Ngày tháng: 25/06/2024
Đang truy cập: 13

Hành Trình Tâm Linh Như Đi Tìm Trâu - Phần 2/2 - Phan Tấn Thành

Hành Trình Tâm Linh Như Đi Tìm Trâu - Phần 2/2

Phan Tấn Thành

› ® ¬ ® š

     II. Đối chiếu với Kitô giáo

     Tóm lại, giữa các thiền sư đã có những dị biệt trong việc giải thích hành trình huyền bí. Liệu có thể đối chiếu với hành trình Kitô giáo được không? Theo cha Ichiro Okumura OCD, giữa hành trình thiền đạo và hành trình Kitô giáo, có những sự khác biệt không nhỏ, tuy nhiên không hẳn là bất khả dung hợp.

     1) Những khác biệt

- Sự khác biệt quan trọng nhất ở chỗ hành trình huyền bí không đưa đến sự kết hiệp với Thiên Chúa (theo quan điểm của Kitô giáo), nhưng đến chỗ Vô. Đây là sự khác biệt về tận điểm.

- Một sự khác biệt nữa nằm ngay ở hướng đi của lộ trình. Thực vậy, hướng đi của hành trình không phải là từ Hữu đến Vô, nhưng là đến chỗ khám phá ra Phật tính ở ngay trong mình. Hai loạt bức tranh của Quách Am và Kyotetsu nêu bật điều đó: mục đồng đi tìm con trâu lạc, tức là đi tìm Chân lý (hay Phật tính); anh tưởng rằng chân lý ở mãi tận đâu đâu, nhưng nào ngờ ở ngay trong chính mình. Vì thế cần phải trở lại với chính mình.

     2) Những điểm tương đồng

- Ta có thể nhận thấy điểm tương đồng căn bản ở chỗ tất cả các bức tranh đều nói lên một cuộc hành trình. Điều này giả thiết một nỗi khắc khoải của con người muốn tìm biết chân lý, và khiêm tốn thú nhận rằng con người hoặc chưa thấu triệt chân lý hoặc còn bị rơi vào chốn u mê lầm lẫn. Tệ hơn nữa, con người lắm lần muốn đi tìm chân lý, nhưng không biết đường, vì thế tìm không đúng chỗ.

- Mục tiêu của hành trình, ít là theo Quách Am và Kyotetsu, là đi tìm Phật tính, và Phật tính đó nằm ở trong con người. Truyền thống Kitô giáo cũng nhận rằng con người là hình ảnh Thiên Chúa, tuy cũng thêm rằng hình ảnh đó đã bị méo mó do tội lỗi, vì thế cần được cứu chuộc. Vài giáo phụ đã phân biệt giữa “hình ảnh Thiên Chúa” (imago Dei) và “giống như Thiên Chúa” (similitudo): con người tội lỗi vẫn duy trì hình ảnh Thiên Chúa, nhưng không còn “giống Chúa” nữa. Dù sao, công trình cứu chuộc của Đức Kitô vừa có thể diễn tả như là “trở nên giống Thiên Chúa” (thiên hoá), vừa có thể nói như công đồng Vaticanô II là giúp cho ta trở nên người chân chính hơn. Thực vậy, chúng ta biết rằng xét cách trừu tượng thì tất cả mọi người đều mang bản tính con người và khác với súc vật; nhưng nhìn dưới khía cạnh luân lý, thì trong chúng ta có “nửa người nửa ngợm”. Vì thế mà nỗ lực của chúng ta là giảm bớt chất ngợm và tăng thêm chất người, để sống hợp với “đạo làm người”. Thánh nhân là con người tuyệt hảo nhất. Vì thế hành trình tâm linh (hay huyền bí) cũng nói được là “trở về với mình”, khám phá cái chân ngã. Triết gia Socrate cũng răn ta “hãy biết mình” (nosce teipsum). Đây cũng là lời răn của nhiều bậc mô phạm Kitô giáo cổ kim [2].

- Vết chân trâu. Hai bức tranh của Quách Am và Kyotetsu cho thấy những vết chân trâu: đó là những bản hướng dẫn hành trình, nghĩa là đạo lý của sách thánh hoặc các tôn sư. Thậm chí trong bức tranh của Kyotetsu, một nhân vật xuất hiện để trỏ cho mục đồng biết hướng để tìm trâu. Trên hành trình tâm linh, ta cần những người hướng dẫn, tuy rằng theo quan niệm thiền tông, người hướng dẫn được ví như ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi: ta hãy ngắm mặt trăng chứ đừng dừng lại ở ngón tay trỏ.

