VINH QUANG VÀ KHỔ NẠN.
Chú Giải Tin Mừng CN II MC C (Lc 9,28-36)
Bản văn và dịch sát nghĩa
Hy Lạp | Việt |
28 Ἐγένετο δὲ μετὰ τοὺς λόγους τούτους ὡσεὶ ἡμέραι ὀκτὼ [καὶ] παραλαβὼν Πέτρον καὶ Ἰωάννην καὶ Ἰάκωβον ἀνέβη εἰς τὸ ὄρος προσεύξασθαι.
29 καὶ ἐγένετο ἐν τῷ προσεύχεσθαι αὐτὸν τὸ εἶδος τοῦ προσώπου αὐτοῦ ἕτερον καὶ ὁ ἱματισμὸς αὐτοῦ λευκὸς ἐξαστράπτων.
30 καὶ ἰδοὺ ἄνδρες δύο συνελάλουν αὐτῷ, οἵτινες ἦσαν Μωϋσῆς καὶ Ἠλίας,
31 οἳ ὀφθέντες ἐν δόξῃ ἔλεγον τὴν ἔξοδον αὐτοῦ, ἣν ἤμελλεν πληροῦν ἐν Ἰερουσαλήμ.
32 ὁ δὲ Πέτρος καὶ οἱ σὺν αὐτῷ ἦσαν βεβαρημένοι ὕπνῳ· διαγρηγορήσαντες δὲ εἶδον τὴν δόξαν αὐτοῦ καὶ τοὺς δύο ἄνδρας τοὺς συνεστῶτας αὐτῷ.
33 καὶ ἐγένετο ἐν τῷ διαχωρίζεσθαι αὐτοὺς ἀπ᾽ αὐτοῦ εἶπεν ὁ Πέτρος πρὸς τὸν Ἰησοῦν· ἐπιστάτα, καλόν ἐστιν ἡμᾶς ὧδε εἶναι, καὶ ποιήσωμεν σκηνὰς τρεῖς, μίαν σοὶ καὶ μίαν Μωϋσεῖ καὶ μίαν Ἠλίᾳ, μὴ εἰδὼς ὃ λέγει.
34 ταῦτα δὲ αὐτοῦ λέγοντος ἐγένετο νεφέλη καὶ ἐπεσκίαζεν αὐτούς· ἐφοβήθησαν δὲ ἐν τῷ εἰσελθεῖν αὐτοὺς εἰς τὴν νεφέλην.
35 καὶ φωνὴ ἐγένετο ἐκ τῆς νεφέλης λέγουσα· οὗτός ἐστιν ὁ υἱός μου ὁ ἐκλελεγμένος, αὐτοῦ ἀκούετε.
36 καὶ ἐν τῷ γενέσθαι τὴν φωνὴν εὑρέθη Ἰησοῦς μόνος. καὶ αὐτοὶ ἐσίγησαν καὶ οὐδενὶ ἀπήγγειλαν ἐν ἐκείναις ταῖς ἡμέραις οὐδὲν ὧν ἑώρακαν. (Lk. 9:28-36 BGT)x | 28 Tám ngày sau, những chuyện này, dẫn theo Phêrô, Gioan và Giacôbê, Người lên núi để cầu nguyện.
29 Chuyện xảy ra trong khi Người đang cầu nguyện, vẻ bề ngoài của khuôn mặt Người khác đi, áo Người chiếu sáng màu trắng
30 Và kìa, có hai người đàn ông nói chuyện với Người, những người này là ông Môsê và ông Êlia.
31 Những người này xuất hiện trong vinh quang, cứ nói về cuộc xuất hành, mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem.
32 Ông Phêrô và những người ở với ông đang nặng nề với giấc ngủ, nhưng khi thức giấc, họ nhìn thấy vinh quang của Người và hai người đàn ông đang đứng với Người.
33 Và trước khi họ rời khỏi Người, ông Phêrô nói cùng Đức Giêsu: “Thưa thầy, chúng ta ở đây thật là tốt và chúng tôi sẽ làm ba cái lều, một cho thầy, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia, vì ông không biết điều ông nói.
