Ngày tháng: 25/06/2024
Đang truy cập: 19

Lược Sử Chú Giải Kinh Thánh - Phần 2/3 - Joseph Tân Nguyễn, Ofm

LƯỢC SỬ CHÚ GIẢI KINH THÁNH - Phần 2/3

Joseph Tân Nguyễn, ofm

 

CÁC TÔNG PHỤ VÀ VẤN ĐỀ “BẦU CŨ & RƯỢU MỚI”

NO PHOTO

“Biến cố Kitô” đã để lại những chấn động trên cuộc sống của các môn đệ và các thế hệ Kitô hữu sau đó. Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại sự hăng say, nóng lòng muốn lan truyền cho thế giới về một Thần Khí Mới đang phát sinh nơi cộng đồng những người mới chịu Phép Rửa. Tuy nhiên, sự hăng say này đã mang lại nhiều phản ảnh tiêu cực từ các lãnh đạo Do Thái giáo. Sau khi Giêrusalem bị quân đội Rôma phá hủy, người Do Thái trở nên thù nghịch hơn với các Kitô hữu và đã khai trừ họ ra khỏi hội đường. Nhưng các Kitô hữu vẫn luôn kiên trì, xem lời hứa cứu rỗi của dân Do Thái cũng là lời hứa cho chính mình, và muốn giữ sự liên tục giữa Kinh Thánh và “biến cố Kitô”, vì cả hai cùng đến từ một Thiên Chúa. Có những nhóm Ngộ giáo (Gnostics) quá khích, muốn hoàn toàn loại bỏ “bầu cũ” một khi đã có “rượu mới”, trích xuất các Thư của Phaolô để hỗ trợ cho việc họ lên án linh đạo lề luật Cựu Ước. Đó là chưa kể những cuộc bắt đạo đẫm máu mà Giáo Hội sẽ gánh chịu. Vì thế, sẽ cần thời gian và ơn soi sáng của Thần Khí để tạo một hợp đề “công giáo” thích ứng cho bối cảnh này. Các Tông Phụ tiên phong như Inhaxiô và Barnaba, Marcion và Justinô, cũng như Plôtêmê và Valentinô là những vị tiên phong, nhưng Irênê mới là người đã xây dựng nền tảng linh ứng của Tân Ước với truyền thống của Giáo Hội. Tính vẹn toàn của mặc khải này sẽ là nền tảng cho sự hình thành của thư quy “Tân Ước”.

Các Tông Phụ giải quyết vấn đề vẹn toàn của Lời Chúa

Thời các Tông Phụ, khái niệm “Tân Ước” vẫn còn linh động. Đối với những Kitô hữu gốc Do Thái, “biến cố Kitô” là sự ứng nghiệm của lề luật và ngôn sứ. Nhưng các Kitô hữu gốc Hy Lạp không mang cùng tâm thức lịch sử về “Vượt Qua”, “Xuất Hành”, “Sa Mạc” hay “Đất Hứa” như người Do Thái, cho nên khái niệm “ứng nghiệm” của Cựu Ước không đóng góp gì cho đức tin của họ. Việc tuân giữ lề luật cũng gây tranh cãi giữa các cộng đoàn truyền giáo. Một bên cho rằng: “Đức Giêsu đến để hoàn thiện lề luật. Không một dấu, một vết của lề luật có thể bị bỏ qua” (Mt 5,18). Còn bên kia thì quả quyết: “Đức Giêsu đến để giải thoát chúng ta khỏi lề luật, do đó chúng ta được tự do sống theo Thần Khí và ân sủng” (2 Cr 3,4-6). Giữa hai thái cực này còn có nhóm Ngộ giáo với linh đạo cuồng tín vốn không phù hợp với tính “công giáo” của đạo mới. Với tác phẩm “Tông Đồ Công Vụ”, cộng đồng Kitô hữu bắt đầu gom lại các thư của Phaolô và các Tông Đồ để truyền nhau đọc trong các buổi phụng vụ. Tuy cùng chia sẻ chung một niềm tin rằng “mặc khải Kitô” thì siêu việt hơn mặc khải của Cựu Ước, nhưng vẫn còn đó sự khác biệt về cách kết nối “bầu cũ” với “rượu mới”. Chúng ta sẽ sơ lược qua các quan điểm của một số tông phụ trước khi đi vào nguyên tắc linh ứng dựa trên thẩm quyền của Irênê