- Vòng tròn trống rỗng có thể giải thích nhiều cách. Có thể hiểu như là sự trở về với hư vô; hoặc có thể hiểu là sự giác ngộ về tính vô thường của vạn vật; hoặc có thể hiểu như là sự siêu thoát hoàn toàn. Con người cần phải lột bỏ tất cả, lột bỏ cả cái “ngã” (cái tôi) cũng như lột bỏ cái ý niệm về Thiên Chúa do mình dựng lên [3]. Thánh Gioan thánh giá đã chẳng nói đến sự thanh luyện đức tin (đêm tối đức tin) đấy ư? Dù sao đi nữa, không nên hiểu cái vòng tròn trống rỗng như là tận điểm của hành trình huyền bí, mà chỉ là chặng cuối cùng của hành trình đó. Sự thanh luyện tuyệt đối được thánh Gioan thánh giá diễn tả qua bài ca bất hủ sau đây:

     Để thưởng thức tất cả, bạn đừng thích thú gì hết. Để chiếm hữu tất cả, bạn đừng chiếm hữu gì hết. Để trở nên tất cả, bạn hãy là hư vô trong mọi loài hư vô. Để biết tất cả, bạn đừng muốn biết gì hết. Để tới nơi chưa hề nếm hưởng, bạn hãy trải qua chỗ mà bạn kinh tởm. Để tới nơi chưa hề biết, bạn hãy trải qua chỗ mà bạn không biết. Để tới nơi mà bạn chưa chiếm hữu, bạn hãy trải qua chỗ mà bạn không chiếm hữu. Để tới nơi mà bạn muốn trở thành, bạn hãy trải qua chỗ mà bạn không tồn tại. Nếu bạn dừng lại ở một điều nào đó, thì bạn sẽ không còn lao mình về tất cả nữa. Bởi vì để đạt tới tất cả trong mọi sự, bạn hãy từ bỏ mình trong mọi sự. Và khi bạn đã đến chỗ có tất cả, bạn hãy chiếm hữu nó mà không muốn gì hết. Bởi vì nếu bạn muốn có cái gì trong tất cả, thì bạn không còn lấy Thiên Chúa là kho báu duy nhất nữa [4].

     Một điều đáng lưu ý là bức tranh vòng tròn được xếp vào số 8 nơi Quách Am và số 9 nơi Kyotetsu, nghĩa là chưa phải tận điểm. Hai tác giả này còn muốn cho mô tả sự hoan hỉ của cậu bé sau khi tìm thấy “chân ngã”, một sự hoan hỉ toả lan ra chung quanh, cho xóm làng và thiên nhiên vạn vật.

     III. Đạo Thiền và Đạo Kitô

     Đang khi mà cha Ichiro Okumura so sánh ba loạt tranh về con trâu và đối chiếu hai quan niệm Thiền và Kitô giáo về hành trình huyền bí, cha Mariano Ballester SJ [5] sử dụng một lối tiếp cận khác, đó là tìm cách chú giải 10 bức tranh của Quách Am theo tinh thần Kitô giáo.

     1) Tìm trâu

     Hành trình huyền bí khởi đầu từ ý thức về sự sai trái của mình, và ý muốn tìm về chính đạo. Quyết tâm muốn thay đổi cuộc đời là điều kiện căn bản cho sự “tái sinh” (Ga 3,7). Tuy nhiên, cần phải biết ngay từ đầu rằng hành trình này mang theo nhiều trở ngại và khó khăn. Một trong những trở ngại để bắt đầu là không biết đi theo hướng nào để tìm chân lý. Những cuộc loay hoay để định hướng dễ làm con người nản chí bỏ cuộc khi mới bắt đầu. Đối với người Kitô giáo, duy chỉ Đức Kitô mới là Đường, Sự Sống, Sự Thật. Chúng ta cần làm quen với Người bằng cách học cầu nguyện.

     2) Vết chân trâu

     Trên đường đi tìm trâu, mục đồng cầm trên tay sợi dây và cái roi, tượng trưng cho những biện pháp kỷ luật. Điều kiện cơ bản để đi theo Đức Kitô là “từ bỏ”: từ bỏ tài sản, thân nhân; cắt đứt mọi ràng buộc với thọ tạo (xc. Lc 9,57-62).

