Ngày tháng: 05/04/2025
01:02 AM
Đang truy cập: 9

Chúa Nhật VIII Thường Niên - Năm C (1/2)

CÂY TỐT – TRÁI TỐT; NGƯỜI TỐT – VIỆC TỐT.

Chú Giải Tin Mừng CN VIII TN C (Lc 6,39-45)

 

Bản văn và dịch sát nghĩa

 

Hy Lạp

Việt

39  Εἶπεν δὲ καὶ παραβολὴν αὐτοῖς· μήτι δύναται τυφλὸς τυφλὸν ὁδηγεῖν; οὐχὶ ἀμφότεροι εἰς βόθυνον ἐμπεσοῦνται;

 

40  οὐκ ἔστιν μαθητὴς ὑπὲρ τὸν διδάσκαλον· κατηρτισμένος δὲ πᾶς ἔσται ὡς ὁ διδάσκαλος αὐτοῦ.

 

41  Τί δὲ βλέπεις τὸ κάρφος τὸ ἐν τῷ ὀφθαλμῷ τοῦ ἀδελφοῦ σου, τὴν δὲ δοκὸν τὴν ἐν τῷ ἰδίῳ ὀφθαλμῷ οὐ κατανοεῖς;

42  πῶς δύνασαι λέγειν τῷ ἀδελφῷ σου· ἀδελφέ, ἄφες ἐκβάλω τὸ κάρφος τὸ ἐν τῷ ὀφθαλμῷ σου, αὐτὸς τὴν ἐν τῷ ὀφθαλμῷ σου δοκὸν οὐ βλέπων; ὑποκριτά, ἔκβαλε πρῶτον τὴν δοκὸν ἐκ τοῦ ὀφθαλμοῦ σου, καὶ τότε διαβλέψεις τὸ κάρφος τὸ ἐν τῷ ὀφθαλμῷ τοῦ ἀδελφοῦ σου ἐκβαλεῖν.

 

43  Οὐ γάρ ἐστιν δένδρον καλὸν ποιοῦν καρπὸν σαπρόν, οὐδὲ πάλιν δένδρον σαπρὸν ποιοῦν καρπὸν καλόν.

 

44  ἕκαστον γὰρ δένδρον ἐκ τοῦ ἰδίου καρποῦ γινώσκεται· οὐ γὰρ ἐξ ἀκανθῶν συλλέγουσιν σῦκα οὐδὲ ἐκ βάτου σταφυλὴν τρυγῶσιν.

 

45  ὁ ἀγαθὸς ἄνθρωπος ἐκ τοῦ ἀγαθοῦ θησαυροῦ τῆς καρδίας προφέρει τὸ ἀγαθόν, καὶ ὁ πονηρὸς ἐκ τοῦ πονηροῦ προφέρει τὸ πονηρόν· ἐκ γὰρ περισσεύματος καρδίας λαλεῖ τὸ στόμα αὐτοῦ. (Lk. 6:39-45 BGT)

39 Đức Giêsu còn nói với họ câu tục ngữ này: “Người mù có thể dẫn dắt người mù được không? Cả hai lại không té xuống giếng sao?”

 

40 Học trò không ở trên thầy, mỗi người khi được đào tạo đầy đủ chỉ bằng thầy của anh ta mà thôi.

 

41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?

 

42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: “Này người anh em, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra”, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!

 

43 “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả xấu, cũng chẳng có cây nào xấu mà lại sinh quả tốt.

 

44 Vì người ta sẽ biết cây từ hoa trái của chính nó. Từ bụi gai, người ta không bao giờ thu hoạch được vả, từ cây mâm xôi, người ta cũng không thu hoạch được chùm nho.

 

45 Người tốt sinh ra điều tốt lành từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu sinh ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.”

 