Inhaxiô, Barnabas và Marcion

Inhaxiô (c 108) trên đường bị truy điệu về Rôma để chịu án tử hình đã viết bảy lá thư mục vụ khuyên bảo các cộng đoàn Kitô hữu giữ vững đức tin.[1] Qua đó, ngài đã để lại một nguyên tắc quan trọng về việc chú giải Lời Chúa. Một số Kitô hữu tại Philadelphia cho rằng, nếu không tìm thấy “bản văn” Kinh Thánh trong các “Thư” thì chúng không thể thuộc về Tin Mừng. Phản hồi lại thái độ quá lệ thuộc vào Cựu Ước này, Inhaxiô giải thích rằng “Bản Văn” được mặc khải chính là Đức Giêsu Kitô, công cuộc cứu độ và đức tin phát xuất từ Người. Vì Kinh Thánh được viết về Đức Kitô, nên ý nghĩa thư quy phải là hiện thân và là sứ vụ Nước Trời của Người. Như thế, Inhaxiô đã giới thiệu một nguyên tắc linh ứng dựa trên quan điểm Kitô luận.

Nguyên tắc Kitô luận cũng được Barnabas(70-132)[2] dùng để biện phân tính chân thực của “Lời Chúa”, nhưng đã đưa đến kết luận hơi thái quá. Barnabas cho rằng, vì người Do Thái đã hiểu sai những hình bóng về lịch sử ơn cứu độ; do đó, không có lý do gì mà Kitô giáo cần phải viện đến lời giao ước cũ, để giải thích cho ý nghĩa về sự trọn vẹn hay hoàn tất của lời giao ước mới, chính là Đức Kitô. Barnabas muốn cắt đứt mối liên kết giữa hai lời giao ước và cách dùng lịch sử Cựu Ước để minh họa cho mặc khải Kitô giáo.

Marcion (85-160) thuộc phái Ngộ giáo, nhấn mạnh tính đối nghịch giữa lề luật và ân sủng thường được thấy trong các thư mục vụ của Phaolô.[3] Dựa trên quan điểm nhị nguyên này, Marcion phân biệt Thiên Chúa Công Chính (Lề luật và Do thái giáo) với Thiên Chúa Thiện Hảo (Cha của Đức Kitô). Sự mới mẻ của Tin Mừng đã loại bỏ tính thô lỗ hay cục mịch của Cựu Ước. Những nhân vật như Cain, dân thành Sôđom, dân Ai Cập và những kẻ gian tà khác đều đến với Đức Kitô để mong được cứu rỗi; thế nhưng, vì dựa trên sự công chính, họ đã bị loại trừ. Chỉ có ân sủng và đức tin mới cứu độ. Marcion dùng thuyết ân sủng của Phaolô để cắt đứt mối tương quan giữa hai lời giao ước vốn xuất phát từ cùng một Thiên Chúa.

Justinô, Ptôlêmê và Valentinô

Justinô (100-162) là nhà biện giáo đưa đã tạo nền tảng cho quan điểm mặc khải của Giáo Hội sơ khai. Ngài phản đối sự tách biệt giữa Cựu Ước và Tân Ước và cho rằng Thiên Chúa của Cựu Ước cũng là Thiên Chúa của Tân Ước, và chính Người cũng (được mạc khải) là Cha của Đức Kitô. Không có Cựu Ước thì cũng sẽ không có Tân Ước. Tất cả các ngôn sứ trong Cựu Ước lẫn triết gia Hy Lạp đều là chứng nhân cho Thiên Chúa và thuộc cùng một gia tộc Kitô hữu, nhưng với cấp độ mặc khải khác nhau. Có một mối tương quan giữa Lề luật và linh đạo Kitô giáo, cũng như giữa các ngôn sứ và sự mong chờ vào sự hoàn tất của lời tiên tri. Các tổ phụ Do Thái vẫn được cứu rỗi, nhưng không cần phải cắt bì, giữ ngày Sabat hay luật lệ về ăn uống và của lễ hiến tế; bởi vì, hai biến cố cuộc khổ nạn và sự (phục sinh) vinh quang của Đấng Mêsia đã được Cựu Ước tiên báo. Justinô đã ra công bảo tồn Cựu Ước cho Kitô giáo, nhưng cách dùng phương pháp tiên trưng của Justinô hơi lỏng lẻo và khó minh chứng các lời tố cáo rằng một số bản văn nói đến mặc khải Kitô giáo trong Cựu Ước đã bị người Do Thái cắt bỏ.