     Sự từ bỏ này tạo ra tinh thần siêu thoát và đơn sơ để dễ đón nhận Lời Chúa. Sách thánh trỏ cho ta những “dấu vết” của Chúa. Nhưng nếu thiếu “thần khí” hướng dẫn thì những lời đó không mang lại lợi ích gì hết.

     3) Tìm thấy trâu

     Ta có thể ví với giai đoạn “chiếu sáng” trong ngôn ngữ thần học tâm linh Kitô giáo: linh hồn nhận được sự soi sáng của Chúa, đánh giá mọi vật dưới nhãn quan mới. Tâm trí của người tín hữu được “khai quang” nhờ Thánh Linh soi sáng (xc Ga 16,12-13).

     4) Bắt trâu

     Mục đồng phải vận dụng hết sinh lực để bắt con trâu, vừa khỏe vừa bướng. Hành trình tâm linh là một cuộc chiến đấu không ngừng. Nhờ ánh sáng đức tin, ta mới biết được điều gì đúng và điều gì sai. Sự nhận thức này đòi hỏi ta phải lựa chọn và bày tỏ lập trường, khác với tình trạng mập mờ trước đó. Việc lựa chọn và quyết định đòi hỏi ta phải chiến đấu chống lại điều sai trái.

     5) Dẫn trâu

     Mục đồng buộc dây tròng con trâu và dắt đi. Như đã nói trên đây, sợi dây và cây roi tượng trưng cho kỷ luật (khổ chế) trong hành trình tâm linh. Ở đây, có thể nói thêm về một khía cạnh khác của kỷ luật thiền đạo, đó là luyện tập sự chú ý vào giây phút hiện tại (việc mà ta đang làm, chứ không phải là trăm ngàn công việc đã làm hay toan tính sẽ làm). Phúc âm cũng mời gọi ta hãy tỉnh thức, luôn cầm đèn đợi chờ ông chủ đến bất thình lình (xc. Mt 25,14-30; Lc 12,35-38).

     6) Cưỡi trâu

     Bức tranh mô tả niềm hoan hỉ an lạc của mục đồng, ngồi trên lưng trâu vừa thổi sáo vừa ca hát. Đó là hình ảnh của niềm hân hoan do cảm nghiệm huyền bí mang lại. Phúc âm ghi lại nhiều dụ ngôn nói đến niềm vui của kẻ đã tìm được viên ngọc quý sau bao tháng ngày lặn lội (Mt 13,44), niềm vui của bà lão tìm được đồng tiền đã mất sau khi lần mò khắp cùng mọi ngóc ngách (Lc 15,9).

     7) Thả trâu

     Ở những bức tranh trên đây, mục đồng và con trâu là hai đối thể tách rời nhau. Từ bức tranh này, không còn thấy con trâu nữa. Mục đồng đã về tới nhà và an nghỉ: anh không nghĩ tới con trâu nữa. Thần học huyền bí Kitô giáo cũng nói đến “cầu nguyện an tĩnh” như là một cấp độ cao trong hành trình tâm linh. Mặt khác, an tĩnh (an bình) là một hồng ân của Thánh linh mà Chúa Kitô Phục sinh ban cho các môn đệ (xc. Ga 14,27; 20, 19-22).

     8) Quên hết

     Trong loạt các bức tranh của Quách Am, ta thấy nhiều chặng “biến”: sợi dây và cây roi biến từ hình số 6, con trâu biến từ hình số 7. Nơi bức tranh số 8, mục đồng cũng biến luôn. Giờ đây chỉ thấy một hình tròn trống trơn, tượng trưng cho “Vô”. Xem ra tận điểm của hành trình huyền bí là cái gì tiêu cực (“Không”). Tuy nhiên, theo ngôn ngữ của các nhà huyền bí, “Vô” không phải là hư vô (vô hữu), nhưng là một sự “tự hủy”, chết cho cái “ngã” của mình ngõ hầu Thiên Chúa có thể ngự trị hoàn toàn: Thiên Chúa là tất cả. Tương đương với từ “Vô”, các nhà huyền bí Kitô giáo cũng nói đến “đêm tối”, “thinh lặng” (hesychia), “vô ngôn” (apophatismus).

     9) Về nguồn

     Trước ông Quách Am, các bức tranh chấm dứt hành trình với vòng tròn. Ông Quách Am muốn thêm hai cảnh nữa, ra như tiếp nối hành trình qua những hậu quả của nó.