34 Khi ông còn đang nói những điều này, một đám mây bao phủ họ và họ hoảng sợ khi họ đi vào đám mây.
35 Và có tiếng từ đám mây nói rằng: “Đây là Con của Ta, người Ta tuyển chọn, hãy nghe Người”.
36 Và sau khi tiếng nói xảy ra, họ thấy một mình Đức Giêsu và họ giữ im lặng, không nói cùng ai trong những ngày ấy điều mà họ đã thấy. |
Bối cảnh: Lc 9,28-36 được đặt trong bối cảnh sau khi Đức Giêsu lần thứ nhất, mặc khải về việc Người sẽ “phải chịu nhiều đau khổ, bị các Kỳ Mục, Thượng Tế và Kinh Sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Lc 9, 22). Mặc khải này đi liền ngay sau khi ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20). Đấng Kitô theo não trạng của ông Phêrô là Đấng có quyền năng làm phép lạ chữa lành đủ mọi thứ bệnh tật, có thể trừ quỷ, hóa bánh ra nhiều nuôi dân, và có thể là người sẽ giải thoát Israel khỏi nô lệ ngoại bang. Ông Phêrô đã nghĩ đúng về Đấng Kitô, nhưng chưa đủ. Đấng Kitô còn phải chịu đau khổ và bị giết chết nữa. Cảnh “biến hình” cho các môn đệ thấy vinh quang thật sự của Đức Giêsu, nhưng điều mà Đức Giêsu thảo luận với hai ông Môsê và Êlia lại là “cuộc xuất hành Người sẽ hoàn tất ở Giêrusalem”, nghĩa là khổ hình thập giá và Phục Sinh. Trình thuật này nối kết với toàn bộ vinh quang của Đấng giảng dạy có uy quyền và có khả năng làm phép lạ trước đó và toàn bộ hành trình thập giá đến vinh quang sau đó. Tiếng từ đám mây: “Đây là Con của Ta”, nghĩa là nối Tin Mừng từ đầu cho đến cuối. Đức Giêsu được gọi là “Con Đấng Tối Cao” trong trình thuật “Truyền Tin” (Lc 1,26-38), “Con của Ta” trong cả hai biến cố “Chịu Phép Rửa” (Lc 3,21-22) và “Biến Hình” (Lc 9,28-36). Cuối cùng, trong cuộc thẩm vấn Đức Giêsu xác nhận rằng Người là Con Thiên Chúa (Lc 22, 70).
Cấu trúc
Bối cảnh: Nhân vật, thời gian, không gian (28) (A)Cuộc biến hình (29): Gương mặt trở nên khác – áo chiếu sáng (B)Gặp gỡ những người từ trời (30-31): Cuộc xuất hành tại Giêrusalem (C)Phản ứng của người dưới đất (32-33): Ngủ - thức dậy – nhìn thấy vinh quang – muốn làm ba cái lều (B’) Tiếng từ đám mây (34-35): Con của Ta, người Ta tuyển chọn (A’) Hết biến hình (36): Một mình Đức Giêsu và sự im lặng của các môn đệ |
Một số điểm chú giải
1. Tám ngày sau: Trong khi tác giả Mátthêu lấy lại bối cảnh thời gian của tác giả Máccô (“sáu ngày sau”), tác giả Luca lại nói là “tám ngày sau”. Lý do tại sao tác giả Luca thay đổi bối cảnh thời gian còn là một điều khó hiểu. “Sáu ngày sau” (Mt và Mc) gợi nhớ đến mặc khải trên núi Sinai cho ông Môsê: “Vinh quang của Chúa ngự trên núi Sinai, và đám mây bao phủ nó sáu ngày. Vào ngày thứ bảy, Chúa gọi ông Môsê từ giữa đám mây” (Xh 24, 16). Những chi tiết như núi, mây, vinh quang, ông Môsê cho thấy sự nối kết giữa biến cố biến hình và biến cố “mặc khải trên núi Sinai”. Theo tác giả J. Fitzmyer, bối cảnh thời gian - “tám ngày sau” (Lc) – không có gì khác hơn là một cách diễn tả khác của “một tuần sau đó”[1]. Tuy nhiên, nên nhớ rằng khoảng thời gian “tám ngày sau” nối kết với chỉ dẫn về Lễ Lều: “Trong vòng bảy ngày, các ngươi phải tiến dâng hỏa tế lên Đức Chúa. Ngày thứ tám, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, và phải tiến dâng một