Ngày tháng: 25/06/2024
Đang truy cập: 13

PHƯƠNG PHÁP THẦN HỌC TÍN LÝ - Phần 20/23 - Lm. Paul Ngô Đình Sĩ

PHƯƠNG PHÁP THẦN HỌC TÍN LÝ - Phần 20/23

Lm. Paul Ngô Đình Sĩ

-----------------------------

CHƯƠNG 7: DẪN NHẬP VÀ KẾT LUẬN

II. Viết Kết luận

2. Nội dung

a. Trả lời câu hỏi nghiên cứu

Phần kết luận nên bắt đầu từ câu hỏi chính mà luận văn muốn giải quyết. Đây là cơ hội cuối cùng để thể hiện rằng bạn đã hoàn thành những gì mình đặt ra, vì vậy hãy đảm bảo xây dựng một câu trả lời rõ ràng, ngắn gọn.

- Đừng lặp lại danh sách tất cả các kết quả mà bạn đã nghiên cứu, nhưng hãy tổng hợp chúng thành một bài học cuối cùng mà người đọc sẽ ghi nhớ.

- Đối với tiểu luận nghiên cứu một vấn đề thực tế bằng nghiên cứu thực nghiệm, các bạn bắt đầu bằng cách nhắc lại mục đích nghiên cứu trên lãnh vực đó.

- Trong luận án đặt ra lập luận lý thuyết dựa trên phân tích các nghiên cứu điển hình, mục đích nghiên cứu không được trình bày lại trực tiếp, nhưng được ngầm hiểu trong tuyên bố. Để tránh lặp lại, các bạn hình thành lại mục tiêu và câu hỏi thành một tuyên bố tổng thể về những gì bạn đã làm và cách bạn đã làm.

b. Tổng hợp và phản ánh

Phần kết luận là cơ hội để nhắc nhở người đọc lý do tại sao bạn đã thực hiện phương pháp mà bạn đã làm, những gì bạn mong đợi sẽ tìm thấy và kết quả phù hợp với mong đợi của bạn như thế nào.

- Để tránh lặp lại, thay vì chỉ viết tóm tắt từng chương, bạn có thể tổng hợp tại đây. Bạn có thể cân nhắc mức độ hiệu quả của phương pháp luận trong việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu và liệu có bất kỳ câu hỏi mới hoặc thông tin chi tiết bất ngờ nào nảy sinh trong quá trình này hay không.

- Bạn cũng có thể đề cập đến bất kỳ giới hạn nào trong nghiên cứu của mình nếu bạn chưa đưa những giới hạn này vào cuộc thảo luận. Tuy nhiên, đừng nói nhiều về các vấn đề này - hãy tập trung vào những mặt tích cực của công việc hoàn thành.

c. Khuyến nghị

Bạn có thể đã đưa ra các khuyến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai trong cuộc thảo luận, nhưng phần kết luận là một nơi tốt để xây dựng và nhìn về phía trước, xem xét ý nghĩa của những phát hiện của bạn đối với lý thuyết và thực tiễn.

- Ví dụ:

Dựa trên những kết luận này, các học viên nên xem xét…

Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của những kết quả này, các nghiên cứu trong tương lai có thể giải quyết…

Nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để xác định nguyên nhân / ảnh hưởng của / mối quan hệ giữa…

- Tránh phóng đại khả năng áp dụng của nghiên cứu của bạn. Nếu bạn đang đưa ra các đề xuất cho mục vụ kinh doanh hoặc triển khai thực tế khác, thông thường tốt nhất bạn nên đóng khung chúng dưới dạng đề xuất thay vì mệnh lệnh - mục đích của nghiên cứu học thuật là thông báo, giải thích và khám phá, không phải để áp đặt.

- Nếu bạn đang đưa ra các đề xuất để nghiên cứu thêm, hãy đảm bảo không phá hoại công việc của chính bạn. Các nghiên cứu trong tương lai có thể xác nhận, xây dựng hoặc làm phong phú thêm kết luận của bạn, nhưng không cần thiết phải hoàn thành chúng.

d. Nhấn mạnh những đóng góp của bạn

- Bạn quay trở lại luận đề của luận văn để giải thích cách nghiên cứu giúp giải quyết vấn đề.

- Một lần nữa, hãy cố gắng tránh lặp lại những gì bạn đã đề cập trong lập luận của luận văn. Chọn ra những điểm quan trọng nhất và tổng hợp lại bằng một cái nhìn tổng quan ngắn gọn, đặt thành quả trong bối cảnh rộng lớn hơn.

