VINH QUANG VÀ KHỔ NẠN.
Chú Giải Tin Mừng CN II MC C (Lc 9,28-36)
7. Nặng nề vì giấc ngủ: Luca mô tả nhiều hơn về những hành vi của các môn đệ. Trong lúc Đức Giêsu cầu nguyện và đàm đạo với hai vị ngôn sứ Cựu Ước, các môn đệ đã “bị nặng trĩu bởi giấc ngủ”. Cấu trúc bao gồm động từ “eimi” ở thì vị hoàn cùng với phân từ ở thể bị động thì hoàn thành (ἦσαν βεβαρημένοι ὕπνῳ), cho thấy đây là một hành động tiếp diễn. Giấc ngủ đè nặng lên sự yếu đuối thể xác của các môn đệ. Họ không thể thức tỉnh cùng Đức Giêsu trong buổi cầu nguyện và biến hình, nên họ cũng không thể nghe được nội dung của cuộc đàm thoại giữa Đức Giêsu và ông Môsê - Êlia. Giấc ngủ này gợi nhớ đến “giấc ngủ vì buồn phiền” trong trình thuật Đức Giêsu cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu (Lc 22, 45). Đức Giêsu đã phải ra lệnh cho họ “hãy trỗi dậy và cầu nguyện để khỏi đi vào cơn cám dỗ” (Lc 22, 46). “Sự nặng trĩu vì buồn ngủ” trong bối cảnh này cũng cho thấy họ không đủ sức thức tỉnh cầu nguyện cùng Đức Giêsu và đón nhận thông điệp về cuộc xuất hành với Người.
8. Ba cái lều – xuất hành: Sau khi thức giấc, ông Phêrô và hai môn đệ còn lại chợt thấy vinh quang của Người và hai người đang đứng với Người. Khi họ chia tay Người, ông Phêrô buột miệng nói cùng thầy của mình: “Thầy ơi! Chúng con ở đây thật là tốt, chúng con sẽ làm ba cái lều”. Những cái lều gợi nhớ đến thời gian dân Israel lang thang trong sa mạc. Họ luôn sống trong lều. Thiên Chúa ngự trong Lều Hội Ngộ (Lều Chứng Ước): “Đám mây bao phủ Lều Hội Ngộ và vinh quang Thiên Chúa lấp đầy Lều” (Xh 40,34.35). Vinh quang, đám mây, lều nối kết chặt chẽ với biến cố xuất hành của dân IsraEL. Tác giả Luca cho biết ngay thời điểm họ đang rời khỏi Đức Giêsu, thì ông Phêrô đề xuất dựng ba cái lều (một cho Đức Giêsu và hai cho hai vị ngôn sứ). Đề xuất này cho thấy ông Phêrô muốn những nhân vật kia ở lại cùng với Đức Giêsu trong bầu khí vinh quang mà họ đang thấy. “Vinh quang” là sự huy hoàng lộng lẫy, thường được nối kết với sự hiện diện của Chúa (x. Xh 24, 17; 40, 34). Sự ảnh hưởng của vinh quang Thiên Chúa làm cho khuôn mặt ông Môsê chiếu sáng đến nỗi người ta không thể nhìn trực tiếp vào mặt ông (Xh 34,30-35). Có lẽ, tác giả Luca có hình ảnh này trong đầu của họ, nhưng ông mở rộng ra cho ông Êlia nữa[12]. “Vinh quang” này cũng báo trước cho vinh quang mà Đức Giêsu sẽ đi vào sau khi chịu đau khổ (Lc 24, 26). Họ đã không biết nội dung cuộc thảo luận giữa Đức Giêsu và hai vị ngôn sứ. Điều duy nhất họ thấy là vinh quang của cõi thần thiêng. Vì điều này rất hợp với mong mỏi của họ, nên họ muốn được sống mãi trong bầu khí ấy. Hình ảnh dựng lều cũng có thể liên kết với truyền thống Lễ Lều, trong đó dân dựng lều và ở trong đó một tuần. Lễ Lều trong bối cảnh này giả định một nhãn quan cánh chung, và vinh quang Thiên Chúa được cử hành với niềm vui đặc biệt[13]. Đó có thể là phản ứng từ tiềm thức, không cần phải suy nghĩ nhiều. Cõ lẽ vì thế mà tác giả Luca ghi chú là “ông không biết điều ông nói”.