Một cách liên kết lịch sử khác đến từ Ptôlêmê (100-170)[4] thuộc phái Ngộ giáo. Ptôlêmê cho rằng mặc khải Cựu Ước (lề luật) thì không hoàn toàn do Thiên Chúa mà một số đến từ con người vì nhu cầu đặc biệt của dân Do Thái. Còn “luật tình yêu” trong Tân Ước thì do chính Đức Kitô, Con Thiên Chúa ban cho chúng ta. Luật Thiên Chúa thì hoàn hảo, nhưng cách giải thích chúng thì bất toàn, cần phải hoàn thiện bởi Đấng Cứu Độ, Người đã cải biến thực tại khả giác thành những thực tại thiêng liêng và vô hình. Lề luật Do Thái cần được mặc lấy ý nghĩa thiêng liêng, như thánh Phaolô đã tuyên bố: Đức Kitô, cuộc vượt qua của chúng ta đã hiến tế cho chúng ta” (1 Cr 5,7). Với lý luận này, việc chú giải Kinh Thánh không phải cắt bỏ truyền thống, nhưng cần biện phân các thực tại thiêng liêng và vô hình tiềm tàng trong đó.

Mặt khác, Valentinô (100-180)) đại diện cho giới trung lưu có hiểu biết nhiều về triết lý Hy Lạp [5]. Ông có thái độ cứng rắn hơn về mối tương quan giữa Cựu Ước và Tân Ước khi trích dẫn Gioan 10,8: Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp.” Cựu Ước chỉ là một cuốn sách tầm thường với luật lệ bất cập, mâu thuẫn và đôi khi bất nhân. Thiên Chúa của Do Thái giáo không được giới triết gia Hy Lạp tôn trọng, nhưng thời đó Giáo Hội chưa có cách đáp ứng thích đáng cho vấn đề này. Phaolô và tác giả của “Thư Do Thái” chỉ thỏa mãn nhu cầu cập nhật đức tin cho các tín hữu nội bộ; nhưng cấp bách hơn là nhu cầu cần lý giải đức tin cho những kẻ bên ngoài, nếu Giáo Hội muốn tiếp tục sứ mệnh truyền giáo của mình.

Irênê (130–202): vai trò của thánh truyền và thẩm quyền Giáo hội

NO PHOTO

Irênê, Giám mục người Hy Lạp ở Lyon, đưa ra “nguyên tắc tông truyền” [6] khi giải thích đức tin Kitô giáo cho dân ngoại và vạch trần các sai lầm của Valentinô và Marcion. Trong khi các nhóm Ngộ giáo phân biệt tính thứ cấp của Thiên Chúa Cựu Ước so với Thiên Chúa của Tân Ước, thì Irênê lý luận rằng chỉ có một Thiên Chúa vốn đã mặc khải qua cả hai lời giao ước. Lề luật trong Cựu Ước là thật và đúng cho thời đại của nó, nhưng Thiên Chúa trong Tân Ước đã hài lòng với cách mặc khải mới qua sự hiện diện của Con Thiên Chúa, Đức Kitô. Lề luật hay lời ngôn sứ tự nó không chứa đựng lời giải thích. Nhưng với “biến cố Kitô”, lề luật và lời ngôn sứ được xem như là những báu vật chôn cất từ lâu, nay được khám phá qua Thánh Giá của Đức Kitô và đã được giải thích sau biến cố Phục sinh (x. Lc 24,27). Từ nhãn quan lịch sử tính của mặc khải, Irênê đã tìm một hợp đề mới cho cả hai lời giao ước.