3. Phương pháp

a. Mặt tích cực

- Hãy bắt đầu từ một kết luận nhỏ (tùy chọn). Đây có thể là một gợi ý để độc giả biết mình đang kết thúc bài tiểu luận, và họ nên chú ý. Có rất nhiều bài tiểu luận bắt đầu đoạn kết với một từ nối, cách này khá đơn giản.

Các bạn nên tránh lạm dụng các cụm từ “kết luận”, “tóm lại” hoặc “để kết thúc”. Bởi vì chúng được sử dụng quá thường xuyên nên trở nên khô cứng và sáo rỗng.

- Tóm gọn một số điểm chính. Hãy thử lấy câu đầu tiên của các đoạn phần thân bài (câu chủ đề) và viết lại thành một đoạn 2 hay 3 câu tóm tắt được những điểm chính. Việc này sẽ củng cố lập luận, nhắc độc giả về vấn đề được đề cập trong tiểu luận.

Tránh tóm tắt luận điểm giống hệt phần trên. Ban giám khảo đã đọc toàn bộ tiểu luận. Các bạn không nhất thiết phải nhắc lại từng luận điểm một.

- Viết ngắn gọn và súc tích. Không có quy tắc cứng nhắc nào quy định phần kết luận phải dài bao nhiêu trang, nhưng đối với tiểu luận, bạn chỉ nên viết phần kết luận dài 5 đến 7 trang. Nếu ngắn hơn thì chưa tóm tắt đủ luận điểm, còn nhiều hơn nghĩa là huyên thuyên hơi nhiều.

- Nhớ nhắc lại luận đề của tiểu luận ở phần kết luận. Nếu khi đọc đến phần kết luận nhưng vẫn không biết các bạn đã giải quyết vấn đề dựa trên luận đề như thế nào, thì vẫn chưa thành công.

Hãy tìm một cách mới mẻ để nhắc lại luận đề, sử dụng cách viết khác chẳng hạn. Tái khẳng định luận đề nhưng vẫn dùng cách diễn đạt trước đó sẽ làm độc giả nhàm chán và không cung cấp được cái nhìn mới trong lập luận.

b. Mặt tiêu cực

- Đừng chỉ tái khẳng định luận đề. Một vấn đề thường gặp ở phần kết luận là mọi người chỉ tái khẳng định luận điểm theo cách thông thường và tóm tắt lại những gì đã trình bày. Việc này không tạo lý do chính đáng để độc giả đọc phần kết luận vì họ đã biết trước những gì bạn định viết.

Thay vào đó, hãy đưa độc giả lên “một tầm cao mới” trong phần kết luận, hoặc cung cấp một số thông tin khác về ý tưởng ban đầu.

- Không nên trích dẫn. Thông thường bạn không cần trích dẫn hay phân tích ở phần kết luận - hãy làm thế ở phần thân bài. Kết luận là phần đúc kết mọi thứ, không phải là phần giới thiệu thông tin mới.

- Không dùng ngôn từ rườm rà. Đừng dùng quá nhiều từ ngữ bay bổng trong kết luận. Bạn muốn phần kết luận phải đọc được và cũng dễ hiểu, không cứng nhắc và nhàm chán. Tốt hơn nên dùng ngôn ngữ rõ ràng, súc tích thay vì viết vòng vo với quá nhiều từ dài dòng.

Không dùng "Thứ nhất", "Thứ hai", "Thứ ba", v.v để đánh dấu luận điểm. Hãy làm rõ bạn đang nói về vấn đề gì và có bao nhiêu luận điểm.

- Không thêm thông tin mới vào kết luận. Giờ không phải lúc để giới thiệu ý tưởng hay nội dung mới. Điều này sẽ làm mất tập trung vào phần lập luận ban đầu và làm người đọc nhầm lẫn. Đừng làm mọi thứ rối tung, hãy viết về nội dung và luận điểm mà bạn nghĩ tới sau khi tiến hành công đoạn phân tích cần thiết.

- Đừng tập trung vào một điểm nhỏ hay một vấn đề không quan trọng trong tiểu luận. Phần kết luận không phải là nơi để nêu lại một chủ đề nhỏ của tiểu luận. Trên thực tế, đây là lúc để khái quát lại toàn bộ nội dung. Đảm bảo rằng tiểu luận đã tập trung vào luận đề, không đi lệch theo một hướng.

4. Ví dụ

JESUS AND WORK: THE ROLE OF WORK AND VOCATION IN THE GOSPELS by David Stiles[25]

As noted previously, the OT generally contains four types of passages regarding human work, providing a helpful understanding and framework for a Theology of Work.

