HOÁN CẢI LÀ SỐNG, SỐNG LÀ HOÁN CẢI.
Chú giải Tin Mừng CN III MC C (Lc 13,1-9)
7. Đến tìm trái … không tìm thấy… hãy chặt: Dụ ngôn là một minh họa cụ thể cho những tình trạng không hoán cải. Dụ ngôn này gợi nhớ đến lời cảnh báo của ông Gioan Tẩy giả dành cho đám đông “hãy sinh hoa quả xứng với lòng hoán cải”. Hình ảnh “chặt” những “cây không sinh hoa trái” cũng rất giống với lời cảnh báo của Gioan Tẩy Giả: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: Bất cứ cây nào không sinh hoa quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Lc 3, 9) hay hình ảnh “tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: Thóc mẩy thì thu vào kho lẫm còn trấu thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Lc 3, 17). Hai tác giả Mátthêu và Luca đều kể câu chuyện Đức Giêsu chúc dữ cho cây vả trên đường trở lại thành Giêrusalem, vì Người không tìm thấy trái và nó đã chết khô ngay lập tức (Mt 21,18-22; Mc 11,12-14.20-24). Tác giả Luca không ghi lại câu chuyện này, nhưng ông lại có “dụ ngôn cây vả không ra trái” (không có trong Mátthêu và Máccô), trong đó cũng đề cập đến cây vả không có trái và có nguy cơ bị chặt bỏ. L. Johnson nghĩ rằng dụ ngôn của Luca có cùng truyền thống với hai tác giả còn lại nhưng tác giả đã chuyển đổi nó theo dụng ý thần học của mình. Cây vả và cây nho được tìm thấy hiện diện cùng nhau trong Mk 4, 4 và Ge 2, 22 như những dấu hiệu của sự chúc lành của Chúa[10]. Dụng ý của dụ ngôn rất rõ ràng là nhằm nói về “hoa trái của lòng hoán cải” và hình phạt dành cho người “không sinh hoa trái của lòng hoán cải”. Gioan đã giới thiệu cụ thể những điều phải làm cho các nhóm người khác nhau để sinh hoa trái. Đám đông dân chúng phải biết chia cơm sẻ áo cho những người túng thiếu; Người thu thuế không được thu thêm những gì đã được ấn định; những quân nhân không được đàn áp và nhận hối lộ, phải bằng lòng với số lương của mình (x. Lc 3,10-14)[11]. “Chặt đi” đồng nghĩa với việc giết chết cây vả. Nguy cơ của cái chết dành cho cây vả không ra trái, tương đồng với nguy cơ “chết hết y như vậy” của những người không hoán cải được lặp lại hai lần trước đó. Vị thế ông chủ trong dụ ngôn này rất giống với vị thế của Thiên Chúa tối cao, Đấng có quyền phán xét, thưởng và phạt trong ngày cánh chung.
8. Đã ba năm … một năm nữa: Quãng thời gian ba năm diễn tả một quãng thời gian chờ đợi đủ dài cho một cây vả ra trái. Có thể đây là khoảng thời gian tính từ năm một cây vả đã trưởng thành và có thể cho trái[12], nhưng mãi đến ba năm sau nó vẫn không ra trái. Hình ảnh người làm vườn, với đề xuất kéo dài thời hạn thêm một năm, rất phù hợp với hình ảnh Thiên Chúa nhân từ luôn tìm kiếm chiên lạc. Thiên Chúa là Đấng “chậm giận và giàu ân nghĩa” (Ds 14, 18); “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86, 15; 103, 8). Người như một người cha mãi đợi chờ, không chỉ một năm, nhưng có thể nhiều năm, cho đến khi người con thứ hối hận và trở về (x. Lc 15,11-32). Khoảng thời gian ba năm đến tìm trái đã là khoảng thời gian đợi chờ kiên nhẫn, và khoảng thời gian năm thứ tư, một năm nữa là quãng thời gian của lòng thương xót đúng như bản chất của Thiên Chúa[13]. Ai có thể chắc chắn rằng, sau năm thứ bốn, ông chủ lại không kéo dài thêm một năm nữa. Con người luôn có khả năng thay đổi và Thiên Chúa luôn mong chờ khoảnh khắc ấy. Câu chuyện đặc biệt về người trộm cướp cùng chịu đóng đinh một lần với Chúa là một minh chứng cụ thể, sống động cho sự hoán cải trong phút chốc của con người. Thật không quá đáng khi gọi anh ta là “kẻ trộm nước Thiên Đàng”. Chỉ cần một khoảng thời gian ngắn ngủi cuối cuộc đời đầy những lỗi lầm, anh ta đã tận dụng một cách hiệu quả: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23, 43).
