Ngày tháng: 03/04/2025
Đang truy cập: 98

Chúa nhật IV Mùa Chay - Năm C (1/3)

HAI NGƯỜI CON LẠC.

Chú giải Tin Mừng CN IV MC C

(Lc 15,1-3.11-32)

 

Bản văn và dịch sát nghĩa

Hy Lạp

Việt

Ἦσαν δὲ αὐτῷ ἐγγίζοντες πάντες οἱ τελῶναι καὶ οἱ ἁμαρτωλοὶ ἀκούειν αὐτοῦ.

 2 καὶ διεγόγγυζον οἵ τε Φαρισαῖοι καὶ οἱ γραμματεῖς λέγοντες ὅτι οὗτος ἁμαρτωλοὺς προσδέχεται καὶ συνεσθίει αὐτοῖς.

 3 Εἶπεν δὲ πρὸς αὐτοὺς τὴν παραβολὴν ταύτην λέγων·

 11 Εἶπεν δέ· ἄνθρωπός τις εἶχεν δύο υἱούς.

 12 καὶ εἶπεν ὁ νεώτερος αὐτῶν τῷ πατρί· πάτερ, δός μοι τὸ ἐπιβάλλον μέρος τῆς οὐσίας. ὁ δὲ διεῖλεν αὐτοῖς τὸν βίον.

 13 καὶ μετ᾽ οὐ πολλὰς ἡμέρας συναγαγὼν πάντα ὁ νεώτερος υἱὸς ἀπεδήμησεν εἰς χώραν μακρὰν καὶ ἐκεῖ διεσκόρπισεν τὴν οὐσίαν αὐτοῦ ζῶν ἀσώτως.

 14 δαπανήσαντος δὲ αὐτοῦ πάντα ἐγένετο λιμὸς ἰσχυρὰ κατὰ τὴν χώραν ἐκείνην, καὶ αὐτὸς ἤρξατο ὑστερεῖσθαι.

 15 καὶ πορευθεὶς ἐκολλήθη ἑνὶ τῶν πολιτῶν τῆς χώρας ἐκείνης, καὶ ἔπεμψεν αὐτὸν εἰς τοὺς ἀγροὺς αὐτοῦ βόσκειν χοίρους,

 16 καὶ ἐπεθύμει χορτασθῆναι ἐκ τῶν κερατίων ὧν ἤθιον οἱ χοῖροι, καὶ οὐδεὶς ἐδίδου αὐτῷ.

 17 εἰς ἑαυτὸν δὲ ἐλθὼν ἔφη· πόσοι μίσθιοι τοῦ πατρός μου περισσεύονται ἄρτων, ἐγὼ δὲ λιμῷ ὧδε ἀπόλλυμαι.

 18 ἀναστὰς πορεύσομαι πρὸς τὸν πατέρα μου καὶ ἐρῶ αὐτῷ· πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου,

 19 οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου· ποίησόν με ὡς ἕνα τῶν μισθίων σου.

 20 καὶ ἀναστὰς ἦλθεν πρὸς τὸν πατέρα ἑαυτοῦ. Ἔτι δὲ αὐτοῦ μακρὰν ἀπέχοντος εἶδεν αὐτὸν ὁ πατὴρ αὐτοῦ καὶ ἐσπλαγχνίσθη καὶ δραμὼν ἐπέπεσεν ἐπὶ τὸν τράχηλον αὐτοῦ καὶ κατεφίλησεν αὐτόν.

 21 εἶπεν δὲ ὁ υἱὸς αὐτῷ· πάτερ, ἥμαρτον εἰς τὸν οὐρανὸν καὶ ἐνώπιόν σου, οὐκέτι εἰμὶ ἄξιος κληθῆναι υἱός σου.

 22 εἶπεν δὲ ὁ πατὴρ πρὸς τοὺς δούλους αὐτοῦ· ταχὺ ἐξενέγκατε στολὴν τὴν πρώτην καὶ ἐνδύσατε αὐτόν, καὶ δότε δακτύλιον εἰς τὴν χεῖρα αὐτοῦ καὶ ὑποδήματα εἰς τοὺς πόδας,

 23 καὶ φέρετε τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, θύσατε, καὶ φαγόντες εὐφρανθῶμεν,

 24 ὅτι οὗτος ὁ υἱός μου νεκρὸς ἦν καὶ ἀνέζησεν, ἦν ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη. καὶ ἤρξαντο εὐφραίνεσθαι.

