúa khi họ không biết Kinh Thánh?
27. Có phải những phép lạ trong Kinh thánh được diễn ra như tường thuật của bản văn?
28. Hãy nêu ra các danh gọi khác của Kinh thánh?
29. Ngũ thư là gì? Các sách tiền ngôn sứ là gì và hậu ngôn sứ là gì?
30. Có những câu Kinh Thánh nào nói về linh hứng?
31. Lời cảnh cáo trong Khải-huyền 22,18-19 “Với bất cứ ai nghe những sấm ngôn trong sách này, tôi xin chứng thực: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách này! Ai mà bớt e điều gì trong các lời của sách sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành mô tả trong sách này!”", được áp dụng cho toàn bộ Kinh Thánh hay chỉ với sách Khải-huyền?
32. Tại sao để hiểu Kinh Thánh lại khó khăn đến thế?
33. Chú giải hay diễn giải Kinh Thánh là gì?
34. Bạn có thể cho tôi biết dòng thời gian cơ bản của Kinh Thánh không?
35. Phương pháp phúng dụ theo Kinh Thánh là gì? Phương pháp kiểu hình dung học là gì?
36. Chúng ta có những bản gốc của Kinh Thánh không? Tại sao?
37. Có bao nhiêu thánh vịnh trong Kinh thánh? Và chúng được phân loại như thế nào?
38. Các sách khôn ngoan là gì?
39. Trong các thư của Phao-lô, các gọi là các thư mục vụ là gì?
40. Các thư công giáo là gì?
41. Dụ ngôn là gì? Có khoảng bao nhiêu dụ ngôn trong Tân Ước?
THƯ MỤC TỔNG QUÁT
I. CỰU ƯỚC
1. Ancient Near Eastern Texts: Relating to the Old Testament. Edited by James B. Pritchard. Third edition with supplement. Princeton, New Jersey: Princeton University Press, 1969.
2. Archer, Gleason L., Jr. A Survey of Old Testament Introduction. Chicago: Moody, 1974.
3. Armerding, Carl F. The Old Testament and Criticism. Grand Rapids: William B. Eerdmans, 1983.
4. Barr James, History and Ideology in the Old Testament (OUP, 2000)
5. Barr James, The Concept of Biblical Theology (SCM, 1999)
6. Barr James, The Scope and Authority of the Bible (SCM, 2002)
7. Barton John, Ethics and the Old Testament (SCM, 2002)
8. Barton John, Reading the Old Testament (DLT, 1996)
9. Barton John, The Nature of Biblical Criticism (John Knox Press, 2007)
10. Bright, John. A History of Israel. Third edition. Philadelphia: Westminster Press, 1959/1981.
11. Brueggemann W., Theology of the Old Testament (Fortress Press, 2002)
12. Childs B. S., Old Testament Theology in a Canonical Context (SCM, 1985)
13. Childs, Brevard S. Introduction to the Old Testament As Scripture. Philadelphia: Fortress Press, 1979.
14. Clements R. E., A Century of Old Testament Study (Lutterworth, 1983)
15. Coggins R. J., Samaritans and Jews (Blackwell, 1975)
16. Cronshaw J. L., Old Testament Wisdom (SCM, 1982)
17. de Vaux, Roland. Ancient Israel. Vol. 1: Social Institutions. Vol. 2: Religious Institutions. New York: McGraw-Hill Book Company, 1965.
18. Dell K., Opening the Old Testament (Blackwell, 2008)
19. Geisler, Norman and Nix, William E. A General Introduction to the Bible. Chicago: Moody Press, 1968.
20. Geisler, Norman L. A Popular Survey of the Old Testament. Grand Rapids: Baker Book House, 1977.
21. Gerstenberger E. S., Theologies in the Old Testament (Fortress Press, 2002)
22. Gesenius’ Hebrew Grammar. Second Edition. Edited and Enlarged by E. Kautzsch. Translated by A. E. Cowley. Oxford: At the Clarendon Press, 1910.
23. Goppelt, Leonhard. TYPOS: The Typological Interpretation of the Old Testament. Translated by Donald H. Madvig. Grand Rapids: William B. Eerdmans Publishing Company, 1982.