Ngoài ra, Irênê cón vạch ra khuynh hướng “lấy râu ông này gắn cằm bà nọ” khi phái Ngộ giáo ráp nối hình ảnh trong truyện thần thoại Hy Lạp với hình ảnh về Chúa Cha, Thánh Linh và Đấng Nhập Thể. Irênê lên án cách pha trộn những giai thoại Eliad và Odyssey vào Kinh Thánh là tạo nên những đám hỏa mù, che dấu linh đạo mờ ám và bí ẩn của phái Ngộ giáo, và là một sự lừa đối với những kẻ có kiến thức về Homer. Lối chú giải ẩn dụ của Irênê căn cứ trên “quy phạm của đức tin”. Sứ mệnh loan báo Tin Mừng được Thiên Chúa giao phó cho Giáo Hội, do đó chân lý chỉ được tìm thấy nơi Giáo Hội. Triết học có thể cung cấp nhiều cách giải thích đáng tin cậy và cũng đáng hoài nghi; thế nhưng, chân lý thì luôn ở trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Lời giáo huấn của các Tông Đồ, do tính tông truyền của các vị giám mục kế vị, là sự hiểu biết chân chính nhất. Muốn tìm ý nghĩa chân thực của Kinh Thánh, thì hãy đọc Kinh Thánh với các vị giám quản vốn được giáo huấn theo qui luật của đức tin Công giáo.

Như thế, Irênê đã làm nổi bật yếu tố thẩm quyền của truyền thống trong việc chú giải Kinh Thánh. Giáo Hội không tạo nên Tin Mừng, nhưng qua sự linh ứng của Thần Khí, Giáo Hội đã mang Tin Mừng vào sự tồn tại của nó như một bản văn. Tin Mừng là cuốn sách mà Giáo Hội đã chọn giữa các trình thuật về Đấng Sáng Lập và nguồn gốc của chính mình. Do đó, không thể tách biệt thẩm quyền của Giáo Hội ra khỏi việc chú giải Kinh Thánh. Irênê là thần học gia đầu tiên bảo vệ tính linh ứng của Tân Ước trên nền tảng thánh truyền. Bản văn Kinh Thánh không thể tự chú giải chính mình, nhưng chúng ta đọc và giải thích Kinh Thánh cho phù hợp với nhu cầu đức tin của Giáo hội. Chú giải là mang mạc khải Kinh Thánh vào hiện tại bằng ngôn ngữ của mình, và đó chính là sự thể hiện và phát huy tiệm tiến của truyền thống, vốn được tích tụ từ những bài học khôn ngoan qua hành trình sống Lời Chúa. Là một lịch sử phê phán, truyền thống Giáo hội có thẩm quyền trên cách chúng ta chú giải và sống mầu nhiệm đang mạc khải cho chúng ta.

GIÁO HỘI SƠ KHAI CHÚ GIẢI KINH THÁNH CHO DÂN NGOẠI

Ở thế kỷ thứ III, tuy thư quy “Tân Ước” đã được hình thành nhưng việc chú giải Kinh Thánh còn chưa thống nhất trong bối cảnh truyền giáo. Có những giáo hội địa phương xem Tân Ước như một bản văn chứa đầy ẩn dụ, vốn có thể được làm sáng tỏ qua ý nghĩa biểu tượng hay luân lý, như cách triết gia Hy Lạp chú giải các chuyện thần thoại, và xem nhẹ các tình tiết lịch sử quan trọng trong sứ mạng của Đức Giêsu. Có nơi khác thì xem Tân Ước như một sân khấu lịch sử, với kịch bản gồm các chứng cứ được tiên báo từ Cựu Ước để củng cố cho niềm tin về Thần Khí Thiên Chúa đang hoạt động giữa lòng dân ngoại. Phương pháp này có nguy cơ áp đặt ý nghĩa hiện tại và gán lên các bản văn quá khứ những “nhãn hiệu” không phù hợp với bối cảnh gốc của chúng. Vì thế, cần phải có thẩm quyền để bảo đảm cho tính tông truyền và chính thống của Kinh Thánh và tránh các thái độ quá khích của Ngộ giáo thuyết. Theo thời gian, các trường phái chú giải đặc thù được thành hình như Alexandria (ẩn dụ), Antiôkia (tiên trưng) và các Giáo phụ (thánh truyền).