Bối cảnh

Lc 6,39-45 nằm trong bối cảnh của “Bài giảng dưới đồng bằng” (Lc 6,17-49). Trong bối cảnh trực tiếp, đoạn văn này tiếp theo ngay sau những chỉ dẫn nhằm thể hiện căn tính của “những người con của Đấng Tối Cao”: Yêu kẻ thù, làm điều tốt lành, cho đi mà không đòi hỏi đáp đền, không xét xử, không kết án, và luôn thứ tha (Lc 6, 27-38). Có sự nối kết khá rõ giữa lời dạy không xét xử, không kết án ở đoạn trước và lời khuyên: “Hãy nhìn thấy và lấy cái xà trong mắt của mình, rồi mới giúp người khác lấy cái rác trong mắt họ”. Danh xưng “những người đạo đức giả” gợi nhớ đến những nhân vật cụ thể mà tác giả đề cập ở những nơi khác: Những người Pharisêu (Lc 12, 1); đám đông (Lc 12, 56) và ông trưởng hội đường (13, 15). Những người đạo đức giả không có trái tim trong sáng, nên sẽ không có những hành động tốt lành. Đoạn văn lại được tiếp nối bằng lời mời gọi làm những gì Đức Giêsu dạy (6, 46) để không trở thành những người dẫn đường mù quáng, hay những kẻ đạo đức giả.

 

Cấu trúc

(I) Bức tranh 3 phần:

 

       (a) Người mù không thể dẫn dắt người mù (39)

 

       (b) Học trò không ở trên thầy (40)

 

       (c) Kẻ đạo đức giả: Thấy cái rác nhưng không thấy cái xà (41-42)

 

(II) Cây tốt & cây xấu; người tốt – người xấu:

 

       (a) Cây tốt không sinh trái xấu – cây xấu không sinh trái tốt (43-44)

 

     (b) Người tốt sản sinh ra những cái tốt – Người xấu sinh ra những cái xấu (45)

 

Một số điểm chú giải

1.     Dụ ngôn (παραβολή, parabole): Danh từ “parabole” trong tiếng Hy Lạp được dịch là “dụ ngôn” (CGKPV); “câu ví” (NTT). Ngoài ra, người ta còn hiểu danh từ này với nhiều nghĩa khác nữa như: “Sự minh họa”; “lời nói”; “châm ngôn”; “câu chuyện”[1]. Trong bối cảnh này, có thể, tốt hơn nên hiểu theo nghĩa “câu ví” như cách hiểu của dịch giả NTT, hoặc là “châm ngôn”, “thành ngữ” hơn là “dụ ngôn”, bởi vì sau đó Đức Giêsu đã nói những câu ngắn gọn để trình bày giáo huấn của mình.

2.     Người mù: Người mù là chủ từ của động từ “dẫn dắt” (ὁδηγέω, hodeghéo). Động từ này có nghĩa đen là “dẫn đường”, và nghĩa bóng là “dạy”, “hướng dẫn”. “Người mù” (τυφλος) cũng có thể hiểu theo hai tầng ý nghĩa: (1) Một người không nhìn thấy về thể lý; (2) Một người mù quáng về tâm linh. Thực tế, một người không nhìn thấy đường thì không thể dẫn đường cho người không nhìn thấy đường khác được. Cả hai sẽ có nguy cơ vấp ngã và lọt xuống giếng. Câu hỏi đầu tiên được bắt đầu bằng tiểu từ “μήτι” trong tiếng Hy Lạp, ngụ ý câu trả lời là “không” (không, người mù không thể dẫn đường cho người mù). Câu hỏi thứ hai lại bắt đầu bằng tiểu từ “οὐχὶ”, ngụ ý câu trả lời là “có” (vâng, cả hai sẽ rơi xuống giếng)[2]. Từ thực tế đó, Đức Giêsu muốn nói đến những người mù tối về tâm linh, những người thiếu đức tin[3]. Trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu dùng chính câu tục ngữ này để nói về những người Pharisêu: “Cứ mặc kệ họ (những người Pharisêu). Họ là những người mù dẫn dắt người mù. Người mù mà lại dắt người mù thì cả hai sẽ rơi xuống giếng” (Mt 15, 14). Những người Pharisêu và Kinh Sư được gọi là “những người chỉ dẫn mù quáng”: “Khốn cho các ngươi, những người chỉ dẫn mù quáng” (ὁδηγοὶ τυφλοὶ). Đức Giêsu lặp lại danh xưng “mù quáng” đến năm lần trong chương 23 để gọi những Kinh Sư và Pharisêu (23,16.17.19.24.26). Họ là những người chỉ dẫn mù quáng vì họ đã hiểu sai giáo huấn của Chúa và hướng dẫn người dân đi lầm đường, lạc lối. Thánh Phaolô nói về một sự mù quáng khác, mù quáng của những người “không tin”: “Vị thần của thế gian này đã làm mù tâm trí của những người không tin, làm cho họ không thấy ánh sáng Tin Mừng về vinh quang của Đức Kitô, Đấng là hình ảnh của Thiên Chúa” (2 Cr 4, 4). Trong hành trình rao giảng công khai, Đức Giêsu từng chữa lành nhiều người mù về thể lý giống như lời ngôn sứ đã nói về sứ mạng của Người: “Người sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, giải thoát những ai cùng khổ” (Lc 4, 18; x.7,21.22). Tuy nhiên, sự sáng về đức tin, sự nhìn thấy Chúa và tin vào Người mới là mục đích mà Đức Giêsu muốn nhắm đến khi mở mắt cho họ. Trong bối cảnh này, tác giả Luca không cho thấy một sự chỉ trích nào nhắm vào những người Pharisêu hay Kinh Sư. Đức Giêsu đang nói cùng các môn đệ. Họ không thể trở thành những người chỉ dẫn cho người khác trong tương lai nếu họ không hiểu rõ giáo huấn của Người. Giáo huấn của Đức Giêsu trong bối cảnh này rất có thể là tình yêu tuyệt đối, lòng quảng đại vô hạn và lòng thương xót như Cha trên trời. Nếu họ không thấm nhuần, không xác tín và không sống những điều ấy thì họ có nguy cơ trở thành những kẻ dẫn đường mù quáng cho kẻ khác. Hơn nữa, lời nhắc nhở của Đức Giêsu cũng có thể cảnh báo các môn đệ là đừng đi theo những kẻ dẫn đường mù quáng như các Kinh Sư và những người Pharisêu: “Anh em phải coi chừng men Pharisêu, tức là thói đạo đức giả” (Lc 12, 1).