24. Grabbe L. L., Ancient Israel: what do we know and how did we know it? (T. & T. Clark, 2008)
25. Harrison, R. K. Introduction to the Old Testament: With a Comprehensive Review of Old Testament Studies and a Special Supplement on the Apocrypha. Grand Rapids: William B. Eerdmans Publishing Company, 1969.
26. Hill, Andrew E. and Walton, John H. A Survey of the Old Testament, Grand Rapids: Zondervan Publishing House, 1991.
27. Josephus: in Nine volumes: VI/VIII : Jewish Antiquities: Books IX-XI/ XV-VII. Translated by Ralph Marcus. In the Loeb Classical Library. Cambridge: Harvard University Press, 1987; 1963.
28. Kaiser, Walter C. Jr. The Bible in Its World. Downers Grove: InterVarsity Press, 1966 (Exeter: Paternoster, 1977).
29. Kaiser, Walter C. Jr. Toward an Old Testament Theology. Grand Rapids: Academie Books: Zondervan, 1978.
30. Kitchen, K. A. Ancient Orient and Old Testament. Chicago: Inter-Varsity Press, 1966.
31. Linzey A. and D. Yamamoto (eds.), Animals on the Agenda (SCM, 1998)
32. Merrill, Eugene H. Kingdom of Priests: A History of Old Testament Israel. Grand Rapids: Baker Book House, 1987.
33. Mishnayoth: Edited by Philip Blackman. Second edition. New York: The Judaica Press, 1963.
34. Neusner, Jacob. The Mishnah: A New Translation. New Haven and London: Yale University Press, 1988
35. Nicholson E. W., Preaching to the Exiles (Blackwell, 1970)
36. Phyllis Trible , Texts of Terror (SCM, 2002)
37. Reeve J. (ed.), Sacred: Books of the Three Faiths (British Library, 2007)
38. Rogerson J., Beginning Old Testament Study (SPCK, 1998)
39. Rogerson J., Chronicles of the Old Testament Kings (Thames & Hudson, 1990)
40. Schürer, Emil. The History of the Jewish People in the Age of Jesus Christ. III.2 vols. Revised and Edited by Geza Vermes, Fergus Millar and Matthew Black. A New English Edition. Edinburgh: T. & T. Clark LTD, 1973.
41. Strack, Hermann und Paul Billerbeck. Kommentar zun Neuen Testament aus Talmud und Midrasch. 6 vols. München: C. H. Beck’sche Verlagsbuchhandlung, 1922-1928.
42. Sugirtharajah R. S., The Bible and the Third World (CUP, 2000)
43. The Babylonian Talmud. Translated into English with Notes, Glossary, and Indices under the editorship of I. Epstein. 18 vols. London: Socino Press, 1959.
44. The Old Oxford Annotated Apocrypha: The Apocrypha of the Old Testament: Revised Standard Version. Expanded edition containing the Third and Fourth Books of the Maccabees and Psalm 151. Edited by Bruce M. Metzger. New York: Oxford University Press, 1965, 67.
45. Vermes G., An Introduction to the Complete Dead Sea Scrolls (SCM, 1999)
46. Walton, John H. Ancient Israelite Literature in Its Cultural Context. Grand Rapids: Zondervan, 1989.
47. Walton, John H. Chronological and Background Charts of the Old Testament. Grand Rapids: Academie Books: Zondervan Publishing House, 1978.