Trường Phái Alexandria: Phương Pháp Ẩn Dụ

NO PHOTO​​​​​​​

Trường phái Alexandria gồm có những nhà trí thức quen thuộc với văn hóa Ai cập và triết học Hy Lạp, vốn xem các ý nghĩa nguyên tự, thiêng liêng, và thần bí như là ba phần của con người, thân xác, linh hồn và thần khí. Đối với họ, vật chất là nguồn gốc của sự dữ và biến cố lịch sử là ẩn dụ về thực tại vĩnh cửu. Phương pháp chú giải ẩn dụ giúp giải thích những đoạn văn khó hiểu, nhưng lịch sử và hành động của Thiên Chúa thường bị lướt qua. Bối cảnh văn hóa - xã hội được xem như vỏ bọc không cần thiết, một khi ý nghĩa của bản văn được nắm bắt.

Philô (20 TCN–40 CN), một triết gia Do Thái, là người đầu tiên dựa trên tu từ học của phái Khắc Kỷ (Stoic) để chú giải các biểu tượng về sự vật hoặc về trách nhiệm luân lý của con người. Các nhân vật trong biến cố “sa ngã” là ẩn dụ về nhục dục (Satan), về thân xác (Evà), và về lý trí (Adam). Phương pháp ẩn dụ giải thích những sự kiện có vẻ mâu thuẫn với kinh nghiệm thường ngày như “tên” của những cây trong vườn Địa Đàng, cây “Sự Sống”, cây “Biết Lành Biết Dữ”, cũng như sự mâu thuẩn khi nói về “ngày đầu” của tạo dựng trong lúc mặt trời hay mặt trăng chưa được tạo nên. Philô để lý luận rằng, lời Kinh Thánh được Thiên Chúa mặc khải cho Do Thái giáo, nhưng nếu được chú giải cách chính chắn thì không khác gì Người đang mạc khải cho dân Hy Lạp qua ẩn dụ. Cách chú giải ẩn dụ chạm đến thực tại thánh thiêng và phổ quát đang ẩn giấu bên dưới ngôn ngữ của Kinh Thánh nhưng cũng được nhóm Ngộ giáo đón nhận rất tích cực. Họ loại bỏ Thiên Chúa của Cựu Ước, và xem việc tạo dựng và lịch sử Do Thái là một sai lầm trầm trọng. Các nhóm Ngộ giáo này tách Đức Giêsu ra khỏi Giáo Hội, và cho rằng con người chìm đắm trong bóng tối tội lỗi và chỉ được cứu rỗi nhờ tri thức bí nhiệm đến từ các tia sáng thần linh.

Thứ đến, Clementê thành Alexandria (150–215) là người đưa phương pháp ẩn dụ của Philô vào Kitô giáo. Clementê cho rằng, tất cả Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ biểu tượng, ký hiệu và hình ảnh bí nhiệm để truyền tải ý nghĩa, không khác gì cách Môsê, Platô, dân Hy Lạp và Ai Cập đã làm. Mọi ý nghĩa của Kinh Thánh đều có thể được khai triển qua nhiều mức độ như: lịch sử, tín lý, ngôn sứ và tiên trưng, triết lý về vũ trụ và tâm linh, cuối cùng là thần bí. Những gì Cựu Ước nói đến Logos, thì cuối cùng đã được ánh sáng Đức Kitô mặc khải trọn vẹn. Một khi đón nhận ánh sáng đó, người tín hữu sẽ hiểu biết thật sự về chân lý cao siêu của Kitô giáo. Đây cũng là một hình thức của phái Ngộ giáo. Tuy nhiên, Clementê không tách mình ra khỏi Giáo Hội mà vẫn duy trì tính hiệp nhất của mặc khải giữa hai lời giao ước. Clementê đã mở rộng tầm nhìn của phương pháp ẩn dụ để quan sát các tôn giáo và văn hóa khác, cũng như để khai triển nền tảng biểu tượng cho Lời Chúa. Thế nhưng, Clementê không phải là một thần học gia đủ khả năng để khai triển các tín điều. Sứ mệnh đó dành cho Origen.