lễ hỏa tế lên Đức Chúa: Đó là một buổi họp long trọng các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào” (Lv 23, 36)[2]. Chi tiết “dựng ba cái lều” trong trình thuật này xem ra cũng trùng khớp với chỉ dẫn của Lễ Lều, có đề cập đến “ngày thứ tám” như vừa trích dẫn. Việc ông Phêrô đề xuất “dựng lều” nhắc nhớ đến chỉ thị của Chúa dành cho ông Môsê trong thời gian dân Israel ở trong sa mạc: “Trong bảy ngày, các ngươi phải ở trong lều bằng cành cây; mọi người bản xứ tại Israel phải ở trong lều bằng cành cây, để các thể hệ của các người biết rằng Ta đã cho con cái Israel ở trong lều bằng cành cây khi Ta đưa chúng ra khỏi đất Ai cập. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 23,42-43). Nó cũng gợi nhớ đến cố cột mây tượng trưng cho Thiên Chúa hướng dẫn Israel trong hành trình sa mạc: “Trong ngày dựng Nhà Tạm, có mây che phủ Nhà Tạm và Lều Chứng Ước, nhưng đêm đến thì trông như lửa trên Nhà Tạm cho tới sáng.Cứ xảy ra liên tục như thế: mây che phủ Nhà Tạm ban ngày, đêm thì trông như lửa. Mỗi lần mây bốc lên cao khỏi Lều, thì con cái Israel nhổ trại, và nơi nào mây đậu lại, thì ở đó con cái IIsrael đóng trại” (Ds 9,15-17). Hơn nữa, vinh quang Thiên Chúa đã bao phủ nhà tạm và một đám mây phủ bóng trên Lều Hội Ngộ (Xh 40, 35). Giờ đây, “vinh quang” và “đám mây” cũng bao phủ lấy Đức Giêsu và ba môn đệ (Lc 9,32.34)[3]. Khoảng thời gian “sau sáu ngày” (Mt-Mc) hay “khoảng tám ngày sau” (Lc) cũng đều liên quan đến một cuộc gặp gỡ với Chúa. Bối cảnh thời gian này nhắc nhớ đến cuộc gặp gỡ giữa dân với Chúa trong thời IsraEL còn hành trình trong sa mạc.
2. Lên núi để cầu nguyện: Khác với tác giả Máccô và Mátthêu, những người nhấn mạnh đến tính riêng tư và độ cao của núi (núi cao), tác giả Luca chỉ nói là “núi”. Ông không quan tâm nó cao hay thấp. Mô hình núi báo trước một cuộc gặp gỡ với Chúa. Tuy nhiên, điều tác giả Luca lưu ý, không có trong Mt và Mc, là mục đích Đức Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi. Đó là để cầu nguyện.
Mt 17,1 | Mc 9,2 | Lc 9,28-29 |
Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. | Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông | Khoảng tám ngày sau khi nói những lời ấy, Đức Giêsu lên núi để cầu nguyện đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. |
Cầu nguyện là thói quen đặc trưng của Đức Giêsu trong Tin Mừng Luca, không có trong cả Mátthêu và Máccô. Trong trình thuật Phép Rửa, Đức Giêsu được mô tả là “đang khi cầu nguyện thì trời mở ra” (Lc 3, 21). Trước khi tuyển chọn nhóm Mười Hai, Người cũng đi lên núi cầu nguyện và đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa (Lc 6, 12). Trình thuật về việc Đức Giêsu chất vấn các môn đệ về căn tính của Người (“dân chúng bảo Thầy là ai?”) cũng được đặt trong bầu khí cầu nguyện: “Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện một mình, các môn đệ cũng ở với Người” (Lc 9, 18). Lời dạy thường được gọi là “Lời nguyện của Chúa” (“Kinh Lạy Cha”) cũng được đưa ra trong bối cảnh cầu nguyện: “Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia”. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong các môn đệ nói với Người: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy các môn đệ của ông” (Lc 11, 1). Dụ ngôn “quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy” (Lc 18,1-8) là dụ ngôn độc quyền của tác giả Luca, diễn giải sự kiên trì của hành động cầu nguyện. Chỉ có Đức Giêsu của tác giả Luca nói cùng ông Phêrô rằng: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22, 32). Trong bối cảnh này, động từ “cầu nguyện” được lặp lại hai lần. Điều này cho thấy, tác giả Luca nhấn mạnh đến yếu tố cầu nguyện trong cuộc biến đổi hình dạng này. Hay nói cách khác, cầu nguyện làm cho Đức Giêsu biến đổi hình dạng và đi vào cuộc gặp gỡ linh thiêng với ông Môsê và ông Êlia, cũng như trong bối cảnh Phép Rửa, “cầu nguyện” làm cho trời mở ra, và Thánh Linh ngự xuống với hình dáng chim bồ câu. Trong buổi cầu nguyện này, Đức Giêsu có lẽ đã nói chuyện với Chúa Cha về những khó khăn lo lắng của mình trước cuộc “xuất hành” sắp đến. Người cũng có thể nói với Chúa Cha về nỗi khó khăn không biết làm sao cho các môn đệ hiểu và đón nhận mầu nhiệm thương khó Người sắp trải qua. Bằng chứng là Chúa Cha đã can thiệp qua tiếng nói từ đám mây. Tiếng nói này đã một lần nữa chứng nhận căn tính “Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu đồng thời, cho biết Người là Đấng được tuyển chọn cho sứ vụ “xuất hành”, và mời gọi, khuyến khích các môn đệ “hãy lắng nghe Người”.
3. Bộ ba môn đệ (Phêrô, Giacôbê và Gioan): Ba môn đệ này xuất hiện trong những biến cố quan trọng. (1) Phục sinh con gái ông trưởng hội đường Giaia (Mc 5, 37, Lc 8, 51); (2) Biến hình (Mc 9, 2; Mt 17, 1; Lc 9, 28); (3) Trong Vườn Cây Dầu (Mc 14, 33; Mt 26, 37). Trong trình thuật về cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu, tác giả Luca không ghi lại việc Đức Giêsu dẫn bộ ba môn đệ này đi riêng. Đây là ba trong bốn môn đệ đầu tiên (Phêrô, Anrê, Giacôbê, và Gioan) được gọi theo truyền thống Nhất Lãm (Mt 4,18-23; Mc 1,16-20; và Lc 5,1-11). Theo lẽ thường, Đức Giêsu thân với ba môn đệ này hơn cũng phải. Điều khó hiểu là sự vắng mặt của ông Anrê trong nhóm này. Ngược lại, theo truyền thống của Tin Mừng thứ tư, ông Anrê là môn đệ được gọi đầu tiên, rồi Phêrô, Philípphê, Bartôlômêô (x. Ga 1,35-51). Ông cùng với ông Philípphê trở thành một cặp môn đệ gần gũi với Đức Giêsu hơn (Ga 6,7-8; 12, 22). Hai môn đệ mà Đức Giêsu sai đi chuẩn bị Lễ Vượt Qua trong Mc 14, 13, được tác giả Luca định danh là Phêrô và Gioan: “Đức Giêsu sai hai ông Phêrô và Gioan đi và dặn: “Các anh hãy đi chuẩn bị cho chúng ta ăn Lễ Vượt Qua” (Lc 22, 8). Gioan và Phêrô sẽ sánh bước bên nhau trong sứ vụ truyền giáo và lãnh đạo Giáo Hội sơ khai (Cv 3,1.3.4.11)[4]. Sự hiện diện, của bộ ba trong những dịp đặc biệt như là đại diện cho các Tông Đồ khác, nhằm chuẩn bị tốt cho các ông trong sứ vụ lãnh đạo tương lai. Việc Đức Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi cầu nguyện gợi nhớ đến sự kiện ông Môsê dẫn cũng dẫn theo ba người Aharon, Nađáp, và Avihu theo như Chúa truyền khi lên núi Sinai để nhận Thập Điều: “Hãy lên với ĐỨC CHÚA, ngươi cùng với Aharon, Nađáp, Avihu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Israel. Các ngươi sẽ phủ phục ở đằng xa” (Xh 24,1.9).
