CÂY TỐT – TRÁI TỐT; NGƯỜI TỐT – VIỆC TỐT.
Chú Giải Tin Mừng CN VIII TN C (Lc 6,39-45)
6. Cái rác (κάρφος, karphos) … cái xà (δοκός, dokos): Cái rác (karphos) là một mảnh gỗ nhỏ, hay vỏ trấu, hay cọng rơm. Cái xà (dokos) là thanh xà ngang chính của một ngôi nhà[11]. Đức Giêsu dùng hai vật thể có kích thước hoàn toàn trái ngược nhau để diễn tả sự nghịch lý trong cái nhìn của những “kẻ giả hình”. Trong khi không để ý gì đến “cái xà” to lớn nơi con mắt của mình, thì họ lại để ý[12] đến “cọng rác” nhỏ xíu trong con mắt người “anh em” của mình. Cái rác và cái xà là tượng trưng cho những lỗi lầm cần sửa chữa của người khác. Người thấy “cọng rác” không đơn giản chỉ là nhìn thấy nhưng còn chỉ trích, soi mói, bới móc và muốn người khác phải sửa đổi lỗi lầm nhỏ, trong khi chính người ấy lại không nhìn thấy những lỗi lầm, thói hư, tật xấu to lớn của mình[13]. Tương tự như ca dao Việt Nam có câu “chân mình thì lấm mê mê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người”. Đây cũng có thể là thái độ của những kẻ tiểu nhân, những người độ lượng với chính mình, trong khi luôn khắt khe, đòi hỏi những người khác.
7. “Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt mình trước đã, hypokrites”: Đức Giêsu mời gọi “hãy lấy cái xà ra khỏi mắt mình đã, hypokrites” nghĩa là hãy để ý đến tâm hồn mình, hãy đừng tỏ ra mình đạo đức, công chính, thánh thiện hơn người khác. Khi tỏ ra mình thánh thiện đạo đức hơn những người khác, những kẻ giả hình đang lừa dối người khác và lừa dối chính họ. Một khi trái tim không thật sự trong sáng, tâm hồn không trong sạch đủ, nói theo ngôn ngữ của Đức Giêsu, một khi còn “cái xà trên mắt” thì người ta không thể nhìn rõ để giúp người khác lấy “cọng rác” ra được. Trong bối cảnh trực tiếp, cách nói này có thể liên quan đến câu châm ngôn “người mù không thể dẫn dắt người mù được”, vì “cả hai sẽ rơi xuống giếng”. Cái xà nằm trên mắt làm cho người ta bị mù, không thể hướng dẫn người khác lấy cọng rác của họ[14]. Nếu mở rộng hơn một chút, cách nói này có sự liên kết với lời dạy “anh em đừng xét xử, đừng kết án, và hãy thứ tha” trong đoạn văn trước đó (Lc 6, 37)[15]. Tác giả Mátthêu đặt câu tục ngữ về “cái xà-cọng rác” nằm ngay sau lời khuyên “đừng xét xử, đừng kết án, và hãy thứ tha” (x. Mt 7,1-5). Cách bố trí này cho thấy “muốn lấy cọng rác cho người khác mà không để ý đến cái xà trong mắt mình” liên quan mật thiết đến sự xét xử, kết án và thiếu khoan dung với lỗi lầm của người khác.
Phải chăng Đức Giêsu cấm sửa lỗi những người khác? Có lẽ là không. Tác giả ghi lại những chỉ dẫn chi tiết liên quan đến một quy trình sửa lỗi anh em trong cộng đoàn: Bước 1: Gặp riêng người anh em đó – Bước 2: Mang theo một hay hai người nữa – Bước 3: Thưa với Hội Thánh (Mt 18,15-18). Trong bối cảnh này, Đức Giêsu cũng nói rằng “hãy lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ để lấy cái rác trong mắt người anh em của anh”. Đức Giêsu không cấm sửa lỗi cho người khác, nhưng bất kỳ cố gắng nào nhằm sửa lỗi người khác cũng đòi hỏi sự xét xử nghiêm túc chính mình trước[16]. Cả hai chiều: Tự xét xử bản thân và sửa lỗi cho nhau cũng được khuyến khích ở đây. Lỗi lầm là lỗi lầm, bất cứ nó thuộc về ai, chúng ta cũng phải xét xử nó với cùng một nguyên tắc, nhưng trước tiên nguyên tắc phải được áp dụng cho bản thân mình. Những người môn đệ phải xét xử chính mình trước khi cố gắng sửa lỗi người khác[17].