------------

Passages in the OT describe:

work as a gift and blessing to mankind as God’s sovereign provision for humanity

work as toil, as God’s sovereign punishment as a result of the Fall

God’s deliverance from toil

work as service to God

One might ask, therefore, “Do the Gospels present a similar theology of work compared with the Old Testament or something different?” I would argue that the theology of work presented in the Gospels retain the same categories as the OT but also have some very important distinctions because of the NT revelation regarding Jesus Christ.

The following diagram displays this understanding of work in light of NT revelation:

Figure 2 – A Theology of Work in the Gospels

Lordship of Christ

 

Provision                                         Punishment

                                                                á                          

         Blessing       <----------------------------|---------------------------->         Toil

                                                                â                        

Service to the Lord                         Deliverance

Christ the Redeemer

One very important element regarding work in the OT is Lordship. The OT emphasized that God should be served as Lord and similarly, in the Gospels, Jesus emphasized that His Father should be served as Lord, explaining, “Worship the Lord your God and serve him only” (Luke 4:8).

One very important revelation from the Gospels, however, is that Jesus is Lord. [1] The Gospels declare that it is Christ who should be served, and that all aspects of life come under His authority, rule and reign. Included in His all-encompassing Lordship, therefore, is work – all work comes under the Lordship of Christ and is subject to Him.

This Lordship theology is important not just for a theology of work, but for all Christian theology. As Jurgen Moltmann explains, for theology to be Christian, it must be cruciform:

[The] crucified Christ (is) the specific thing about Christian theology, both as regards its identity and as regards its relevance…All theological statements point to him, from the doctrine of creation to eschatology, and from the doctrine of the Trinity to the doctrine of sin [2].

Moltmann continues by asserting that “all work is a participation in the lordship of Christ in the world [3].” In distinction from this view, I would rephrase this as: “all work is under the Lordship of Christ,” since Moltmann’s word participation seems to indicate that all humans are cognitively serving Christ in their work. One important aspect of Christ’s Lordship is that nothing else should be worshipped. Christ is the supreme Lord and King and nothing (including human work) should supersede His Lordship in the hearts and minds of humans. In the Gospels Jesus explained this in terms of money (Matt. 6:24) and rebuked Martha when she was working instead of being with Him (Luke 10:41), likewise God rebuked Peter at the Transfiguration when he attempted to build a shelter instead of worshipping Christ (Mark 9:5). Osborn notes work’s proper place as he states, “Insofar as human work is secondary to God’s work, it cannot be made into a fetish or an idol…. In biblical terms, making secondary matters primary is idolatry, and it is strictly prohibited.”[4]

Work as God’s Provision

The Gospels affirm the OT view that God is our Sustainer and present work as a means for God’s provision. For example, when a coin is needed for taxes, Jesus had Peter use his vocation (as as fisherman) to see God provide the coin (Matt. 17:27).

Even in the midst of sin, work continues to yield results because of God’s goodness and blessing. Osborn observes, “our work is given by God as the gracious occasion for the realization of the human life God has created for us.” [5] West (who summarizes Barth’s view of work) also makes this point: “As God is the Sustainer of creaturely existence he cares for its continuance, and human work can correspond to the divine care.” [6]

Although it might be embarrassing for moderns to think that we need help, the Gospels firmly declare that we do. Jesus spoke frequently about the Lord’s provision and that humans have no need to worry because He and His Father are faithful (Matt. 6:25ff.). According to Osborn,

Jesus’ point (in Matthew 6) is not that we are not to toil, spin, or gather into barns, but that we are not to do so anxiously, as if there were no heavenly parent working for us, to give us life [7].

Thus, as God’s children, we can look to God’s provision in our work.

Toil as the Result of Sin

The Gospels also affirm the OT view that work is a reflection of the fall. Just as the OT described sinful behaviors surrounding work, so do the Gospels – for example in their descriptions of religious leaders, the Gospels explain that the scribes and Chief Priests sought to kill Christ after He made messianic claims. Similarly, Judas Iscariot made money by betraying Christ (Matt. 26:14ff).

The Gospels describe several implications to human sinfulness in relation to work, including anxiety, fear and unrealized Kingdom expectations.

As noted, Jesus spoke to the fact that many people encounter feelings of anxiety and fear (Matt. 6:25). Osborn explains that this happens when we live and work in denial of God. He clarifies, “when sin denies God, our work becomes burdened with the responsibility of which God alone is capable…. (it is) not free and hopeful work, but anxious and burdensome labor” [8].