4. Gương mặt trở nên khác – áo chiếu sáng trắng: Tác giả Luca không dùng động từ “biến đổi hình dạng” (metemorphothe), như hai tác giả Mátthêu và Máccô. Nhiều tác giả giải thích rằng, sở dĩ tác giả Luca không dùng động từ đó vì không muốn các độc giả của ông (những người ngoại) nối kết biến cố này như là những câu chuyện thần thoại về biến hình trong dân ngoại[5]. Hai chi tiết được tác giả Luca mô tả về sự thay đổi trong lúc Đức Giêsu cầu nguyện là “gương mặt và y phục”: Gương mặt khác đi, và y phục chiếu sáng màu trắng. Tác giả Luca chỉ nói là “gương mặt khác đi” mà không nói khác thế nào[6]. Tác giả Máccô mô tả Đức Giêsu biến đổi hình dạng và diễn tả cách chi tiết về sự biến đổi y phục của Người: “Y phục trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9, 3). Tác giả Mátthêu phân biệt cụ thể hơn giữa sự thay đổi của khuôn mặt và y phục: “Khuôn mặt Người chiếu sáng như mặt trời và y phục Người trở nên trắng như tuyết” (Mt 17, 2). “Gương mặt khác đi” (khuôn mặt chiếu sáng theo Mt), không khỏi làm cho người ta nhớ đến hình ảnh gương mặt ông Mosê chiếu sáng khác thường đến độ dân chúng không dám nhìn vào mặt ông sau khi ông ở trên núi Sinai bốn mươi đêm ngày để nhận Thập Điều (Xh 34, 29). Xem ra, trong cả ba tác giả Nhất Lãm, tác giả Luca mô tả đơn giản hơn cả về sự biến đổi của Đức Giêsu. Ông tập trung mô tả nhiều hơn về các môn đệ và nội dung cuộc đàm đạo giữa Đức Giêsu và Ông Êlia và Môsê.
5. Ông Môsê và Êlia: Những chi tiết liên quan đến ông Môsê trước đó như là “hành trình hoang địa”, “dẫn ba môn đệ”, “gương mặt đổi khác” được nối kết chặt chẽ với sự xuất hiện của ông Môsê. Ông Môsê thường được xem như là đại diện cho các sách Luật vì ông là người đã nhận bộ Luật, Giao Ước và truyền lại cho dân. Hơn nữa, ông cũng được xem là tác giả của bộ Ngũ Thư (năm cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đê Nhị Luật). Đức Giêsu thường nhắc đến tên ông, bên cạnh “các ngôn sứ” để chỉ toàn bộ Sách Thánh Cựu Ước (Lc 16,29.31; Ga 1, 45). Ông Êlia là một ngôn sứ vĩ đại thời Cựu Ước. Ông nổi tiếng với khả năng làm phép lạ, ngay cả làm cho người chết sống lại (1 V 17). Ông đã chiến thắng trong cuộc chiến chống lại bốn trăm năm mươi ngôn sứ của thần Baal và bốn trăm ngôn sứ của thần Asera trên núi Cácmen (1 V 18,20-40). Trong hành trình trốn chạy hoàng hậu Ideven, ông đã có cuộc gặp gỡ với Chúa trên núi Khôrép (1 V 19, 9-18). Cuối cùng, ông đã được đưa lên trời trong cơn gió lốc (2 V 2,1.11), bằng một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa (2 V 2,11). Đây quả là hai nhân vật đại diện cho thời Cựu Ước và sự xuất hiện của họ cho thấy họ đang thuộc về thế giới thần linh. Họ mang sứ điệp của Chúa, nghĩa là họ đang hưởng phúc với Chúa. Xưa nay, nhiều tác giả vẫn thường nghĩ rằng, ông Môsê đại diện cho “Luật” và ông Êlia đại diện cho “các ngôn sứ”. Vì thế, sự xuất hiện của hai nhân vật này vẫn thường được hiểu là đại diện cho toàn bộ Sách Thánh Cựu Ước: Luật và các Ngôn Sứ[7]. Tuy nhiên, cũng nên biết thêm rằng ông Môsê cũng được gọi là “ngôn sứ”: “Trong Israel không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Môsê, người mà Đức Chúa biết rõ, mặt giáp mặt” (Đnl 34, 10; cũng x. Đnl 18, 15). Ông Êlia là một ngôn sứ, nhưng không phải là tác giả của một “Sách Ngôn Sứ”. Chính vì thế, có lẽ, sẽ hợp lý hơn, nếu hiểu ông Êlia và ông Môsê như những biểu tượng của Cựu Ước, là những ngôn sứ, những người đã có kinh nghiệm gặp gỡ Chúa trên núi Sinai (Khôrép) trong cuộc thần hiện và là những người bây giờ thuộc thế giới Thiên Chúa[8].
