Ngày tháng: 03/04/2025
Đang truy cập: 87

Bài 107: Từ đánh cá đến thu phục người ta

Bài 107: Từ đánh cá đến thu phục người ta

1 Khi ấy, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghennêxarét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. 2 Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 3 Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.

4 Giảng xong, Người bảo ông Simôn : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” 5 Ông Simôn đáp : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” 6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. 7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

8 Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói : “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” 9 Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. 10 Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn : “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” 11 Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. (Lc 5,1-11)

Tin Mừng Chúa Nhật thứ V Thường Niên năm C là câu chuyện tác giả Luca kể lại việc Đức Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên, trong đó nhân vật chính là ông Simôn Phêrô. Các Tin Mừng Nhất Lãm khác cũng kể câu chuyện tương tự, nhưng câu chuyện của Luca có những chi tiết độc đáo của riêng mình. Để thấy rõ điều này, chúng ta hãy so sánh Lc 5,1-11 với Mt 4,18-22 và Mc 1,16-20 :

1. Nơi các môn đệ được gọi

Theo Mátthêu và Máccô, nơi các môn đệ đầu tiên được gọi là tại biển Galilê (θάλασσαν τῆς Γαλιλαίας : Mt 4, 18 ; Mc 1, 16) ; còn Luca lại gọi nơi đó là hồ Ghennêxarét (τὴν λίμνην Γεννησαρέτ : Lc 5,1). Hồ này nằm trong khu vực đồng bằng đất đai màu mỡ, xung quanh có vườn cây ăn trái xanh tươi và không khí trong lành. Ghennêxarét là tên gọi thời xa xưa, có lẽ bắt nguồn từ tên Hípri yām-kinnereṯ (יָם־כִּנֶּרֶת) = biển Kinnerét (x. Ds 34, 11 ; Gs 13, 27). Người ta cho rằng, từ kinnereṯ cùng gốc với từ kinnôr (כִּנֹּר) nghĩa là cây đàn (x. St 4, 21 ; Tv 33, 2 ; Is 5, 12) do hồ nước có hình dạng một cây đàn. Ngoài ra, vào thời Đức Giêsu, hồ này còn được gọi là Tibêria (x. Ga 6,1.23 ; 21, 1) theo tên của hoàng đế La Mã Tibêriô (14 tCN-37). Nhưng tên gọi thông dụng nhất vẫn là biển hồ Galilê, theo tên miền đất Galilê (x. Mt 4, 18 ; 15, 29 ; Mc 1, 16 ; 7, 31). Nước ở đây là nước ngọt vì thế được gọi là hồ, nhưng vì nó rất lớn với diện tích 166 km2, dài 21 km, rộng 13 km và sâu 43 mét, nên nhiều người gọi là biển, hay biển hồ Galilê.

2. Thời gian được gọi

Theo tác giả Mátthêu và Máccô thì Đức Giêsu bắt đầu rao giảng Tin Mừng trước, rồi mới đến việc kêu gọi các môn đệ khi Người đi dọc bờ biển, lần lượt gặp các ông Simôn và Anrê, ngay sau đó là Gioan và Giacô bê (x. Mt 4,17-22). Còn theo Luca thì Chúa gọi bốn môn đệ này cùng một lúc, và lồng việc kêu gọi đó vào một câu chuyện với nhiều tình tiết độc đáo. Chúng ta sẽ lần lượt khám phá và tìm hiểu ý nghĩa của những chi tiết đó.

3. Lời Thiên Chúa là ơn gọi

Tác giả Luca kể rằng Đức Giêsu đã tự ‎‎ý xuống thuyền của ông Simôn và xin ông chèo ra xa bờ một chút (c. 3), để Người dùng nó như một “tòa giảng” mà giảng dạy Lời Chúa cho đám đông đang chen lấn nhau trên bờ biển ; điều này giả thiết là Đức Giêsu và ông Simôn đã biết nhau từ trước. Thật vậy, trước đó, Luca đã kể câu chuyện Đức Giêsu đến nhà Simôn chữa lành cho mẹ vợ của ông (x. Lc 4,38-39) ; còn Mátthêu lại đặt việc đến nhà Simôn chữa bệnh sau khi ông được gọi (x. Mt 4,18-20 và 8,14-15). Ở đây “Lời Thiên Chúa” (τὸν λόγον τοῦ θεοῦ) chính là lời kêu gọi, lời ấy không chỉ là nội dung bài giảng của Đức Giêsu, mà chính Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa. Cụm từ này, trừ 1 lần ở Mc (7, 13), 4 lần ở Khải huyền (1,2.9 ; 6, 9 ; 20, 4), còn thì hầu hết được sử dụng trong 2 tác phẩm của Luca (Lc và Cv) và trong một vài lá thư của thánh Phaolô (x. Lc 5, 1 ; 8, 21 ; Cv 4, 31…). Như vậy, tất cả phải khởi đi từ việc lắng nghe và đón nhận “Lời Thiên Chúa”, và đó là ơn gọi cho mọi Kitô hữu.