9. Tiếng từ đám mây: Đám mây đã chen ngang vào đề xuất mà ông Phêrô nghĩ là tốt lành.
Mc 9,7 | Mt 17,5 | Lc 9,35 |
Đây là Con Trai của Ta, người con yêu dấu, hãy nghe Người | Đây là Con Trai của Ta, người con yêu dấu, nơi Người, Ta hài lòng, hãy nghe Người. | Đây là Con Trai của Ta, người được tuyển chọn, hãy nghe Người. |
“Tiếng từ đám mây” gợi nhớ đến cảnh Đức Giêsu chịu Phép Rửa. Tiếng này không của ai khác ngoại trừ Chúa Cha. Thông điệp của tiếng từ trời gồm có ba phần: (1) Giới thiệu Người Con; (2) Đánh giá của Người Cha về Người Con; (3) Mệnh lệnh dành cho các môn đệ[14]. Cả ba tác giả đều đồng ý với nhau về phần (1) và (3) của “tiếng từ trời”. Chỉ có phần thứ hai là khác giữa các tác giả. Tác giả Mátthêu lặp lại y hệt nội dung của “tiếng từ trời” trong trình thuật Phép Rửa (Con của Ta, người Con yêu dấu, nơi Người Ta hài lòng) và thêm vào mệnh lệnh “hãy nghe Người”. Tác giả Máccô bỏ đi đoạn “nơi người ta hài lòng”. Tác giả Luca sửa đổi hoàn toàn phần thứ (2): “Người đã được tuyển chọn”. Tác giả như muốn nhấn mạnh đến đặc tính “chọn lựa”, liên hệ mật thiết với đặc tính của “Người Tôi Tớ của Chúa” trong Is 41, 9: “Ngươi là tôi tớ của Ta, Ta đã tuyển chọn ngươi và không đuổi ngươi đi”; Is 43, 10: “Ngươi là chứng nhân của Ta và tôi tớ Ta, người ta đã chọn lựa”; Is 42, 1: “này đây tôi tớ của Ta, người ta nâng đỡ, người Ta tuyển chọn, nơi người hồn Ta vui mừng, Ta đã đặt Thần Khí của Ta trên người, người sẽ mang lại công lý cho muôn quốc gia”[15]. Đặc tính “được tuyển chọn” này có thể liên kết chặt chẽ với sứ vụ “hoàn tất cuộc xuất hành tại Giêrusalem” mà Đức Giêsu đã bàn luận trước đó.
10. “Hãy nghe Người”: Thay vì nắm giữ những hình ảnh của Cựu Ước, “tiếng từ đám mây” muốn các môn đệ hướng về tương lai bằng cách lắng nghe Đấng còn cao trọng hơn ông Môsê và Êlia[16]. “Tiếng từ đám mây” giới thiệu về căn tính của Đức Giêsu là để khuyến khích các môn đệ “hãy nghe Người”. Đấng mà họ phải nghe là “Con Thiên Chúa”, có đầy đủ độ tin cậy để họ có thể phó thác đời mình. Hơn nữa, Người là Đấng duy nhất được Chúa Cha tuyển chọn. Trong bối cảnh này, điều mà “tiếng từ trời” muốn các môn đệ nghe là “cuộc xuất hành” mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem. Phản ứng của ông Phêrô (muốn dựng ba cái lều tại đây) cho thấy các ông không muốn nghe về chuyện này. Hơn nữa, các ông đã ở trong tình trạng nặng trĩu vì buồn ngủ và không nghe tý gì về nội dung cuộc đàm đạo. Sự nặng trĩu này vẫn kéo dài mãi cho đến trong Vườn Cây Dầu. Nghe Đức Giêsu, đồng nghĩa với việc đón nhận “cuộc xuất hành”, cũng đồng nghĩa với việc đón nhận những mặc khải về cuộc thương khó và phục sinh mà Đức Giêsu đang cố gắng dạy cho các ông. Trên thực tế, Đức Giêsu cố gắng dạy các môn đệ ba lần về “cuộc xuất hành” tại Giêrusalem. Biến cố “Biến Hình” nằm giữa hai lần dạy về mầu nhiệm thương khó (9,22; 9,44-45). Lần thứ ba được tác giả đặt vào bối cảnh Đức Giêsu gần đến Giêrusalem (18,31-34). Ngoại trừ lần thứ nhất, tác giả Luca không ghi lại phản ứng của các môn đệ, hai lần còn lại, các môn đệ đều phản ứng cách tiêu cực. Sau lời tiền báo về cuộc thương khó lần thứ hai, các môn đệ “không hiểu”, “nhưng sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy” (9, 45). Tương tự, trong lần thứ ba, các môn đệ “không hiểu gì cả; đối với các ông lời ấy