In addition, because of the current condition of sin (and because of God’s sovereign will), God’s Kingdom is not fully realized on earth. Jesus taught His disciples to pray: “your kingdom come, your will be done on earth as it is in Heaven” (Matt 6:10).Althaus observes, “To be a Christian is both to have and at the same time not to have, to be and at the same time not yet to be.” [9] Thus, we are living and working in an interim period, before a final fullness and realization of God’s Kingdom. As Robert Hovda notes,

The groaning and travail that is the tension between the vision of God’s realm and the status quo in which we live is the Christian life, the site of worship, the arena of work. To be part of a world still in process and in whose transformation we have a role to play – this is our covenant call. Not to worry about tomorrow. Today is where we are. And even though we cannot wait to live and act until the ultimate consensus, its process guides our baby steps, and our day-to-day decisions are provisional, imperfect, worshipful, with all the modesty that becomes the faith community in general and its leaders in particular [10].

Thus, because of sin our work will be marked with the difficulty of living between two kingdoms.

Redemption

As noted earlier, some passages in the OT refer in vague terms to God’s deliverance from toil. In the Gospels, however, we learn specifically that it is Christ who will redeem His people.

Although it might not be obvious, one important element to redemption is that there must be something to redeem. Volf observes that this fact is an important element to one’s view of work (and a theology of work). At the core are eschatological assumptions (i.e. Does one see a continuity or discontinuity between the present age and the future age?) Volf explains,

The ultimate significance of human work depends on the answer to this question. If the world will be annihilated and a new one create ex nihilo then our mundane work has only earthly significance for the well-being of the worker…(thus) human work is devoid of ultimate significance (except in the sense of being a school for the purification of the soul in preparation for heavenly bliss.) [11].

On the other hand, Volf notes, if one believes that the world will be transformed and not destroyed, then “human work is of eternal significance” as “nothing is wasted” and human work “will be cleansed from impurity, perfected and transfigured to become part of God’s new creation.” [12]

Jesus’ prayer for the coming kingdom (Matt. 6:10, 33; Luke 11:2) and the promise of inheriting “the earth” (Matt. 5:5), according to Volf,

is a prayer for God’s rule over all the earth and seeking the kingdom…desiring the final coming of his rule on earth….the ‘earth’ mentioned in the promise of inheriting the earth given to the meek, can only refer to the earthly locale of God’s kingdom. In the eschaton, the resurrected people of God will inhabit the renewed earth.” [13]

Service to the Lord

Lastly, like the OT, the Gospels affirm the view that work is service to God. Luke, for example, explains that Jesus and the disciples were financially assisted by women “who were helping to support them out of their own means” (Luke 8:3). These women, who apparently were wealthy were serving Christ and the disciples with their finances. Christ also affirmed this view throughout His teaching, and used vocational language in encouraging His followers to pray to “the Lord of the harvest” to “send out workers into his harvest field” (Matt. 9:37-38).

Shoemaker writes, “As Christians, we are not called to leave behind us the body, money, work, amusements, statecraft: we are called upon to redeem these things by using them for God.” [14]

Conclusion

Although many scholars have asserted that little can be learned about work and vocation in the Gospels [15], as evidenced by this thesis there are many elements regarding the work of Christ and of humans that are described in the Gospels – important topics that call for further reflection and even deeper examination.

Soli Dei Gloria.

______________

1. C.f., Matt. 12:8; 15:25; 17:4; 18:21 in which the disciples consistently called Jesus “Lord”. 2. Jurgen Moltmann, The Future of Creation, trans. Margaret Kohl, (Philadelphia: Fortress, 1979), 60.

3. Ibid., 45.

4. Osborn, 31.

5. Ibid., 30.

6. Philip West, “Karl Barth’s Theology of Work”, 13. C.f., Barth, Church Dogmatics, III:516.

7. Osborn, 30.

8. Ibid., 40.

9. Paul Althaus, The Theology of Martin Luther (Philadelphia: Fortress, 1966), 404.

10. Robert W. Hovda, “Amen Corner: A Labor Day Reflection on Work and Worship”, Worship 61, (Sept. 1987): 457.

11. Miroslav Volf, “Human Work, Divine Spirit and New Creation: Toward a Pneumatological Understanding of Work,” Pneuma 9 (1987), 175.

12. Ibid., 176. C.f., F. F. Bruce, The Epistle of Paul to the Romans (Grand Rapids: Eerdmans, 1963), 170.

13. Ibid., 175-176.

14. Samuel A. Shoemaker, “Working for Christ on the Job” Christianity Today 1 (June 10, 1957): 14.

15. See specifically page 2 and 3 of this thesis

----------------------------------

ghi chú:

[25] https://rts.edu/wp-content/uploads/2019/05/201111-Stiles-David.pdf. Tham khảo ngày 30/07/2021.

---------------------------

---Còn tiếp---

zalo
zalo