9. Đào xới và bón phân: Vai trò của người trung gian là rất quan trọng. Ông ta không những đề xuất kéo dài thêm một năm mà còn chăm bón cây vả một cách tốt nhất để cho nó trổ sinh hoa trái[14]. Điều này cũng ngụ ý rằng, cây vả đã được trao cho cơ hội và điều kiện tốt nhất để sinh hoa trái. Nếu nó không thể sinh hoa trái nữa thì không còn cách nào khác là đành phải chặt nó đi. Thiên Chúa luôn ban cho con người đủ thời gian và đủ ân sủng để hoán cải và trổ sinh hoa trái. Tuy nhiên, đến cuối cùng, nếu họ vẫn không hoán cải theo những giá trị Tin Mừng mà Đức Giêsu mời gọi, họ tự mình đánh mất ơn cứu độ của Chúa.
Bình luận tổng quát
Đức Giêsu vẫn tiếp tục rảo bước trên hành trình lên Giêrusalem, hành trình rao giảng chuẩn bị cho cuộc “xuất hành” mà Người sẽ hoàn tất tại Giêrusalem, tức là khổ nạn và phục sinh. Trên hành trình ấy, có những người đã đến kể cho Người nghe câu chuyện về những người Galilê bị Philatô giết, khiến máu hòa lẫn với lễ vật của họ. Rất khó để truy nguồn lịch sử của câu chuyện này. Điều mà độc giả có thế thấy rõ là ẩn ý quan điểm nguyên nhân và hậu quả, tội lỗi và hình phạt của Thiên Chúa trong suy nghĩ của những người kể câu chuyện này. Người ta chết thảm là do Chúa phạt nặng. Những nạn nhân trong câu chuyện bị chết cách đau khổ như thế bởi vì họ là những người tội lỗi bậc nhất trong vùng Galilê. Vì đọc được suy nghĩ lệch lạc có phần kết án của những người kể chuyện, Đức Giêsu đã lập tức chấn chỉnh: “Không phải thế đâu”. Cùng lúc, Người đưa ra lời mời gọi “hoán cải”. Thêm vào đó, Người đưa thêm một dẫn chứng khác: Mười tám người bị tháp Siloam đè chết một cách ngẫu nhiên, vô lý. Trong lúc nhóm nạn nhân bị ông Philatô giết còn một lý giải khác là do sự tàn ác của lãnh đạo đế quốc, cái chết của nhóm nạn nhân ở Siloam chỉ có thể lý giải bằng án phạt của Chúa dành cho những lỗi lầm của họ. Đức Giêsu một lần nữa khẳng định, ngay cả những người bị tai nạn ngẫu nhiên ấy, cũng không phải là những người bị án tử hình của Chúa. Hai lần nhắc lại câu phủ định “không phải thế đâu”. Không phải những nạn nhân của lãnh chúa, hoặc của tai nạn là do họ tội lỗi hơn những người khác cùng thời, cùng vị trí địa lý. Hai lần mời gọi: “Nếu các ngươi không hoán cải, thì các ngươi cũng sẽ chết hết như vậy”. Tuy những cái chết thảm thương ấy không chứng minh tỏ tường về tội lỗi của những nạn nhân, nó lại là những cái chết báo trước cách tỏ tường cho những người không hoán cải. Sự lặp lại lời khẳng định “không phải thế” và lời mời gọi “hoán cải”, vừa mang tính nhấn mạnh, cảnh báo, vừa biểu lộ tính tha thiết, kêu mời. Hai địa danh Giêrusalem (miền Nam) và Galilê (miền Bắc) trong hai câu chuyện như bao trùm cả quốc gia lãnh thổ của nước Ítrael. Miền Bắc, nơi Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ và được đáp trả bằng sự chối từ, căm giận của dân làng Nadarét, đến nỗi muốn xô Người xuống núi. Đó cũng là nơi có những thành phố mà Đức Giêsu cảm thấy xót xa vì họ không biết hoán cải: Thành Khorazin, Bếtsaiđa và Caphácnaoum (Lc 10,13-15). Miền Nam, Giêrusalem, nơi mà Người sẽ bị nộp, chịu nạn và chịu chết trên thập giá. Đức Giêsu cũng đã thương khóc cho thành Giêrusalem, vì họ đã giết các ngôn sứ và ném đá những người Chúa sai đến (Lc 13, 34). Ngay trước trình thuật này là nhận xét của Đức Giêsu về đám đông: Họ biết nhận xét cảnh sắc đất trời qua dấu hiệu thời tiết, nhưng lại mù tịt về thời đại của Đấng Mêsiah (Lc 12,54-56). Sau trình thuật này, là câu chuyện Đức Giêsu chữa lành một người phụ nữ bị Xatan trói buộc mười tám năm, trong đó, ông trưởng hội đường đã tức tối vì Đức Giêsu chữa bệnh vào ngày Sabát (Lc 13,10-17). Tất cả như một bức tranh ảm đạm của sự thiếu lòng hoán cải qua việc đón nhận Đức Giêsu và Tin Mừng của Người. Dụ ngôn cây vả không ra trái như là một minh họa sống động cho lời