Origen (185–253) mở trường dạy thần học tại Alexandria vả đã dùng phương pháp chú giải ẩn dụ  trong bộ thần học tín lý Các Nguyên Lý (De Principiis). Ông chứng minh tính siêu nhiên của Giáo Hội dựa trên sự kiện Kitô giáo vẫn tiếp tục tồn tại, đúng như lời Đức Kitô đã tiên báo. Hơn nữa, biến cố Kitô đã soi sáng ý nghĩa lời các ngôn sứ và tính thiêng liêng của luật Môsê. Việc ứng nghiệm các sấm ngôn chính là bằng chứng cho tính linh ứng của nó. Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta các “chân lý tri thức”, chứ không phải việc làm của Thiên Chúa trong lịch sử. Lối chú giải theo nghĩa văn tự có thể làm cho chân lý Kinh Thánh bị che lấp; ví dụ: Thiên Chúa rảo bộ trong vườn Địa Đàng, trồng một vườn cây, hay Cain đi ra khỏi mặt của Thiên Chúa. Các mâu thuẫn này cho thấy chân lý của Kinh Thánh không hệ tại trong tính vật chất của chữ viết. Tuy không phải mọi nghĩa văn tự của Kinh Thánh đều là hợp lý, nhưng tất cả ý nghĩa của Kinh Thánh đều mang nghĩa thiêng liêng. Như thế, muốn chú giải các mầu nhiệm chứa đựng trong ngôn ngữ biểu tượng của Kinh Thánh thì cần phải có ân sủng siêu nhiên. Lối chú giải ẩn dụ giúp cho đức tin khỏi rơi vào tình trạng phải chấp nhận tất cả chi tiết của Kinh Thánh theo nghĩa văn tự, và giải thoát việc chú giải khỏi những giới hạn cục bộ của “ứng nghiệm”. Qua cách thiết lập nền tảng chung giữa việc chú giải Kinh Thánh và triết học Hy Lạp, Origen đã xây dựng nền tảng lý tính cho thần học Kitô giáo.

Trường Phái Antiôkia: Phương Pháp Tiên Trưng

NO PHOTO

Trường phái Antiôkia nhấn mạnh đến các biến cố lịch sử và lời ngôn sứ, nhưng không phải để chứng minh tính “ứng nghiệm” của bản văn mà để giải thích cho ý nghĩa của Tân Ước. Họ chú giải Thánh theo cách Phaolô đã dùng thực tại lịch sử của Kinh Thánh để minh họa quan điểm Kitô học của ngài. Nếu Ađam không là Ađam thật sự và không có mặt trong địa đàng, nếu con rắn không phải là con rắn thật, và các sự cố này không có thật, thì sự kiện Ađam bất tuân lời Thiên Chúa, sự chết xâm nhập vào thế gian và ơn cứu độ sẽ trở thành vô nghĩa. Cần phải hiểu đúng là: Khi Tân Ước trích dẫn Cựu Ước như việc Đức Giêsu thốt lên trên Thánh giá (Tv 22,5), hay việc Gioan nhắc lại hình ảnh Môsê giương cao con rắn đồng (Ga 3,14), thì Tân Ước đang nói lên sự tương đồng giữa hai biến cố lịch sử, cho dù cách áp dụng thì khác nhau. Trường phái Antiôkia muốn bảo tồn lịch sử và bối cảnh nguyên thủy của bản văn. Nếu tác giả của Kinh Thánh đã chọn ngôn ngữ, ký hiệu, biểu tượng và dụ ngôn để tạo nên ý nghĩa cho thế giới họ đang sống, thì chúng ta không thể cắt bỏ các thực tại đó, cũng như không thể để mình bị lôi kéo vào thế giới ảo ảnh nào khác.