4. Phép lạ khơi dậy niềm tin

Sau bài giảng, Chúa lại có một động thái lạ lùng như thể ra lệnh cho ông Si-môn : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” (c.4). Ông Simôn là ngư dân lâu năm tại đây thì hẳn là đã dày dạn kinh nghiệm, lại vất vả suốt đêm không đánh bắt được con cá nào. Thế mà giờ đây một người không hành nghề đánh cá lại bảo ông thả lưới và làm theo như người ấy nói thì quả là nghịch l‎ý. Nhưng ông Simôn không phản đối mà sẵn lòng làm theo lời Đức Giêsu (c.5); ghi lại lời xin vâng của Simôn, phải chăng tác giả muốn chúng ta nhớ đến câu chuyện truyền tin, khi Đức Maria thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào vì tôi không biết việc vợ chồng!” nhưng vẫn chấp nhận lời Thiên Chúa (x. Lc 1,34.38), và cũng phải kể đến trường hợp bà Êlisabét cằn cỗi hiếm hoi lại tuổi đã cao, mà vẫn mang thai (c.36), vì “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”(c.37). Trong câu này ông Simôn xưng hô Đức Giêsu là “Thầy”; bản văn Hy Lạp dùng từ epistatês (ἐπιστάτης) từ này chỉ có trong Tin Mừng Luca (5, 5 ; 8,24.45 ; 9,33.49 và 17, 13), nghĩa gốc của từ này là “người đứng ở vị trí cao”, đó là vị trí của người giảng dạy, vượt trên người khác, là bậc thầy dạy dỗ người khác. Bài giảng của Đức Giêsu có sức thuyết phục khiến ông Simôn phải vâng theo và kết quả là ngoài sức tưởng tượng của ông : một mẻ lưới mà bao năm trong nghề ông chưa từng đạt được, cá nhiều đến nỗi muốn rách cả lưới, nên ông phải gọi các bạn chài giúp kéo lưới lên và đem cá chất đầy cả hai chiếc thuyền (c. 6-7).

5. Simôn Phêrô, một niềm tin mạnh mẽ

Sau giây phút kinh ngạc về mẻ lưới, Simôn Phêrô liền phủ phục dưới chân Đức Giêsu và kêu lên rằng : “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” (c. 8). Danh xưng Chúa (κυριος) phản ánh lòng tin của các môn đệ dưới ánh sáng Phục Sinh ; chỉ dưới ánh sáng Phục Sinh, các môn đệ mới có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa (x. Ga 20, 28 ; Pl 2, 11). Ở đây Simôn được mô tả là một người có niềm tin mạnh mẽ vào Đức Giêsu, hẳn là ông đã liên kết phép lạ chữa lành nhạc mẫu (x. 4, 38) với mẻ lưới lạ lùng này, mà nhận ra quyền năng phi thường nơi Đức Giêsu, đồng thời nhận thấy mình không xứng đáng đi theo Chúa qua câu nói “xin tránh xa con” ; động từ ekserkhômai (ἐξερχομαι) có nghĩa là tránh xa, ra khỏi, từ bỏ, không liên quan đến nữa. Ông Simôn thấy mình bất xứng với người thầy khôn ngoan và đầy quyền năng lạ lùng này.

6. Môn đệ Đức Giê-su người thu phục muôn dân

Như đã nói ở trên, theo lời kể của Luca, lúc này có mặt cả bốn người : Simôn và Anrê, Gioan và Giacôbê. Đức Giêsu nói với Simôn : “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”, câu này cũng nhắm đến cả Gioan và Giacôbê đang có mặt ở đó, tuy Luca không nói đến Anrê, nhưng Simôn và Anrê là hai anh em cùng làm nghề đánh cá với nhau, được kể chung nhiều lần (x. Mt 4, 18 ; Mc 1,16.29 ; Lc 6, 14); và bốn ông đã bỏ lại tất cả để đi theo Đức Giêsu làm môn đệ của Người (x. Lc 5,10-11).

Trở lại tựa đề của bài học hỏi này : Từ đánh cá đến thu phục người ta. Động từ đánh bắt là đúng nguyên văn Hy Lạp : zôgrêô (ζωγρέω) có nghĩa là bắt sống cá hay động vật. Tác giả dùng theo nghĩa ẩn dụ là thu hút hay thu phục người ta vào Nước Thiên Chúa. Trong Tân Ước từ này chỉ gặp 2 lần mà thôi. Ở đây (Lc 5, 10) theo nghĩa tích cực, dùng động tính từ hiện tại, dạng chủ động (ζωγρων) để chỉ người môn đệ của Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng và thu phục muôn dân vào Nước Thiên Chúa. Bản dịch mang tính phổ thông nên đã dịch là thu phục. Thánh Phaolô cũng sử dụng từ này một lần, ở dạng thụ động, để chỉ “những người bị bắt giữ” (ἐζωγρημένοι) bởi ma quỷ, họ bị kiềm chế khiến phải làm theo ý ma quỷ (x. 2 Tm 2, 26).