48. Whybray R. N., The Good Life in the Old Testament (T. & T. Clark, 2001)
49. Whybray R. N., The Making of the Pentateuch (Sheffield Academic Press, 1987)
50. Wood, Leon. A Survey of Israel’s History. Grand Rapids: Zondervan Publishing House, 1970.
II. TÂN ƯỚC
1. Barker M., Temple Themes in Christian Worship (T. & T. Clark, 2007)
2. Barrett C. K., Jesus and the Gospel Tradition (SPCK, 1972)
3. Barrett C. K., New Testament Essays (SPCK, 1972)
4. Bockmuehl M. (ed.), The Cambridge Companion to Jesus (CUP, 2001)
5. Boxall Ian, New Testament Interpretation (SCM, 2007)
6. Brown R. E., The Birth of the Messiah (Chapman, 1979)
7. Brown R. E., Introduction to the New Testament (Doubleday, 1997)
8. Burridge R., What are the Gospels? (CUP, 2004)
9. Burridge R., Four Gospels, One Jesus (SPCK, 2005)
10. Burridge R., Imitating Jesus (Eerdmans, 2006)
11. Court J. M., Approaching the Apocalypse (I.B. Tauris, 2008)
12. Drury John, Painting the Word (Yale University Press, 2002)
13. Dunn J. D. G., Unity and Diversity in the New Testament (SCM, 1997)
14. Dunn J. D. G., The Theology of Paul the Apostle (T. & T. Clark, 2003)
15. Farrer A. M., History and the Gospel, in A Celebration of Faith (Hodder, 1972)
16. Fiorenza E. S., In Memory of Her (SCM, 1983)
17. Fiorenza E. S. (ed.), Searching the Scriptures: A Feminist Introduction (SCM, 1994)
18. Ford D., Shaping Theology (Blackwell, 2007)
19. Fuller R. H., The Formation of the Resurrection Narratives (SPCK, 1980)
20. Goodacre Mark, The Synoptic Problem (Continuum, 2001)
21. Gossman J. D., The Birth of Christianity (T & T Clark, 1998)
22. Goulder Michael, A Tale of Two Missions (SCM, 1994)
23. Harvey A. E., Jesus and the Constraints of History (Duckworth, 1982)
24. Hauerwas S., With the Grain of the Universe (SCM, 2002)
25. Hebblethwaite B. and D. Hedley , The Human Person in God's World: Studies to commemorate the Austin Farrer Centenary (SCM, 2006)
26. Herrin Judith, Byzantium (Penguin, 2008)
27. Hooker M., Paul: A Short Introduction (One World, 2003)
28. Horbury W., Jewish Messianism and the Cult of Christ (SCM, 1998)
29. Houlden J. L., Backward into Light (T. & T. Clark, 1995)
30. Houlden J. L., Ethics and the New Testament (T. & T. Clark, 1995)
31. Houlden J. L., The Public Face of the Gospel (SCM, 1997)
32. Houlden J. L. (ed.), Jesus: the Complete Guide (Continuum, 2005)
33. Jenson A. S., Theological Hermeneutics (SCM, 2008)
34. Morgan Robert (ed.), The Nature of New Testament Theology (SCM, 1973)
35. Moule C. F. D., The Birth of the New Testament (Continuum, 2000)
36. Moyise S., Evoking Scripture: Seeing the Old Testament in the New (T. & T. Clark, 2008)
37. O'Collins G., Jesus: a Portrait (DLT, 2008)
38. Pattison G., Art, Modernity and Faith (SCM, 1998)
39. Robinson J. M., The Secrets of Judas (Harper, 2006)
40. Rowland Christopher, Christian Origins (SPCK, 2002)
41. Rowland Christopher and Christopher Tuckett (eds.), The Nature of New Testament Theology; Essays in Honour of Robert Morgan (Blackwell, 2006)
42. Sanders E. P., The Historical Figure of Jesus (Penguin, 1993)
43. Sanders E. P., Paul (OUP, 1993)
44. Schweitzer A., The Quest of the Historical Jesus (with a preface by D. E. Nineham, SCM, 2000)
45. Stanton Graham, Gospel Truth? (Harper Collins, 1998)
46. Stanton Graham, Jesus and Gospel (CUP, 2004)
47. Theissen G., The Shadow of the Galilean (SCM, 1987)
48. Theissen G., The New Testament (T. & T. Clark, 2003)
49. Vermes G., Jesus the Jew (SCM, 2006)
50. Vermes G., The Nativity: History and Legend (Penguin, 2006)
51. Watson Francis, Text and Truth: Redefining Biblical Theology (T. & T. Clark, 1999)
52. Watson Francis, Paul, Judaism and the Gentiles (Eerdmans, 2007)
53. Wright N. T., The New Testament and the People of God (SPCK, 1992)
54. Wright N. T., The Resurrection of the Son of God (SPCK, 2003)
55. Wright N. T., Judas and the Gospel of Jesus (SPCK, 2006)
III. MÔI TRƯỜNG TÂN ƯỚC
1. Evans C. A. and S. E. Porter , Dictionary of New Testament Background (IVP, 2000)
2. Malina B. J., The New Testament World (SCM, 1981)
3. Meeks W. A., The First Urban Christians (Yale, 1983)
4. Meeks W. A., In Search of the Early Christians (Yale, 2002)
5. Theissen G., The Social Context of Pauline Christianity (T & T Clark, 1982)