Trước tiên, Thêođorê (350–428) thành Mopsuestia,[7] khẳng định rằng khi Kinh Thánh mô tả sự kiện lịch sử, thì Kinh Thánh cũng cho thấy nhãn quan linh ứng và nguyên tắc Kitô luận đứng đằng sau. Do đó, bản văn nào mà không chứa đựng các yếu tố ngôn sứ hoặc lịch sử cứu độ (Diễm Ca, Gióp) thì cần phải loại ra khỏi “thư quy”. Quan điểm “lịch sử” này được áp dụng vào tính linh ứng của Tân Ước khi Thêođorê giải thích rằng Tân Ước chưa hoàn toàn khẳng định thần tính của Đức Kitô, vì Thánh Thần chưa ngự xuống các Tông Đồ. Trước biến cố Hiện Xuống, Đức Giêsu chỉ được gọi là “Con Thiên Chúa” như các sứ giả khác của Thiên Chúa. Phản ứng của Tôma, Lạy Chúa, lạy Chúa tôi(Ga 20,28) chỉ là một sự ngạc nhiên vì phép lạ xảy ra chứ không phải là một tuyên xưng đức tin. Tuy nhiên, quan điểm “lịch sử” của Thêođorê thì quá hạn hẹp và bị nhóm dị giáo Nestôriô lạm dụng. Điều này dẫn đến sự kiện tác phẩm của ông bị thiêu hủy tại Công Đồng Constantinôp II (553). Tuy nhiên, nguyên tắc lịch sử và linh ứng này đã để lại âm vang trong các cẩm nang chú giải và công trình sáng tác của trường phái Antiôkia.

Kế tiếp, Gioan Kim Khẩu (340–407), Tổng Giám Mục thành Constantinôp, đã giải thích khái niệm “linh ứng” một cách hệ thống hơn. Ông cho rằng không có chìa khóa bí ẩn hay ý nghĩa sâu xa nào, ngoài những sự kiện lịch sử về Đức Kitô vốn đã được báo trước qua các biến cố trong Cựu Ước. Đức Giêsu chính là hiện thân của Đấng Thiên Sai đã được tiên báo trước đây, và cho thấy rõ nhân tính và thần tính đại của Cựu Ước và Tân Ước. Lối chú giải này muốn bảo vệ tính vẹn toán của lịch sử Do Thái, cùng với chiếc áo mới mà Kitô giáo đã mặc lên nó. Gioan Kim Khẩu phân biệt giữa “tên gọi” của chân lý và chân lý tự thân. Một họa sĩ có thể phác họa những đường nét tinh hoa về hình ảnh (tên gọi) của nhà Vua trước khi tô màu vào đó, nhưng, cho khi nhà Vua thật sự xuất hiện, chúng ta sẽ bái phục nhà Vua chứ không phải bái phục bức hình. Một khi chân lý xuất hiện thì “tên gọi” không cần nữa, Như thế, cách Gioan Kim Khẩu kết nối lịch sử tính với phương pháp chú giải tiên trưng đã giới thiệu bản chất “loại suy” của ngôn ngữ Kinh Thánh.

Cuối cùng, Giêrônimô đã mở rộng trường phái Antiôkia qua công trình chuyển dịch và chú giải Kinh Thánh “Vulgata” (Bản Phổ Thông).[8] Lúc đầu, Giêrônimô dùng phương pháp “ẩn dụ” của Origen; nhưng qua cách bình phẩm lịch sử của Apollinariô thành Laođikêa, ngài nhận ra rằng muốn hiểu biết sâu sắc về Kinh Thánh thì cần chú tâm đến những ý nghĩa thiêng liêng dựa trên lịch sử của các bản văn. Ý nghĩa thiêng liêng thì vượt trên ý nghĩa thể lý, nhưng không bao giờ loại trừ nó. Phương pháp bình phẩm này được áp dụng qua các cẩm nang chú giải của Ađrianô [9]Junilius Africanus [10]. Họ liệt kê các thành ngữ giúp nhận diện hình thức của những bản văn ngôn sứ và lịch sử, cũng như dùng triết học của Aristote để giải thích cho phương pháp tiên trưng. Tuy quan điểm chú giải lịch sử của trường phái Antiôkia còn đơn sơ và thiếu phê phán, nhưng sự nhấn mạnh vào bình phẩm lịch sử đã để lại ảnh hưởng lên thần học Kitô giáo thời Trung Cổ và Kinh Viện.