Chúng ta cũng so sánh với câu nói của tác giả Mátthêu và Máccô : “Hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá !”; cũng có bản dịch là “ngư phủ bắt người”, hoặc tương tự như vậy (x. Mt 4, 19 ; Mc 1, 17). Từ Hy Lạp trong câu này là danh từ halieus (ἁλιεύς) có nghĩa là người làm nghề đánh cá, ngư phủ (x. Mt 4, 18 ; Mc 1, 16 ; Lc 5, 2). Danh từ được Mátthêu và Máccô sử dụng rõ ràng là một lối chơi chữ, được tạo ra bởi công việc kiếm sống của các ông : từ ngư phủ đánh cá trở thành ngư phủ đánh lưới người (Mt 4,18-19). Đó là một ơn gọi mới, mà những người theo Đức Giêsu đã phải bỏ lại cuộc sống an toàn và ổn định, những môn đệ đầu tiên này đã can đảm bỏ lại nghề nghiệp quen thuộc của những ngư phủ ở biển Galilê. Việc Đức Giêsu kêu gọi những ngư phủ trở nên môn đệ gợi lại lời ngôn sứ Giêrêmia : “Này đây Ta sẽ sai nhiều ngư phủ –sấm ngôn của ĐỨC CHÚA– đến đánh bắt chúng. Sau đó, Ta sẽ sai nhiều thợ săn đến săn bắt chúng từ trên mọi núi đồi và những kẽ đá !” (Gr 16, 16). Nhưng hình ảnh ngư phủ và thợ săn ngôn sứ Giê-rê-mi-a ám chỉ là quân Babylon xâm lược và bắt dân đi đày (năm 587 tCN), còn Đức Giêsu lại sử dụng theo nghĩa tích cực là đưa người ta vào Nước Trời. Điều này cho thấy Đức Giêsu đến để làm cho lời các ngôn sứ được ứng nghiệm cách hoàn hảo (x. Mt 5, 17).

Tác giả Luca cũng sử dụng danh từ halieus (ἁλιεύς) khi nói về nghề nghiệp của các môn đệ là những người đánh cá (x. 5, 2), nhưng khi nói về ơn gọi tông đồ thì Luca dùng động từ zôgrêô (ζωγρέω) = đánh bắt (x. Lc 5, 10)đó là dụng ý của tác giả Luca muốn nói đến sứ mạng của các môn đệ Đức Giêsu là “thu phục” muôn dân về cho Thiên Chúa.

Kết

Qua việc tìm hiểu đoạn Tin Mừng Chúa nhật V Thường niên này, chúng ta xác tín rằng, trong Hội Thánh tất cả những người đón nhận bí tích thánh tẩy đều trở nên môn đệ Đức Giêsu, tức là trở nên người “thu phục” người khác. Không phải chúng ta chọn Chúa mà chính Chúa chọn từng người chúng ta và ban cho mỗi người một ơn, không phải ai cũng như nhau, “nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho.”(Ep 4, 7). Chúng ta “thu phục” người khác không phải bằng lời lẽ khôn khéo của thế gian nhưng bằng “Lời Thiên Chúa” (x. 1 Tx 2, 13).

Chúng ta học theo gương thánh Phêrô, khi nhận biết Chúa thì cũng đồng thời nhận ra sự yếu đuối và tội lỗi của mình, vì thế chúng ta lại càng trông cậy vào Chúa, xin Người dẫn đường chỉ lối để chúng ta vững tâm bước đi theo Người. Với tâm tình đó chúng ta cùng cầu nguyện qua Thánh vịnh 25

Lạy Thiên Chúa của con,
con tin tưởng nơi Ngài,
xin Ngài đừng để con tủi nhục,
đừng để quân thù đắc chí nhạo cười con.
Chẳng ai trông cậy Chúa,
mà lại phải nhục nhằn tủi hổ,
chỉ người nào tự dưng phản phúc
mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi
Lạy CHÚA, đường nẻo Ngài,
xin dạy cho con biết,
lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con
Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài
và bảo ban dạy dỗ,
vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.
Sớm hôm con những cậy trông Ngài,
bởi vì Ngài nhân ái.
Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi,
xin Ngài đừng nhớ đến,
nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.
CHÚA là Đấng nhân từ chính trực,
chỉ lối cho tội nhân,
dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính,
dạy cho biết đường lối của Người.
Tất cả đường lối CHÚA đều là yêu thương và thành tín
đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa.
Lạy CHÚA, tội con thật nặng nề,
vì danh Ngài, xin lượng thứ cho con.
Phàm ai kính sợ CHÚA,
Người chỉ cho thấy đường phải chọn.

Nữ tu Maria Lê Thị Thanh Nga - Dòng Đức Bà Nữ Kinh Sĩ Thánh Âu tinh - Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ
Nguồn: tgpsaigon.net


zalo
zalo