còn bí ẩn, nên các ông không rõ những lời Người nói” (18, 34). Có thể nói rằng, phải chờ đến sau khi Đức Giêsu Phục Sinh, các môn đệ mới có thể hiểu ra được ý nghĩa của toàn bộ mầu nhiệm thương khó – phục sinh, để “nghe Người” một cách trọn vẹn. Mệnh lệnh “hãy nghe Người là một ám chỉ có tính toán đến Đnl 18, 15: “Chúa sẽ cho xuất hiện giữa anh chị em một ngôn sứ như tôi cho anh chị em, từ giữa những người anh em của anh chị em, chính Người là Đấng anh chị em phải lắng nghe”. Đức Giêsu được chứng nhận không những là Con Thiên Chúa và người tôi tớ được chọn, mà còn là “vị ngôn sứ như ông Môsê”[17].
11. “Giữ im lặng – không nói cùng ai”: Phản ứng của các môn đệ khá lạ lùng. Họ quyết định “giữ im lặng và không kể gì cho ai về điều họ đã chứng kiến”. Trong Tin Mừng Mátthêu và Máccô, Đức Giêsu truyền cho các ông “không được nói với ai về điều họ đã thấy cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17, 9; Mc 9, 9). Sự im lặng của họ có thể nói lên hai điều. Thứ nhất, các môn đệ được cho thấy vâng giữ mệnh lệnh của Đức Giêsu trong 9, 21, rằng họ phải giữ im lặng về căn tính “Kitô” của Người. Thứ hai, chỉ sau “cuộc xuất hành” của vị “Ngôn Sứ” đã được hoàn tất và những nhân chứng này được trao ban Thánh Linh, họ mới có thể trở thành “những người phục vụ của lời Chúa”[18].
Bình luận tổng quát
Lời tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20) của Tông Đồ Phêrô được tiếp nối với lời tiền báo lần thứ nhất về cuộc Thương Khó – Phục Sinh (Lc 9, 22). Tiếp theo sau đó là “những điều kiện phải có để theo Đức Giêsu”, bao gồm “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (9, 23). Những dữ liệu vừa cho thấy căn tính “Mêsia” của Đức Giêsu vừa cho thấy con đường khổ giá mà Người nhất quyết phải đi và Người cũng mời gọi các môn đệ đón nhận và đi theo Người đến cùng. Trình thuật về biến cố “Biến Hình” là một trình thuật đặc biệt có một không hai. Nó vừa cho thấy thế nào là vinh quang của “Đấng Kitô của Thiên Chúa”, vừa cho bật mí “cuộc xuất hành” mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem. Trong bối cảnh không gian – núi (thường là nơi gặp gỡ Chúa) – và trong bầu khí cầu nguyện (giây phút gặp gỡ nói chuyện với Chúa Cha), Đức Giêsu đã biến đổi khuôn mặt và y phục. Khuôn mặt đổi khác và y phục chiếu sáng màu trắng. Người không chủ ý bày tỏ dung mạo chói sáng, khác thường này cho các môn đệ, vì các ông đang bị giấc ngủ đè nặng. Hai nhân vật của Cựu Ước, những người đã từng trải qua cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa trên núi Sinai (Khôrép) và là những ngôn sứ với vai trò dẫn dắt dân, đặc biệt là ông Môsê dẫn dắt dân trong cuộc xuất hành. Đức Giêsu trong vị thế là một ngôn sứ “như ông Môsê” mà còn hơn ông Môsê nữa, sẽ dẫn dắt dân Người qua sa mạc trần gian để bước vào cõi sống vĩnh cửu. Trong biến cố này, các môn đệ, cũng như các độc giả thấy trước vinh quang phục sinh của Đức Giêsu. Họ cũng được thấy trước sự bất tử của hai nhân vật Cựu Ước. Cảnh vinh quang, sáng láng ấy đã làm cho họ ngất ngây và muốn hưởng nếm dài lâu qua hình ảnh “làm ba cái lều”. Tuy nhiên, tiếng nói từ trời đã mang họ về với hiện tại với một mặc khải quan trọng và lời mời gọi cần thiết. Đức Giêsu không những là Đấng Kitô mà còn là Con của Thiên Chúa, Đấng được tuyển chọn. Đó là căn tính, địa vị mà các môn