3.     Giếng (βόθυνος, bóthynos): Danh từ “bóthynos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là hố sâu, hay là “giếng”. Rơi xuống giếng là một tình trạng rất nguy hiểm, khẩn cấp. Một con chiên rơi xuống giếng trong ngày Sabát, người ta cũng phải nắm lấy nó và kéo lên khỏi giếng nhanh nhất có thể (Mt 12, 11). Tình trạng “rơi xuống giếng”  cho thấy rằng người mù dẫn dắt người mù sẽ mang lại tai họa khôn lường[4]. Người mù về thể lý rơi xuống giếng có nguy cơ chết về thể lý; Người mù về tâm linh rơi xuống giếng của lầm lạc, tội lỗi có thể chết linh hồn đời đời[5].

4.     Trò … thầy: Câu châm ngôn tiếp theo nói về tương quan đẳng cấp giữa “thầy – trò”. Câu châm ngôn này có vẻ không phù hợp với xã hội hiện đại, vì thực tế có rất nhiều học trò có thể hơn thầy của mình nhiều. Tuy nhiên, trong thế giới cổ xưa, trước khi những kiến thức sách vở được lan rộng khắp nơi, một học trò phụ thuộc chủ yếu vào chỉ dẫn của thầy mình[6]. Nếu áp dụng cho tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ thì luôn luôn đúng. Các môn đệ được kỳ vọng sau khi được “đào tạo đầy đủ” (κατηρτισμένος) trở nên giống Đức Giêsu, thầy của họ, để trở thành thầy dạy của người khác. Câu châm ngôn này liên quan mật thiết với câu châm ngôn trước đó về khả năng người mù dẫn dắt một người mù. Để trở thành “người dẫn đường không mù quáng”, các môn đệ phải học cùng Đức Giêsu để trở nên sáng mắt như Đức Giêsu. Câu châm ngôn nói về tương quan đẳng cấp giữa thầy và trò, được tác giả Mátthêu đặt vào bối cảnh hoàn toàn khác với tác giả Luca. Đức Giêsu của Mátthêu nói câu này trong bối cảnh của sự bách hại: “Người môn đệ không ở trên thầy mình, người đầy tớ không ở trên chủ của mình. Người môn đệ được như thầy, người đầy tớ được như chủ đã đủ rồi. Nếu người ta gọi chủ nhà là Beelzebul, thì người ta còn gọi người nhà bằng tệ hơn nữa” (Mt 10,24-25). Trong bối cảnh này, câu châm ngôn ngụ ý các môn đệ có thể bị bách hại như Đức Giêsu là cùng, không hơn nữa. Đức Giêsu của tác giả Gioan áp dụng câu châm ngôn này hai lần: (1) Trong bối cảnh sau khi Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ: “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi, nếu anh em biết những điều này, anh em sẽ là những người có phúc nếu anh em làm  những điều này” (Ga 13, 16). Trong bối cảnh này, tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ là tương quan về cách thức phục vụ lẫn nhau. (2) Trong bối cảnh Đức Giêsu nói về sự bách hại: “Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em, tôi tớ không lớn hơn ông chủ. Nếu họ bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15, 20). Tác giả Luca không đặt câu châm ngôn này trong bối cảnh trực tiếp nói đến sự bách hại rõ ràng, nhưng trong bối cảnh “đào tạo, học hành”. Các môn đệ phải học nơi Đức Giêsu tất cả những gì Người dạy, Người làm. Họ cũng phải học nơi Người bài học “yêu kẻ thù” và “làm điều tốt lành cho những người ghét họ”. Đó cũng là cách thức mà họ áp dụng mối phúc thứ tư “phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, xỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa” (Lc 6, 22). Trở nên giống thầy Giêsu có thể chỉ qua công việc của Đấng Kitô và một mối tương quan đức tin với Người[7].