8. Cây tốt … trái tốt … cây xấu … trái xấu: Đức Giêsu tiếp tục dựa trên một quy luật vật lý bình thường “cây tốt thường sinh trái tốt, và cây xấu thường sinh quả xấu”. Mỗi cây được nhận biết bởi hoa trái của chính cây ấy. Ví dụ mà Đức Giêsu đưa ra cho những trái tốt gồm hai loại: “những trái vả” và “những quả nho” và hai loại cây xấu tương ứng là “những bụi gai” và “cây mâm xôi” (một loại cây gai dại, có trái chín màu nho). Trong Tin Mừng Nhất Lãm, bụi gai được biết đến như một tác nhân bóp nghẹt hạt giống Nước Trời, khiến nó chết nghẹt (Mc 4,7.18; Mt 13,7.22; Lc 8,7.14). Điều này ngụ ý rằng “cây nho” là cây tốt và sinh ra những quả nho là loại quả tốt cũng như cây vả là loại cây tốt và mang lại hoa trái tốt.
9. Người tốt … điều tốt lành … người xấu … điều xấu: Câu tục ngữ “xem quả thì biết cây” nhằm áp dụng cho con người và những hành vi tương ứng của anh/chị ta: “Người tốt sinh ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu sinh ra cái xấu từ kho tàng xấu”. Một lần nữa, khác với tác giả Luca, tác giả Mátthêu đặt câu tục ngữ này vào trong bối cảnh Đức Giêsu đang tranh luận với những người Pharisêu. Đức Giêsu áp dụng câu nói này cách thẳng thừng, có phần nặng nề, cho những người Pharisêu: “Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được?” (Mt 12, 34). Lý do là những người Pharisêu đã xuyên tạc rằng Đức Giêsu dựa vào thế quỷ vương Beelzebul mà trừ quỷ (Mt 12, 24). Tác giả Luca không bận tâm đến việc chỉ trích những người Pharisêu, có lẽ vì cộng đoàn của ông gồm những người dân ngoại, không có nhiều xung đột với nhóm người Pharisêu. Lời dạy của Đức Giêsu chủ yếu nhắm đến các môn đệ[18]. Họ phải chứng tỏ họ tốt lành bằng những hành động tốt lành của họ[19]. Tác giả J. Fitzmyer cho rằng phần này nối kết rõ ràng với phần trước đó ở chỗ: Một người xấu không thể mang lại cho người khác một chỉ dẫn tốt qua việc chỉ trích mà thôi; Những hành động của một người phải đi trước và cho thấy rằng người ấy thực sự là tốt lành. Rất có thể là những hình ảnh “bụi gai”– “những cây mâm xôi” ở đây ám chỉ những hành động của những thầy dạy giả hiệu và những ngôn sứ giả trong cộng đoàn Kitô hữu[20].
10. “Từ kho tàng tốt/ kho tàng xấu của lòng mình”: Người tốt có kho tàng tốt trong trái tim của mình. Những hành động của con người bộc lộ tình trạng con tim của anh ta[21]. Những người “đạo đức giả” có trái tim gian dối. Những hành động của họ sẽ không thể tốt lành được. Trái tim là nguồn của sự tốt lành hay xấu xa[22]. Đức Giêsu đã nói rằng từ lòng người (ἐκ τῆς καρδίας) phát xuất những ý định xấu: “Tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng” (Mc 7,21-22). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không ai tự bản chất là xấu và không bao giờ có thể trở nên tốt lành được; cũng không ai tự bản chất là tốt lành và không bao giờ có khuynh hướng làm điều xấu[23]. Mỗi người với ý chí, lý trí, và tự do của mình có thể biến đổi từ người xấu trở nên người tốt và những hành vi tốt lành cho thấy lòng tốt của con người.