 25 Ἦν δὲ ὁ υἱὸς αὐτοῦ ὁ πρεσβύτερος ἐν ἀγρῷ· καὶ ὡς ἐρχόμενος ἤγγισεν τῇ οἰκίᾳ, ἤκουσεν συμφωνίας καὶ χορῶν,

 26 καὶ προσκαλεσάμενος ἕνα τῶν παίδων ἐπυνθάνετο τί ἂν εἴη ταῦτα.

 27 ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ ὅτι ὁ ἀδελφός σου ἥκει, καὶ ἔθυσεν ὁ πατήρ σου τὸν μόσχον τὸν σιτευτόν, ὅτι ὑγιαίνοντα αὐτὸν ἀπέλαβεν.

 28 ὠργίσθη δὲ καὶ οὐκ ἤθελεν εἰσελθεῖν, ὁ δὲ πατὴρ αὐτοῦ ἐξελθὼν παρεκάλει αὐτόν.

 29 ὁ δὲ ἀποκριθεὶς εἶπεν τῷ πατρὶ αὐτοῦ· ἰδοὺ τοσαῦτα ἔτη δουλεύω σοι καὶ οὐδέποτε ἐντολήν σου παρῆλθον, καὶ ἐμοὶ οὐδέποτε ἔδωκας ἔριφον ἵνα μετὰ τῶν φίλων μου εὐφρανθῶ·

 30 ὅτε δὲ ὁ υἱός σου οὗτος ὁ καταφαγών σου τὸν βίον μετὰ πορνῶν ἦλθεν, ἔθυσας αὐτῷ τὸν σιτευτὸν μόσχον.

 31 ὁ δὲ εἶπεν αὐτῷ· τέκνον, σὺ πάντοτε μετ᾽ ἐμοῦ εἶ, καὶ πάντα τὰ ἐμὰ σά ἐστιν·

 32 εὐφρανθῆναι δὲ καὶ χαρῆναι ἔδει, ὅτι ὁ ἀδελφός σου οὗτος νεκρὸς ἦν καὶ ἔζησεν, καὶ ἀπολωλὼς καὶ εὑρέθη.

 (Lk 15:11-32 BGT)

1 Bởi vì tất cả những người thu thuế, cùng những kẻ tội lỗi thường đến với Đức Giêsu để nghe Người,

2 và những người Pharisêu và các Kinh Sư cứ kêu trách, nói rằng: ‘Ông ấy tiếp đón phường tội lỗi và cùng ăn với chúng’.

3 Người mới nói cùng họ dụ ngôn này, rằng:

11 “Một người nọ có hai con trai.

12 Người con thứ nói với cha: ‘Thưa cha, xin ban cho con một phần tải sản thuộc về con!’ Rồi người cha đã phân chia của cải cho họ.

13 Không nhiều ngày sau đó, sau khi thu gom tất cả, người con thứ lên đường đi vào nơi xa xôi. Và ở đó, anh ta phung phí tài sản của anh vào lối sống buông thả.

14 Sau khi anh ta đã tiêu xài hết tất cả [tài sản] của anh, thì có một nạn đói nghiêm trọng xảy ra trong miền đó và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu.

15 Anh ta ra đi để được sống bám vào một người dân trong vùng ấy; và người này sai anh ta ra cánh đồng để chăn heo.

16 Lúc ấy, anh ta cứ ao ước có thể lấp thỏa mãn cơn đói với những hạt đậu muồng mà những con heo thường ăn, nhưng không ai cho anh ta.

17 Sau khi đi vào trong chính nội tâm của mình, anh xác định rằng: ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết vì nạn đói ở đây!

18 Sau khi trỗi dậy, tôi sẽ đi về cùng cha tôi, và sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót phạm tội chống lại trờitrước mặt cha;

19 con không còn đáng được gọi là con cha nữa, xin xử với con như một trong những người làm công của cha thôi’.

20 Và sau khi trỗi dậy, anh ta đã đi về cùng cha anh ta. Khi anh ta còn ở đàng xa, thì cha anh ta đã thấy nó, và ông chạnh lòng thương và sau khi chạy đến, ông bá lấy cổ nó mà hôn thắm thiết.