5.     Người đạo đức giả (ὑποκριτής, hypokrites): Hypokrites là danh xưng dùng để diễn tả các diễn viên trên sân khấu trong thế giới Hylạp, Rôma[8]. Những diễn viên thời xưa thường đeo mặt nạ để hóa thân thành một nhân vật mà mình thủ vai. Khán giả hiếm khi biết được gương mặt thật của một diễn viên phía sau mặt nạ ấy. Ngày nay với công nghệ làm đẹp, hóa trang, bằng phấn son, các diễn viên cũng có thể hóa thân một cách đơn giản mà không cần đeo mặt nạ. Đức Giêsu thường dùng danh xưng này để diễn tả những người “đạo đức giả”, những người sống hai mặt, đánh lừa thiên hạ trong những thực hành đạo đức (Mt 6,2.5.16), ngôn hành bất nhất (Mc 7, 6; Mt 15, 7; 23, 3). Đức Giêsu gọi đích danh những người Pharisêu là đạo đức giả: “Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaiah đã nói tiên tri rất đúng về các ngươi rằng: Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mt 15, 8). Đức Giêsu của tác giả Luca thì đồng hóa thói đạo đức giả với “men Pharisêu” (Lc 12, 1). Đám đông cũng bị gọi là “đạo đức giả” khi họ biết nhận xét cảnh sắc đất trời mà không biết thời đại Mêsiah (Lc 12, 56). Ông trưởng hội đường cũng bị gọi là “kẻ đạo đức giả” khi ông tỏ ra bực tức vì Đức Giêsu chữa bệnh vào ngày Sabát (Lc 13, 15)[9]. Trong bối cảnh này, kẻ đạo đức giả là kẻ làm ra bộ mình hiểu biết về lỗi lầm của người khác nhưng lại thiếu cái nhìn tỏ tưởng về chính mình[10].

---Còn tiếp---

Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/02/cay-tot-trai-tot-nguoi-tot-viec-tot-chu.html (Cập nhật ngày 28/02/2025)


[1] R.C. Blight, An Exegetical Summary of Luke 1-11 (Dallas, 2008) 266.

[2] The first rhetorical question expects the answer ‘No’ and the second question expects the answer ‘Yes’ (R.C. Blight, An Exegetical Summary of Luke 1-11, 267); [2] D.L. Bock, Luke Volume 1: 1:1-9:50. Baker exegetical commentary on the New Testament (Grand Rapids, 1994) 611; F. Bovon– H.Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50 (Hermeneia; Minneapolis 2002) 248.

[3] J.B. Green, The Gospel of Luke (NICNT; Grand Rapids, 1997) 278.

[4] D.L. Bock, Luke Volume 1: 1:1-9:50, 611.

[5] “the image of the pit alludes to a Hebrew Bible proverb about the inescapability of God’s judgment” (F. Bovon– H.Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50, 249).

[6] I.H. Marshall, The Gospel of Luke (NIGTC; Exeter 1978) 269.

[7] F. Bovon – H. Koester, Luke 1. A commentary on the Gospel of Luke 1:1–9:50, 249.

[8] W. Arndt, et al., A Greek-English lexicon of the New Testament and other early Christian literature, “ὑποκριτής”, 1038.

[9] L.T. Johnson, The Gospel of Luke (SP 3; Collegeville 2003) 114.

[10] “Jesus indicts persons who attempt to substantiate their own piety through censuring the shortcomings of others as acting inconsistently. Their hearts and actions are inconsistent. While they themselves posture for public adulation, their behavior is not determined by God” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 279).

zalo
zalo