Bình luận tổng quát
Bài giảng dưới đồng bằng được Đức Giêsu tiếp tục với những lời dạy pha lẫn giữa dụ ngôn và tục ngữ, châm ngôn. Đầu tiên là hai câu hỏi liên quan đến khả năng dẫn dắt của những người mù và hậu quả nghiêm trọng của nó. Người mù dĩ nhiên không thể dẫn dắt người mù khác được vì không nhìn thấy gì. Nếu cố gắng làm điều không thể thì hậu quả tất yếu là cả hai sẽ rơi xuống giếng. “Rơi xuống giếng” là rơi vào địa ngục thẳm sâu và có nguy cơ chết đời đời. Người mù có thế ám chỉ đến những người dẫn đường mù quáng, như là những người Pharisêu và các Kinh Sư, vì họ hướng dẫn không đúng về “sự thề thốt” (Mt 23,16-22); Họ hướng dẫn người ta giữ luật thập phân nhưng lại bỏ qua công lý, lòng nhân và lòng thành tín (Mt 23,23-24). Những người mù còn có thể là những người thiếu đức tin và lòng mến. Trên hành trình rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã từng chữa lành nhiều người mù, nhưng điều Người nhắm đến tiên quyết là những người mù phải nhìn thấy được và bước theo Người trên con đường Người đi. Khi nêu lên câu tục ngữ này, Đức Giêsu vừa cảnh báo để các môn đệ đừng đến với những người thầy mù quáng, đồng thời vừa mời gọi các môn đệ học cùng Người để trở thành những người dẫn đường sáng suốt. Theo quan điểm thời Đức Giêsu, học trò không vượt trên thầy của mình, Đức Giêsu cũng chỉ mong các môn đệ được như Người khi họ hoàn thành quá trình đạo tạo. Kiến thức và thực hành mà họ phải có bao gồm tất cả những điều Đức Giêsu dạy và làm. Trong bối cảnh này, những lời Đức Giêsu dạy là yêu thương kẻ thù, làm điều tốt lành cho những người thù ghét, không xét xử, không kết án, thứ tha tất cả, có lòng thương xót tha thứ, và cho đi mà không mong đáp đền. Đức Giêsu cũng làm tất cả những điều ấy và nhất là chịu bách hại và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người. Các môn đệ cũng không tránh khỏi sự bách hại và chết đi vì tình yêu như thế. Trên hành trình học hỏi và thực tập, các môn đệ cũng có nguy cơ rơi vào thói đạo đức giả khi cho mình hơn người khác trên đường nhân đức, để rồi phán xét kẻ khác. Đó cũng là một sự mù lòa vì để cho cây xà che mắt mình. Khi không có trái tim tinh tuyền, không nhìn nhận đúng con người của mình, không phán xét mình một cách nghiêm túc, người ta không đủ sáng suốt, thành tâm, thiện chí để góp ý cho người khác. Người quân tử thường khắt khe với lỗi lầm của mình nhưng độ lượng với lỗi lầm của người khác; Ngược lại kẻ tiểu nhân luôn đòi hỏi người khác mà dễ dãi với bản thân mình. Tiêu chuẩn mà Đức Giêsu đưa ra là: “Lấy cái xà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi mới thấy rõ mà lấy cọng rác cho người khác”. Muốn sửa lỗi cho người khác, trước hết các môn đệ phải chứng tỏ mình tốt, ví như không còn cái xà trên mắt mình. Tốt hay xấu đều được bộc lộ ra bằng những hành động cụ thể. Những hành động tốt lành đến từ kho tàng lòng tốt của người tốt; Ngược lại từ kho tàng của người ác tâm chỉ tìm thấy những hành động xấu xa, đê tiện.