     Bức tranh số 9 được đặt tên là “về nguồn”. Ta có thể giải thích như tình trạng “tái sinh” mà Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô (Ga 3,3), nghĩa là tình trạng trong trắng nguyên thủy, tinh thần “thơ ấu” của Phúc âm. Tinh thần thơ ấu không có nghĩa là “ấu trĩ, non nớt”, nhưng là tinh thần đơn sơ khiêm nhường.

     Dĩ nhiên, sự “trở về” cũng có thể hiểu như là “hoán cải”, một tiến trình kéo dài suốt đời. Tuy nhiên, thiết tưởng ở đây nên hiểu về sự “trở về” với nội tâm, (thay vì phóng ngoại), nơi mà Thiên Chúa đang hiện diện với ta, và mời ta hãy “ở lại” trong Ngài.

     10) Ra chợ

     Bức tranh thứ mười có thể xem như kết thúc của hành trình huyền bí, nhưng cũng có thể xem như mở đầu cho hành trình mới. Người được giác ngộ muốn trở lại nhân thế để giúp cho tha nhân cũng biết đường tìm chân lý. Anh ta trở lại xóm làng trong tư thái mới: anh đã được giác ngộ rồi; trạng thái này không biến anh thành một người tự cao tự đại, nhưng ngược lại, làm cho anh nên nhún nhường hơn.

     Ta có thể ví anh ta như một người môn đệ của Chúa Kitô đem ánh sáng vào đời. Theo gương Thầy mình, chấp nhận đường lối “tự hủy” trong mầu nhiệm Nhập thể, người môn đệ cũng vào đời theo đường lối âm thầm chứ không tự quảng cáo ầm ĩ (xc. Lc 17,21). Theo gương của Thầy, người môn đệ đến gặp gỡ hết mọi tầng lớp: họ mang Tin mừng đến cho tất cả mọi người; nhất là họ rao giảng chân lý chứ không rao giảng chính mình. Họ muốn làm dấu chỉ cho Chúa Kitô ở giữa đời (xc. Mt 5,1). Qua cuộc sống của họ, Chúa Kitô tiếp tục hiện diện trên trần gian này cho đến tận thế (xc. Mt 28,20).

     Trước khi kết luận, chúng ta đừng quên rằng mặc dù tác giả bức tranh không nói ra, nhưng trong truyền thống thiền đạo, người môn sinh luôn luôn cần đến sự hướng dẫn của một thiền sư, kể cả trong việc giải thích các bức tranh. Truyền thống Kitô giáo cũng nhìn nhận sự cần thiết của một linh hướng trong hành trình tâm linh, nhưng bên trên vị linh hướng đó còn có những vị Thầy nội tại: đó là Đức Kitô và Thánh Linh.

› ® ¬ ® š

     End Foodnote

 

[2] Cha I. Okumura (op.cit., p.491-492) trưng dẫn vài giáo phụ điển hình bên Đông và bên Tây : Origène, St Grégoire de Nysse, St Ambroise, St Augustin, St Bernard, Guillaume de St Thierry.

[3] Có thiền sư không ngần ngại nói với đệ tử rằng : “Nếu anh gặp đức Phật, thì hãy giết ông đi !”. Dĩ nhiên, thiền sư không khuyến khích đệ tử giết đức Phật, nhưng là giết hình ảnh về đức Phật mà người đệ tử dựng lên trong đầu mình.

[4] Subida, lib.I, c.13 : “Para venir a gustarlo todo, no quieres tener gusto en nada. Para venir a poseerlo todo, no quieras poseer algo en nada. Para venir a serlo todo, no quieras ser algo en nada. Para venir a saberlo todo, no quieras saber algo en nada. Para venir a lo que no gustas, has de ir por donde no gustas. Para venir a lo que no sabes, has de ir por donde no sabes. Para venir a lo que no posees, has de ir por donde no posees. Para venir a lo que no eras, has de ir por donde no eres. Cuando paras en algo, dejas de arrojarte al todo. Porque para venir del todo al todo, has de negarte del todo en todo. Y cuando lo vengas del todo a tener, has de tenerlo sin nada querer. Porque si quieres tener algo en todo, no tienes puro en Dios tu tesoro”.

[5] M. Ballester, Il Cristo, il contadino e il bue. Via zen e via cristiana, Ed. Appunti di Viaggio, Roma 1997.

https://catechesis.net/hanh-trinh-tam-linh-nhu-di-tim-trau/ (cập nhật ngày 11.5.2023)

 

zalo
zalo