Các Giáo Phụ: Nguyên Tắc “Tông Truyền”

Sự kiện có những quan điểm quá khích của các nhóm dị giáo đã đưa đến ý thức rằng chú giải Kinh Thánh không chỉ là khai triển các mức độ ý nghĩa của bản văn, mà còn tham dự vào công cuộc bảo vệ tính hiệp nhất và tông truyền của Giáo Hội. Từ đó, vai trò của thẩm quyền trở thành tất yếu trong việc xác định phạm vi của việc chú giải cũng như các phạm trù tín lý cho thần học. Tertulianô, một luật sư xuất thân từ Carthagô ở thể kỷ III,[11] phản đối quyền tham dự các buổi tranh luận về Kinh Thánh của các nhóm dị giáo vì họ đã gây ấn tượng tiêu cực trên các tín hữu, làm cho những kẻ có đức tin đơn sơ và yếu lòng bị hoang mang. Ông cho rằng cần phải thẳng tay trừng trị các nhóm này, vì chúng làm băng hoại đời sống Giáo Hội vốn là nơi mà đức tin chân chính, cách chú giải trung thực, và tính tông truyền của thẩm quyền được tìm thấy. Tertulianô đưa ra trên ba lập luận: (1) Đức Kitô đến rao giảng chân lý để mặc khải về Thiên Chúa; (2) Đức Giêsu trao phó chân lý này cho các Tông Đồ; và (3) Các Tông Đồ đã thiết lập Giáo Hội và truyền lại mặc khải đó. Do đó, Kinh Thánh thuộc về Giáo Hội và các nhóm dị giáo chỉ là kẻ gian gieo hạt giống cỏ xấu vào ruộng lúa của ông chủ và trích dẫn Kinh Thánh để biện minh cho mục đích riêng của họ. Tertulianô lên án Marcion, Valentinô và Apelles đã “chặt trộm cây”, “hái trộm quả”, “chuyển dòng nước” trong vườn của Giáo Hội, nơi mà họ đã không ra sức vun trồng và không có quyền sở hữu. Tertulianô cũng chỉ trích cách Origen dùng triết học vốn là mẹ của mọi tư tưởng dị giáo để chú giải Kinh Thánh.

Ở thế kỷ thứ IV, có hai giáo phụ khác cũng đã lên tiếng bảo vệ yếu tố thẩm quyền. Methodius (311), một Giám Mục ở Olympus,[12] dùng triết lý Platô để bảo đảm cho ý nghĩa thiêng liêng của Kinh Thánh. Methodius cho rằng cần phải khám phá chiều sâu và chiều rộng của “tư duy của Kinh Thánh”, nếu không thì người chú giải rất có thể đang rơi vào tình trạng xây một tháp canh lở dở (Lc 14,28) như trong tư tưởng của các nhóm dị giáo. Vincentê, một Đan sĩ ở Lerinum,[13] giải thích thêm rằng, chỉ có một Tân Ước và được lưu truyền qua Giáo Hội, không thể bị chia cắt ra từng mảng bởi các cách chú giải của phái Ngộ giáo. Kitô giáo tuy có sự phát triển và trưởng thành như một chi thể, nhưng vẫn là một trong sự hiệp nhất của nó. Nếu có sự hoài nghi về chú giải Kinh Thánh, thì hãy xin ý kiến của những bậc khôn ngoan và hữu trách. Thẩm quyền của Giáo Hội đến từ tính phổ quát của mặc khải, mở rộng tầm nhìn đức tin cho tất cả mọi người từ các góc độ nhập thể và cánh chung.

 

     Chú thích:

[1] https://www.ccel.org/ccel/lake/fathers2.html

[2] https://en.wikipedia.org/wiki/Epistle_of_Barnabas

[3]https://pursuingveritas.com/2015/05/19/the-marcion-problem-irenaeus/

[4] https://www.biblestudytools.com/dictionary/ptolemaeus/

[5] https://www.britannica.com/biography/Valentinus

[6] “Về cách nhận diện và đả phá các tri thức ngụy biện” (180 CN),

[7] https://en.wikipedia.org/wiki/Theodore_of_Mopsuestia

[8] https://en.wikipedia.org/wiki/Jerome

[9] Ađrianô xuất bản cuốn Dẫn vào Kinh Thánh (Introduction to the Divine Scripture, 425),

[10] Cuốn Cẩm Nang Quy Phạm về Thiên Luật (Regulative Institute of Divine Law, 550) của Junilius Africanus

[11] https://en.wikipedia.org/wiki/Tertullian

[12] https://en.wikipedia.org/wiki/Methodius_of_Olympus

[13] https://en.wikipedia.org/wiki/Vincent_of_L%C3%A9rins

---Còn tiếp---

zalo
zalo