21 Người con mới nói với ông: ‘Thưa cha, con đã phạm tội chống lại trờitrước mặt cha, con không còn xứng đáng được gọi là con cha nữa’

22 Nhưng cha của anh ta đã nói cùng các đầy tớ: ‘Hãy mau đem áo choàng loại một mà mặc cho cậu, hãy đặt nhẫn vào tay nó, và giày vào chân nó;

23 rồi mang con bê đã được vỗ béo và giết thịt, chúng ta phải ăn tiệc mừng,

24 vì người con này của ta, người đã chết mà lại sống lại, đã mất đi mà lại được tìm thấy’. Và họ bắt đầu chung vui.

25 Nhưng người con cả của ông thường ở ngoài cánh đồng. Sau khi về đến, anh ta lại gần ngôi nhà, anh ta nghe tiếng nhạc và nhảy múa.

26 Sau khi gọi một người đầy tớ lại, anh ta cứ hỏi những điều ấy có nghĩa gì.

27 Người đầy tớ nói với anh ta: ‘Người em của cậu đã về đến, và cha cậu đã cho giết thịt con bê đã được vỗ béo, vì ông đã nhận lại cậu trong tình trạng khỏe mạnh’.

 

28 Nhưng anh ta đã nổi giậncứ không muốn đi vào trong. Sau khi đi ra, cha của anh ta nài nỉ anh ta.

 

29 Để đáp lại, anh ta nói với cha của anh rằng: ‘Xem kìa! Đã bao nhiêu năm trời, tôi làm tôi mọi cho ông và không bao giờ trái lệnh của ông; nhưng ông không bao giờ cho tôi được một con dê con để ăn mừng với những đứa bạn của tôi.

30 Còn nó, thằng con ông, sau khi đã nuốt hết tài sản của ông với gái mãi dâm, trở về, thì ông lại giết thịt con bê đã được vỗ béo.

31 Ông nói cùng anh ta: ‘Này con! con luôn ở với cha, thì tất cả những gì của cha đều là của con.

32 Nhưng nhất thiết phải hân hoan và tổ chức tiệc mừng, vì nó, em con đó, đã chết lại sống, đã mấtlại được tìm thấy.’”

Bối cảnh: Dụ ngôn được gọi là “người cha nhân hậu”[1]; “người con hoang đàng”; hay “hai người con”[2] được đặt trong bối cảnh những người Pharisêu và những Kinh Sư cứ kêu trách về việc tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi đến để nghe Đức Giêsu. Dụ ngôn này được đặt sau hai dụ ngôn khác nói về sự thất lạc và tìm thấy: (1) Con chiên bị mất và được tìm thấy (Lc 15,4-7); (2) Dụ ngôn đồng bạc bị mất và được tìm thấy (Lc 15,8-10). Hai dụ ngôn nói về sự lạc mất của con vật, sự vật dẫn đến dụ ngôn thứ ba nói về sự lạc mất của con người, hai người con trong gia đình Thiên Chúa. Nhìn thời lượng của dụ ngôn thứ ba (22 câu) so với cả hai dụ ngôn thứ nhất và thứ hai (7 câu) độc giả có thể thấy tầm quan trọng của dụ ngôn thứ ba, dụ ngôn “người cha nhân hậu”. Chủ đề “hoán cải – giao hòa” là một chủ đề bao trùm toàn bộ Tin Mừng Luca khởi đầu từ lời tụng ca “Bênêđíctus của ông Dacariah, bố của ông Gioan Tẩy Giả: “Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1, 77). Gioan Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa, rao giảng, kêu gọi người ta chịu Phép Rửa của lòng hoán cải để được ơn tha tội (Lc 3, 3); Hoán cải đích thực phải được thể hiện bằng cách “sinh hoa trái xứng với lòng hoán cải” (Lc 3, 8)[3]. “Hãy hoán cải” là thông điệp Tin Mừng nền tảng và đầu tiên của Đức Giêsu: “Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”[4]. Người cũng khẳng định rằng “Người không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi đi vào cuộc hoán cải” (Lc 5, 32). Người cũng cho thấy niềm vui của triều thần trên trời vì một người tội lỗi hoán cải, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải hoán cải (Lc 15, 7). Sự trở lại của Lêvi, người thu thuế (Lc 5,27-32) và của cục trưởng chi cục thuế, Giakêu (Lc 19,1-10) là hai ví dụ khả thể cho chủ đề này. Trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khổ”, ông nhà giàu nói với tổ phụ Ápraham rằng “nếu có ai đến với họ từ cõi chết, họ sẽ hoán cải” (Lc 16, 30). Tin Mừng Luca khép lại với mệnh lệnh của Đức Giêsu dành cho các Tông Đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ hoán cải để được ơn tha tội” (Lc 24, 47). Dụ ngôn “người cha nhân hậu” là một ví dụ tuyệt vời nhất minh họa cho chủ đề lòng thương xót, và sự hoán cải.