6. Cuộc xuất hành: Nội dung cuộc đàm đạo là chi tiết riêng của tác giả Luca. Trong khi các tác giả Máccô và Mátthêu chỉ cho biết là Đức Giêsu đàm đạo với hai vị ngôn sứ của thời Cựu Ước, nhưng không bật mí nội dung cuộc đàm đạo, tác giả Luca bật mí nội dung này là “cuộc xuất hành của Người”. Tác giả còn giải thích về cuộc xuất hành “mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem”. Đối với tác giả Luca, hành trình lên Giêrusalem rất quan trọng. Tác giả dùng mười chương (9,51 – 19,27) trong tổng số hai mươi bốn chương để trình thuật những hoạt động trên đường lên Giêrusalem của Người. Hành trình dài này sẽ được hoàn tất tại Giêrusalem. “Xuất hành” là thuật ngữ nhắc đến hành trình dân Israel ra khỏi đất Aicập, thoát khỏi cảnh nô dịch trong tay vua Aicập, Pharaoh[9]. Sự xuất hiện của ông Môsê, người đã dẫn đầu dân Israel trong cuộc xuất hành, có liên hệ mật thiết đến cuộc xuất hành của Đức Giêsu, như là một “ngôn sứ như ông Môsê”[10]. Đức Giêsu sẽ hoàn tất cuộc xuất hành này bằng hoàn tất toàn bộ tiến trình “thương khó – tử nạn – phục sinh – lên trời” để dẫn dắt dân mới thoát khỏi nô lệ tội lỗi và tiến vào quê trời vĩnh cửu[11]. Hoàn tất cuộc xuất hành tại Giêrusalem cũng là hoàn tất của tất cả những gì các ngôn sứ viết về Con Người (Lc 18, 31). Lên Giêrusalem đồng nghĩa với tới thời điểm Đức Giêsu được rước lên trời: “Khi đã đến ngày được rước lên trời, Đức Giêsu nhất quyết đi lên Giêrusalem (Lc 9, 51).
---Còn tiếp---
Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/03/vinh-quang-va-kho-nan-chu-giai-tin-mung.html (Cập nhật ngày 15/03/2025)
[1] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes (AnB; New Haven – London 2008) XXVIII, 797.
[2] F. Bovon – H. Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis, 2002) 374.
[3] P.T. Gadenz, The Gospel of Luke (Grand Rapids 2018) 184.
[4] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids 1997) 379-380.
[5] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX, 798.
[6] “Jesus does not become different from what he was before, but for a moment his appearance becomes a divine sign to humanity, the sign of his true identity” (F. Bovon – H. Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50, 375).
[7] “Moses and Elias, who as Tertullian says certainly stand for the Law and the Prophets” [R. Ginns, The Gospel of Jesus Christ according to St Luke. A Catholic Commentary on Holy Scripture (ed. B. Orchard – E. F. Sutcliffe) (Toronto – New York – Edinburgh 1953) 952].
[8] “Moses and Elijah are at least to be understood as two prophetic figures. There is nothing that really militates against their representing the Law and the Prophets; but in any case, if this is not certain, then the contrast of the heavenly command at the end of the episode strikes home just as well, if they are to be regarded merely as two OT prophetic figures” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes, 799-800; [L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP 3; Collegeville 1997) 153].
[9] “While the mention of exodos is related to the Lucan geographical perspective, the very word echoes the Exodus of Israel from Egypt to its promised land, its land of destiny” (J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX, 794).
[10] Trong sách Đệ Nhị Luật, ông Mô-sê đã hứa là Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ khác như tôi để giúp anh chị em. Anh chị em hãy nghe vị ấy” (Đnl 18,15).
[11] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 153