mời gọi hoán cải và nguy cơ ẩn tàng cho sự thiếu hoán cải. Cây không chỉ sống mà thôi, nhưng còn phải cho hoa, cho trái. Người chủ vườn luôn trông chờ nơi cây vả những hoa thơm trái ngọt. Con người không chỉ tồn tại mà thôi, họ còn được mời gọi hoán cải và sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải. Thiên Chúa luôn chờ đợi con Người trở về với Người. Người chờ đợi ba năm, rồi thêm một năm nữa và có thể thêm nhiều lần “một năm nữa”. Người không chỉ kéo dài thời gian cách thụ động, Người còn làm tất cả mọi sự, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ trở về. Như người làm vườn chăm bón cho cây vả, Thiên Chúa cũng gửi những người trung gian để chăm sóc, hướng dẫn, thúc bách từng tâm hồn để họ có thể sinh hoa trái tốt lành. Dĩ nhiên, ông chủ không muốn và không chờ đợi giây phút mà Người phải chặt cây vả đi sau bao nhiêu năm vun trồng. Thiên Chúa cũng không chờ đợi để trừng phạt tội nhân. Người chỉ muốn họ thay đổi và được tha thứ. Cho đến cuối cùng, sau tất cả những cố gắng vun xới, đợi chờ, mà người ta vẫn không sinh hoa trái tốt lành, giải pháp “bất đắc dĩ” là Thiên Chúa đành phải để con mình đi vào hỏa ngục trong nuối tiếc xót xa.
Thời gian ba năm + một, trong dụ ngôn “cây vả không sinh trái” có thể được ví như thời gian Mùa Chay. Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta ba nẻo đường thuận tiện nhất trong tiến trình hoán cải: Ăn chay, cầu nguyện và cho đi. Ăn chay để biết mình yếu đuối, mỏng giòn và cần Chúa. Đó cũng là phương cách để trải nghiệm rằng “người ta sống không chỉ nhờ bánh mì, nhưng còn bởi Lời do từ miệng Thiên Chúa”. Hơn nữa, khi không quá bận tâm đến cái ăn, cái mặc, người ta có nhiều thời gian hơn cho Chúa và cho người khác. Cầu nguyện là nối lại tương quan đối thoại với Chúa, để biết được ý muốn của Người trên cuộc đời mình. Giống như Đức Giêsu cầu nguyện trên núi Biến Hình, để suy gẫm về cuộc “xuất hành” mà Cha muốn Người hoàn tất. Cầu nguyện, giúp hàn gắn lại những tương quan đổ vỡ với Chúa và với tha nhân. Những giây phút tĩnh lặng bên Chúa cũng giúp cho con người đối diện với chính mình, tìm thấy lại căn tính của đời mình dưới ánh sáng của Chúa. Cuối cùng, “cho đi” giúp người ta hướng đến tha nhân một cách thiết thực. Đó là cách bày tỏ tình yêu, sự quan tâm trong tình anh chị em bằng hữu cách cụ thể. Cho đi thời gian, của cải, và sức lực cũng là biểu lộ của “tính người” một cách rõ ràng nhất. “Cho đi” cũng làm cho người ta thanh thoát với của cải, sở hữu, để chỉ còn “làm tôi” một mình Thiên Chúa mà thôi.
--- Hết ---
Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/03/hoan-cai-la-song-song-la-hoan-cai-chu.html (Cập nhật ngày 20/03/2025)
[10] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 211.
[11] Xem thêm về hoa trái của lòng hoán cải trong, J.P.D. Thạch “Những Hoa Trái của Lòng Hoán Cải. Chú Giải Tin Mừng CN III MV C (Lc 3,10-18)”, [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: NHỮNG HOA TRÁI CỦA LÒNG HOÁN CẢI. Chú giải Tin Mừng CN III MV C (Lc 3,10-18) (josephpham-horizon.blogspot.com)]; “In the Sermon on the Plain Jesus similarly notes the import of bearing good fruit (6:43–45), but this element is especially well developed in his parabolic teaching on sowing (8:4–15). There, “authentic hearing” of the word of God is demonstrated in “bearing fruit” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 515).
[12] “The three years that are mentioned are to be added to the first years of maturation that would normally be expected before the tree would bear fruit” (F. Bovon, Luke 2, 271).
[13] “Jesus continues by insisting that the unrepentant have escaped judgment not because of their relative sanctity but because of God’s mercy” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 515).
[14] F. Bovon, Luke 2, 271.