Cấu trúc: Ngoài phần dẫn nhập nói về bối cảnh của dụ ngôn, đoạn văn còn lại gồm năm cảnh dựa trên hoạt động của các nhân vật.

Dẫn nhập (15,1-3): Lý do kể dụ ngôn

 Cảnh I: Người cha và hai người con (11-12)

             Cảnh II: Người con thứ sa đọa và hồi tâm (13-19)

 Cảnh III: Người cha và người con thứ (20-24)

            Cảnh IV: Người con cả trở về từ ngoài đồng (25-27)

 Cảnh V: Người cha và người con cả (28-32)

 Cảnh kết: Mở (có thể cảnh đoàn tụ cả ba cha con)

Một số điểm chú giải

1.     Người thu thuế và người tội lỗi: Cặp nhân vật “những người thu thuế” và “những người tội lỗi” thường đi chung với nhau. “Những người thu thuế” được định nghĩa bằng nghề nghiệp của họ, trong khi “những người tội lỗi” được định nghĩa bằng nhân cách đạo đức của họ. Thỉnh thoảng “những người thu thuế” đi chung với “những cô gái điếm” (cũng là những người tội lỗi) (Mt 21,31.32. Người thu thuế cũng được đồng hóa với người tội lỗi (x. Lc 19, 7). Điều mà cặp nhân vật này có chung là họ đều bị những người Do Thái đương thời khinh bỉ, ghét bỏ. Những người thu thuế bị ghét bỏ vì họ là những người làm việc cho đế quốc. Nhất là, họ thường tham lam “thu hơn những gì đã được ấn định” (Lc 3, 13) và gây đau khổ cho những người đồng hương. Những người tội lỗi bị khinh dễ vì họ xa rời Thiên Chúa, tách ra khỏi Thiên Chúa là Đấng Thánh Thiện. May mắn thay, cặp nhân vật này là những đối tượng mà Đức Giêsu muốn kêu gọi: “Ta không đến để kêu gọi người công chính mà là những người tội lỗi” (Mc 2, 17; Mt 9, 13; Lc 5, 32). Bằng chứng là họ thường được Đức Giêsu đồng hành, dạy dỗ, ăn uống với (Mc 2, 15; Lc 5, 30; 7, 34; 15, 1). Khác với các tác giả khác, tác giả Luca gắn liền câu chuyện “xức dầu Đức Giêsu” với một người phụ nữ tội lỗi vô danh trong thành (Lc 7,36-50). Chuyện xảy ra khi Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà một người Pharisêu tên là Simôn. Một người phụ nữ tội lỗi đã đi vào đã “đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên”. Ông Simôn đã nghi vấn về tư cách ngôn sứ của Đức Giêsu khi Người để cho người phụ nữ tội lỗi làm như thế. Câu chuyện kết thúc với kết thúc với lời tuyên bố tha tội và ơn cứu độ dành cho người phụ nữ ấy. Luca cũng là tác giả duy nhất ghi lại câu chuyện hoán cải của người trộm lành trên thánh giá (Lc 23,39-43). Tác giả Luca ghi lại nhiều chi tiết tích cực về những người thu thuế: (1) Những người thu thuế đến xin chịu Phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả và hỏi ông về điều mà họ phải làm để tỏ lòng hoán cải (Lc 3, 12); (2) Những người thu thuế nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Công Chính (Lc 7, 29); (3) Dụ ngôn người thu thuế cầu nguyện qua việc nhìn nhận tội lỗi của mình và được nên công chính (Lc 18,9-14); (4) Ông Giakêu, thủ lãnh những người thu thuế, hoán cải và được cứu độ; (5) Ơn gọi của Lê-vi, một người thu thuế (chuyện này có trong Mc và Mt). Trong bối cảnh dụ ngôn này, cặp nhân vật này cũng được tác giả Luca mô tả với cái nhìn tích cực vì họ dù tội lỗi nhiều nhưng đã biết hoán cải.