đệ có thể tin cậy tuyệt đối. “Lời từ đám mây” mời gọi các môn đệ “nghe” Đức Giêsu, có nghĩa là nghe về cuộc “xuất hành” mà Người sẽ hoàn tất. Cuộc “xuất hành” ấy được Đức Giêsu bật mí, và chỉ dạy đến ba lần (Lc 9, 22; 9,44-45; 18,31-34). Tuy nhiên, các môn đệ, không hiểu và cũng không muốn đón nhận. Sự nặng trĩu vì buồn ngủ làm cho họ không thể tham dự vào buổi cầu nguyện làm biến đổi hình dạng của Đức Giêsu, cũng như không nghe được nội dung cuộc đàm đạo giữa Người và hai chứng nhân Cựu Ước. Đó là hình ảnh tượng trưng cho giấc ngủ vì buồn sầu khi Đức Giêsu cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu. Giấc ngủ mê mệt ấy đã làm cho họ không thể tỉnh táo để vượt qua thử thách. Sự thinh lặng của các môn đệ tượng trưng cho một khoảng lặng giữa cuộc thương khó, cái chết của Đức Giêsu. Trong khoảng thời gian ấy, chắc chắn các môn đệ không thể kể gì nói gì, mãi cho đến sau Phục Sinh. Với sự hiện xuống và đồng hành của Chúa Thánh Linh, họ mới cất lời rao giảng toàn bộ cuộc xuất hành mà Thầy Giêsu đã trải qua.
Thường khi cầu nguyện người ta thường xin cho mình thoát khỏi nguy khốn, đau khổ, nghịch cảnh. Người ta ít quan tâm Chúa muốn gì trên cuộc đời họ, đặc biệt là trong những nghịch cảnh của cuộc đời. Các môn đệ cũng không ngoại trừ, họ chỉ tỉnh giấc và thấy vinh quang của Đức Giêsu và không biết gì đến nỗi đau khổ mà Người sắp phải chịu. Đức Giêsu, trong buổi cầu nguyện với Chúa Cha, bày tỏ vinh quang của mình, nhưng không trốn tránh đau khổ, Người tìm thánh ý Chúa Cha, dẫu rằng thánh ý ấy sẽ dẫn Người vào cuộc thương khó và cái chết. Buổi cầu nguyện hôm nay được nối dài và hoàn tất nơi buổi cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu, nơi đó Người đã đổ mồ hôi màu, nhưng nhất quyết cho ý Cha được nên trọn. Chắc chắn Người cũng mời gọi các môn đệ xưa, và tất cả các kitô cũng yêu mến thánh ý Chúa Cha và can đảm bước tới như Người. Có như thế, chương trình cứu độ trên từng người và trên toàn thể nhân loại mới được hoàn tất và mọi người không chỉ là thấy vinh quang nhưng được hưởng vinh quang với Người mãi mãi trên quê trời.
---Hết---
Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/03/vinh-quang-va-kho-nan-chu-giai-tin-mung.html (Cập nhật ngày 15/03/2025)
[12] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX, 800; “In Luke δόξα belongs to God and God’s world” (F. Bovon – H. Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50, 377).
[13] “According to the principle of correspondence between originary and eschatological time, the hope would also be for an eschatological existence under the tent” (F. Bovon – H. Koester, Luke 1, 378); “a celebration in remembrance of God’s provision during the journey in the wilderness and in anticipation of eschatological deliverance” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 383).
[14] “The word of God identifies Jesus in three ways—as the Son of God (cf. 1:31–35; 3:21–4:13), as the Isaianic Servant of Yahweh (cf. Isa 42:1; Luke 23:35), and as the prophet like Moses (cf. Acts 3:22–23)” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 384).
[15] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 154.
[16] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes, 803.
[17] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 156.
[18] Ibid.