Những tưởng rằng những lời dạy này dành riêng cho các môn đệ hay các linh mục, giám mục. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta, ở vị trí này hay vị trí khác, lúc này hay lúc khác, đều được trao cho vai trò dẫn dắt người khác. Ví dụ như trách nhiệm hướng dẫn con cái của các bậc cha mẹ; Tương tự, trách nhiệm hướng dẫn của những người ông, người bà, anh, chị, chú, bác, cô, dì trong tương quan huyết thống; Trách nhiệm của giáo sư, thầy, cô giáo trong việc hướng dẫn chủng sinh, học sinh bao thế hệ; Cách chung, trách nhiệm nâng đỡ, góp ý, cho nhau giữa người đồng bạn, giữa các tín hữu… Như thánh Phaolô đã khuyên: “Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của mình” (Rm 15, 1). Muốn thực thi trách nhiệm dẫn đường cách hiệu quả, mỗi người phải học cùng Đức Giêsu, để suy nghĩ như Người, làm như Người và nói như Người. Nên giống Đức Giêsu trong bối cảnh này là: “Có lòng nhân từ như Cha trên trời là Đấng nhân từ”, thể hiện qua sự tha thứ vô cùng, và trao ban vô hạn; có kho tàng trái tim tốt được thể hiện ra bằng những hành động tốt lành; Biết yêu kẻ thù và làm điều tốt lành cho những người ghét mình. Đó là một tình yêu không biên giới loại bỏ mọi sự thù ghét; Xóa bỏ mọi hận thù, chiến tranh để chỉ còn lại sự hòa bình vĩnh cửu, mọi nơi, mọi lúc, cho mọi người trên thế gian này.
---Hết---
Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
Nguồn: https://josephpham-horizon.blogspot.com/2022/02/cay-tot-trai-tot-nguoi-tot-viec-tot-chu.html (Cập nhật ngày 28/02/2025)
[11] D.L. Bock, Luke Volume 1: 1:1-9:50, 614.
[12] Κατανοέω: Chú ý, quan sát, thấy, khám phá, nhận thức, quan tâm, ý thức, để ý (R.C. Blight, An Exegetical Summary of Luke 1-11, 269).
[13] “Most men know less about their own faults than about their brother’s.” [A. MacLaren, Expositions of Holy Scripture: Luke 1-12 (Bellingham 2009) 132].
[14] “A man may be partly blind because some foreign body has got in” (A. MacLaren, Expositions of Holy Scripture: Luke 1-12, 132).
[15] “The disciples are to be leaders of people, but they cannot be blinded guides; they must see the way first. In the context of “not judging,” the saying about blindness might seem to refer to one’s own faults” [J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes (Anchor Yale Bible; New Haven; London 2008) XXVIII, 641].
[16] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes, 642; “Nor is the possibility of reproof ruled out of court, since Jesus allows that, in the right circumstances, one can remove a “speck” from a neighbor’s eye” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 279).
[17] A. Plummer, A critical and exegetical commentary on the Gospel According to S. Luke (London 1896) 191.
[18] I.H. Marshall, The Gospel of Luke (NIGTC; Exeter 1978) 271.
[19] “Jesus thus speaks of one’s “fruit” as his or her signature, exposing the heart” (J.B. Green, The Gospel of Luke, 279).
[20] J.A. Fitzmyer, The Gospel according to Luke I–IX. Introduction, translation, and notes, 643.
[21] L.T. Johnson, The Gospel of Luke, 114.
[22] I.H. Marshall, The Gospel of Luke (NIGTC; Exeter 1978) 273.
[23] The Pulpit Commentary: St. Luke (H. D. M. Spence-Jones, Ed.) (Bellingham 2004) 149.