2.     Những Kinh Sư và những người Pharisêu: Đối lại với cặp nhân vật “người thu thuế-người tội lỗi” là cặp nhân vật “người Kinh Sư-người Pharisêu”. Đây là cặp nhân vật được những người Do Thái đương thời tôn trọng, yêu mến vì sự hiểu biết và những thực hành đạo đức. Họ là những người công chính theo nghĩa là những người giữ Lề Luật (Mt 5, 20). Họ chịu trách nhiệm giảng dạy dân chúng (Mt 23, 2). Tuy nhiên, họ thường được mô tả như là những cặp nhân vật “phản diện” trong các sách Tin Mừng. Họ thường tranh cãi với Đức Giêsu về truyền thống của tiền nhân (Mc 7,1-3). Tranh luận về luật “chữa bệnh vào ngày Sabát” (Lc 6, 3). Họ nghĩ Đức Giêsu phạm thượng khi Người tuyên bố tha tội cho người bại liệt (Lc 5, 21). Họ căm giận Đức Giêsu và gài bẫy để bắt lỗi Đức Giêsu (Lc 11,53-54). Họ thường trách cứ và lấy làm khó hiểu, khi Đức Giêsu ăn uống và làm bạn với những người thu thuế và những người tội lỗi (Lc 5, 30; 15, 1). Trong Tin Mừng Mátthêu, họ được gọi là “giả hình” nhiều lần (Mt 23,13.14.15.23.25.27.29). Trong bối cảnh này, họ xuất hiện như cặp nhân vật không hài lòng với sự kiện Đức Giêsu chào đón cặp nhân vật “người thu thuế-người tội lỗi”. Họ được mời gọi chia sẻ lòng thương xót của Chúa dành cho những người tội lỗi.

3.     Cha và hai con trai: Câu giới thiệu này cho thấy đây là một câu chuyện gia đình. Những nhân vật trong câu chuyện có tương quan ruột thịt. Nó hoàn toàn khác với hai dụ ngôn trước đó, nói về “đồng bạc bị mất” (một sự vật) và “một con chiên” (một con vật). Dụ ngôn nhấn mạnh tương quan căn bản tồn tại giữa người cha và hai người con[5].

---Còn tiếp---

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/03/nguoi-nguoi-con-lac-chu-giai-tin-mung.html (cập nhật ngày 28/3/2025)


[1] J. Jeremias, The Parables of Jesus (New York 1963) 128.

[2] T.W. Manson, The Sayings of Jesus as Recorded in the Gospels According to St. Matthew and St. Luke (London 1971) 284.

[3] Xem thêm về hoa trái của lòng hoán cải trong J.P.D. Thạch, “Những Hoa Trái của Lòng Hoán Cải. Chú Giải Tin Mừng CN III MV C” [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: NHỮNG HOA TRÁI CỦA LÒNG HOÁN CẢI. Chú giải Tin Mừng CN III MV C (Lc 3,10-18) (josephpham-horizon.blogspot.com)].

[4] “Hoán cải ở đây rõ ràng là không chỉ giới hạn vào sự hối lỗi và chừa lỗi nhưng là biến đổi lòng mình, trí mình, hành vi của mình theo cách suy cách nghĩ và cách hành động của Chúa” [LỜI BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI ῥήματα ζωῆς αἰωνίου: TỪ PHÉP RỬA HOÁN CẢI ĐẾN ƠN CỨU ĐỘ. Chú Giải Tin Mùng CN II MV C (Lc 3,1-6) (josephpham-horizon.blogspot.com)].

[5] C. Naseri, “Reading Luke 15:11-32 as the Parable of Mercy and Compassion”, CABAN 9 (2017) 142-159, 152.

zalo
zalo